<?xml version="1.0" encoding="UTF-8"?><rss version="2.0"
	xmlns:content="http://purl.org/rss/1.0/modules/content/"
	xmlns:wfw="http://wellformedweb.org/CommentAPI/"
	xmlns:dc="http://purl.org/dc/elements/1.1/"
	xmlns:atom="http://www.w3.org/2005/Atom"
	xmlns:sy="http://purl.org/rss/1.0/modules/syndication/"
	xmlns:slash="http://purl.org/rss/1.0/modules/slash/"
	>

<channel>
	<title>Kinh tạng</title>
	<atom:link href="https://phatgiaovinhphuc.vn/category/kinh-tang/feed/" rel="self" type="application/rss+xml" />
	<link>https://phatgiaovinhphuc.vn</link>
	<description></description>
	<lastBuildDate>Sat, 06 Sep 2025 08:41:38 +0000</lastBuildDate>
	<language>vi</language>
	<sy:updatePeriod>
	hourly	</sy:updatePeriod>
	<sy:updateFrequency>
	1	</sy:updateFrequency>
	<generator>https://wordpress.org/?v=6.8.3</generator>

<image>
	<url>https://phatgiaovinhphuc.vn/wp-content/uploads/2024/10/cropped-Logo-Giao-hoi-Phat-Giao-VN-1-1-32x32.jpg</url>
	<title>Kinh tạng</title>
	<link>https://phatgiaovinhphuc.vn</link>
	<width>32</width>
	<height>32</height>
</image> 
	<item>
		<title>Bốn nguồn sanh phước</title>
		<link>https://phatgiaovinhphuc.vn/2025/09/06/bon-nguon-sanh-phuoc/</link>
		
		<dc:creator><![CDATA[trast1]]></dc:creator>
		<pubDate>Sat, 06 Sep 2025 08:41:38 +0000</pubDate>
				<category><![CDATA[Kinh tạng]]></category>
		<guid isPermaLink="false">https://phatgiaovinhphuc.vn/?p=4091</guid>

					<description><![CDATA[Tỳ-kheo&#160;phước báu bốn nguồn&#160;Sanh thiện, hạnh phúc, tịnh thường… an vui. Thứ nhất&#160;– Thành tựu Phật ngôi Tịnh tín bất động, phụng thờ kính tin Mười hiệu vô thượng tâm linh Điều Ngự, Ứng Cúng… chí thành ngưỡng tôn! Thứ hai&#160;– Vi diệu pháp môn Thành tựu tịnh tín… tâm hồn thảnh thơi Sanh thiện, [...]]]></description>
										<content:encoded><![CDATA[


<p><em>Tỳ-kheo&nbsp;<strong>phước báu bốn nguồn</strong>&nbsp;Sanh thiện, hạnh phúc, tịnh thường… an vui.</em></p>



<p><strong><em>Thứ nhất</em></strong><em>&nbsp;– Thành tựu Phật ngôi Tịnh tín bất động, phụng thờ kính tin Mười hiệu vô thượng tâm linh Điều Ngự, Ứng Cúng… chí thành ngưỡng tôn!</em></p>



<p><strong><em>Thứ hai</em></strong><em>&nbsp;– Vi diệu pháp môn Thành tựu tịnh tín… tâm hồn thảnh thơi Sanh thiện, hạnh phúc đời đời Pháp bảo bất động hướng nơi an hòa.</em></p>



<p><strong><em>Thứ ba</em></strong><em>&nbsp;– Phúc thọ Tăng-già Thiện hạnh, trực hạnh… báu tòa sen thiêng Ứng lý, chánh hạnh pháp duyên Cung kính đảnh lễ nhiệm huyền nhân gian.</em></p>



<p><strong><em>Thứ tư</em></strong><em>&nbsp;– Giới đức huy hoàng Bậc Thánh ái kính đạo tràng trang nghiêm Không uế nhiễm, không não phiền Người trí tán thán… định thiền phước sanh.</em></p>



<p>____________</p>



<p>(ĐTKVN,&nbsp;<em>Kinh</em>&nbsp;<em>Tăng chi bộ I</em>, chương 4, phẩm Nguồn sanh phước)</p>



<p><em>(NSGN 351)</em></p>



<p><strong>Trần Quê Hương/Nguyệt san Giác Ngộ</strong></p>
]]></content:encoded>
					
		
		
			</item>
		<item>
		<title>Kinh Công Đức Tắm Phật</title>
		<link>https://phatgiaovinhphuc.vn/2025/04/12/kinh-cong-duc-tam-phat/</link>
		
		<dc:creator><![CDATA[trast1]]></dc:creator>
		<pubDate>Sat, 12 Apr 2025 08:40:35 +0000</pubDate>
				<category><![CDATA[Kinh tạng]]></category>
		<guid isPermaLink="false">https://phatgiaovinhphuc.vn/?p=3225</guid>

					<description><![CDATA[Hán dịch: Sa-môn Thích Nghĩa Tịnh đời Đường. Việt dịch: Tại gia Bồ-Tát giới Ưu-bà-tắc Tôi nghe như vầy: Một thuở nọ, Đức Bạc-già-phạm ở trên đỉnh núi Linh Thứu gần thành Vương Xá, cùng câu hội với 1.250 chúng đại Tỳ-kheo. Lại có vô lượng vô biên chư đại Bồ-Tát và thiên long bát [...]]]></description>
										<content:encoded><![CDATA[


<p>Hán dịch: Sa-môn Thích Nghĩa Tịnh đời Đường. Việt dịch: Tại gia Bồ-Tát giới Ưu-bà-tắc </p>



<p>Tôi nghe như vầy: Một thuở nọ, Đức Bạc-già-phạm ở trên đỉnh núi Linh Thứu gần thành Vương Xá, cùng câu hội với 1.250 chúng đại Tỳ-kheo. Lại có vô lượng vô biên chư đại Bồ-Tát và thiên long bát bộ thảy đều đến vân tập.Lúc bấy giờ Thanh Tịnh Tuệ Bồ-Tát đang ngồi ở trong đại chúng. Vì thương xót các chúng sanh, ngài tư duy như vầy:&#8221;Do bởi nhân duyên gì mà chư Phật Như Lai được thân thanh tịnh và đầy đủ tướng tốt?&#8221;Lại nghĩ như vầy:&#8221;Tất cả chúng sanh khi gặp Như Lai và thân cận cúng dường, họ sẽ được vô lượng vô biên phước báo. Tuy nhiên, ta vẫn không biết sau khi Như Lai nhập Bát-niết-bàn, chúng sanh phải cúng dường như thế nào và tu công đức ra sao để khiến căn lành của họ mau có thể đạt tới cứu cánh vô thượng Bồ-đề?&#8221;Khi nghĩ như thế xong, ngài liền từ chỗ ngồi đứng dậy, trịch áo lộ vai phải, đảnh lễ dưới chân Phật, rồi quỳ hai gối, chắp tay, và bạch Phật rằng:&#8221;Bạch Thế Tôn! Con có việc muốn thỉnh vấn, kính mong Như Lai cho phép.&#8221;Đức Phật bảo:&#8221;Này thiện nam tử! Ông hãy cứ hỏi. Ta sẽ tùy theo điều ông hỏi mà thuyết giảng cho.&#8221; Lúc bấy giờ Thanh Tịnh Tuệ Bồ-Tát bạch Phật rằng:&#8221;Chư Phật Như Lai, Ứng Cúng, Chánh Đẳng Chánh Giác, do bởi nhân duyên gì mà được thân thanh tịnh và đầy đủ tướng tốt?Lại nữa, tất cả chúng sanh khi gặp Như Lai và thân cận cúng dường, họ sẽ được vô lượng vô biên phước báo. Tuy nhiên, con vẫn không biết sau khi Như Lai nhập Bát-niết-bàn, chúng sanh phải cúng dường như thế nào và tu công đức ra sao để khiến căn lành của họ mau có thể đạt tới cứu cánh vô thượng Bồ-đề?&#8221;Lúc bấy giờ Đức Thế Tôn bảo Thanh Tịnh Tuệ Bồ-Tát:&#8221;Lành thay, lành thay! Ông vì chúng sanh đời vị lai mà có thể hỏi Ta việc như thế. Ông nay lắng nghe, hãy khéo tư duy, và thực hành theo lời Phật dạy. Ta sẽ vì ông phân biệt giảng giải.&#8221; Thanh Tịnh Tuệ Bồ-Tát thưa rằng:&#8221;Dạ vâng, thưa Thế Tôn! Con vui thích muốn nghe.&#8221;Phật bảo Thanh Tịnh Tuệ Bồ-Tát:&#8221;Này thiện nam tử! Ông phải biết rằng, do bởi bố thí, trì giới, nhẫn nhục, tinh tấn, thiền định, trí tuệ, từ bi hỷ xã, giải thoát, giải thoát tri kiến, lực, vô sở úy, tất cả Phật Pháp, và Nhất Thiết Chủng Trí của Như Lai đều chí thiện và thanh tịnh nên Như Lai được thân thanh tịnh.Nếu ai với tâm thanh tịnh và làm muôn sự cúng dường cho chư Phật Như Lai&#8211;họ dâng hương hoa anh lạc, tràng phan lọng che, và an trí những cái gối nệm ở trước Phật cùng các đồ vật để trang nghiêm xung quanh; lấy nước thơm thượng diệu để tắm rửa Tôn tượng; thắp lên những nén hương và vận ý khởi tưởng mùi hương đó xông khắp Pháp Giới; dâng cúng thức ăn nước uống; lại dùng âm nhạc ca vịnh và tán thán công đức tối thắng của Như Lai; phát lời thệ nguyện thù thắng và hồi hướng đến vô thượng biển Nhất Thiết Trí&#8211;thì công đức có được là vô lượng vô biên và tương tục mãi cho đến khi chứng quả Bồ-đề.Vì sao thế? Phước trí của Như Lai là chẳng thể nghĩ bàn, vô số vô lượng, và không ai có thể sánh bằng.Này thiện nam tử! Chư Phật Thế Tôn đều đầy đủ ba thân. Đó là Pháp thân, báo thân, và hóa thân. Sau khi Ta nhập Niết-bàn, nếu ai muốn cúng dường ba thân này thì họ nên cúng dường xá-lợi của Ta. Nhưng xá-lợi có hai loại:1. Thân cốt xá-lợi2. Pháp tụng xá-lợi&#8221;Đức Phật liền nói bài kệ tụng rằng:&#8221;Các pháp do duyên sanhNhư Lai nói nhân nàyPháp kia nhân duyên tậnLà lời chư Phật dạyNếu thiện nam tín nữ và hàng năm chúng đệ tử xuất gia nào [Tỳ-kheo, Tỳ-kheo-ni, Sa-di, Sa-di-ni, Thức-xoa-ma-na] muốn tạo tượng Phật, hoặc những ai không sức mà muốn đóng góp chút ít, thậm chí chỉ lớn bằng hạt lúa tẻ, hoặc xây một cái tháp chỉ lớn bằng quả táo, cột trụ nhỏ như kim, mái che nhỏ như vỏ trấu, xá-lợi nhỏ như hạt cải, hoặc biên chép bài Pháp tụng và đặt ở trong tháp đó, thì cũng như lấy kỳ trân dị bảo mà làm cúng dường. Hãy làm theo khả năng của mỗi người và nếu có thể chí thành cung kính thì cũng như chính Ta hiện thân không khác.Này thiện nam tử! Nếu có chúng sanh nào mà có thể làm các sự cúng dường như thế thì sẽ thành tựu 15 loại công đức thù thắng để tự trang nghiêm thân họ:1. Luôn biết hổ thẹn.2. Phát tín tâm thanh tịnh.3. Lòng dạ ngay thẳng.4. Gần gũi bạn lành.5. Nhập trí tuệ vô lậu.6. Thường thấy chư Phật.7. Luôn thọ trì Chánh Pháp.8. Có thể thực hành theo lời dạy.9. Tùy ý vãng sanh vào quốc độ thanh tịnh của chư Phật.10. Nếu sanh trong hàng người thì sẽ sinh trong gia đình tôn quý giàu sang, được mọi người cung kính, và ai thấy cũng đều hoan hỷ.11. Khi sanh trong chốn nhân gian thì tự nhiên sẽ luôn tưởng nhớ Phật.12. Bè lũ của ma quân không thể tổn hại và não loạn.13. Có thể hộ trì Chánh Pháp ở trong đời Mạt Pháp.14. Được mười phương chư Phật gia hộ.15. Sớm được thành tựu ngũ phần Pháp thân [giới, định, tuệ, giải thoát, giải thoát tri kiến].&#8221;Lúc bấy giờ Đức Thế Tôn liền nói bài kệ rằng:&#8221;Sau khi Ta nhập diệtXá-lợi muốn cúng dường Thì hãy xây dựng thápVà đặt tượng Như Lai Tại nơi tượng tháp kiaTô vẽ mạn-đà-laDùng đủ mọi hương hoaRải lên ở trên đóLấy nước thơm tịnh diệuTắm gội vào tượng PhậtCác ẩm thực thượng vịĐem hết dâng cúng dườngTán thán Phật công đứcVô lượng chẳng nghĩ bànPhương tiện trí thần thôngSẽ mau đến bờ kiaChứng đắc thân kim cangĐầy đủ ba hai tướngVà tám mươi vẻ đẹpCứu độ chúng quần sanh&#8221;Khi Thanh Tịnh Tuệ Bồ-Tát nghe bài kệ này xong, ngài bạch Phật rằng:&#8221;Bạch Thế Tôn! Chúng sanh ở đời sau cần phải tắm tượng như thế nào?&#8221;Phật bảo Thanh Tịnh Tuệ Bồ-Tát:&#8221;Các ông cần phải khởi chánh niệm đối với Như Lai, đừng chấp vào hai cái thấy lệch lạc [chấp thường chấp đoạn], hoặc mê muội nơi có và không. Ở trong các Pháp lành, hãy khát ngưỡng và không nhàm chán, đắc nhập ba môn giải thoát [không, vô tướng, vô nguyện], khéo tu tập trí tuệ, luôn mong muốn ra khỏi Tam Giới và chớ trụ nơi sanh tử. Lại đối với chúng sanh mà khởi lòng từ bi rộng lớn và nguyện sẽ mau được thành tựu ba thân.Này thiện nam tử! Ta đã thuyết giảng Tứ Thánh Đế, Thập Nhị Nhân Duyên, và Lục Độ Ba-la-mật cho ông. Bây giờ Ta lại vì ông cùng các quốc vương, hoàng tử, đại thần, hoàng hậu, cung phi, trời, rồng, người, và quỷ thần mà chỉ dạy phương pháp tắm tượng. Trong các sự cúng dường, tắm tượng là đệ nhất và thắng hơn việc đem đồ bảy báu nhiều như cát sông Hằng để bố thí.Khi tắm tượng, hãy lấy các loại hương, như là hương ngưu đầu chiên đàn, hương chiên đàn trắng, hương chiên đàn tím, hương trầm thủy, hương huân lục, hương uất kim, hương long não, hương linh lăng, hương cây hoắc, hay những loại hương quý khác, rồi đặt chúng trên một miếng đá sạch và nghiền ra thành bột. Sau đó, hãy hòa chung hương bột với nước để làm thành nước hương và đổ vào trong bình sạch. Lại nữa, tại một nơi thanh tịnh, hãy lấy đất sạch mà dựng làm Pháp đàn, hoặc tròn hay vuông, kích cỡ tùy theo hoàn cảnh. Trên đó an trí các đồ vật để tắm, còn tượng Phật thì được đặt ở chính giữa. Kế đến, rưới nước hương nóng ấm để tẩy rửa tượng. Rồi tiếp tục rưới nước trong như thế cho đến khi tượng được sạch sẽ và thơm khiết. Nước sử dụng phải là nước sạch, vì như thế sẽ không làm hại côn trùng.Trong lúc tắm tượng, có thể thấm ướt bàn tay vào nước đã tắm tượng, rồi cho những giọt nước từ hai đầu ngón tay nhỏ xuống ở trên trán của mình. Đây gọi là Nước Cát Tường. Về phần nước đã tắm tượng, hãy xả nước chảy ở trên chỗ đất sạch và chớ để chân của mình giẫm đạp.Khi đã tắm tượng xong, hãy lấy một cái khăn mềm mịn mà lau tượng cho sạch. Sau đó, hãy đốt các nén hương quý để hương thơm lan tỏa khắp quanh tượng. Khi xong, hãy an trí tượng về chỗ cũ.Này thiện nam tử! Do bởi tắm tượng Phật với phương thức như thế, nên có thể khiến các ông cùng hàng đại chúng trời người, hiện đời thọ hưởng giàu sang, an vui, không bệnh, và sống lâu. Mọi điều cầu mong, không gì là chẳng toại. Còn bạn bè thân quyến thì thảy đều an ổn. Tám nạn tiêu trừ, ra khỏi bể khổ vĩnh viễn, không thọ thân nữ, và sớm thành chánh giác.Khi đã an trí tượng và đốt các loại hương, mặt đối trước tượng, kiền thành chắp tay, và hãy đọc bài kệ tán rằng:Con nay tắm gội chư Như LaiTịnh trí công đức trang nghiêm tụNguyện chúng quần sanh đời năm trượcMau chứng Như Lai tịnh Pháp thânGiới định tuệ giải tri kiến hươngMười phương sát độ luôn phảng phấtNguyện khói hương này cũng như vậyVô lượng vô biên làm Phật sựCũng nguyện ba đường khổ ách dừngTrừ sạch nhiệt não được thanh lươngĐều phát vô thượng Bồ-đề tâmVĩnh rời sông ái lên bờ kia&#8221;Khi Phật thuyết Kinh này xong, lúc bấy giờ trong đại chúng có vô lượng vô biên số Bồ-Tát đắc Vô Cấu Tam-muội. Vô lượng thiên chúng đắc trí tuệ bất thối. Các vị Thanh Văn lập nguyện cầu Phật quả. 84.000 chúng sanh đều phát tâm Vô Thượng Chánh Đẳng Chánh Giác.Lúc ấy Thanh Tịnh Tuệ Bồ-Tát bạch Phật rằng:&#8221;Bạch Thế Tôn! Thật là hạnh phúc thay khi được bậc Đại sư từ mẫn dạy chúng con phương pháp tắm tượng. Con nay sẽ khuyên bảo quốc vương, đại thần, và hết thảy những ai có tín tâm cùng quý mến công đức, rằng trong mỗi ngày hãy tắm gội Tôn tượng thì sẽ được lợi ích lớn. Chúng con sẽ luôn thọ trì và hoan hỷ phụng hành.&#8221;</p>
]]></content:encoded>
					
		
		
			</item>
		<item>
		<title>KINH ĐỊA TẠNG BỒ TÁT BỔN NGUYỆN</title>
		<link>https://phatgiaovinhphuc.vn/2024/12/14/kinh-dia-tang-bo-tat-bon-nguyen/</link>
		
		<dc:creator><![CDATA[trast1]]></dc:creator>
		<pubDate>Sat, 14 Dec 2024 03:26:07 +0000</pubDate>
				<category><![CDATA[Kinh tạng]]></category>
		<guid isPermaLink="false">https://phatgiaovinhphuc.vn/?p=2943</guid>

					<description><![CDATA[Tông chỉ tu hành của Kinh Địa Tạng Bồ Tát Bổn Nguyện được thể hiện qua tám chữ: Hiếu đạo, Độ sanh, Bạt khổ, Báo ân. Dưới đây là toàn bộ nội dung của Kinh Địa Tạng, mời quý vị tụng đọc. Kinh Địa Tạng Bồ Tát Bổn Nguyện là bộ kinh rất cơ bản [...]]]></description>
										<content:encoded><![CDATA[


<p>Tông chỉ tu hành của Kinh Địa Tạng Bồ Tát Bổn Nguyện được thể hiện qua tám chữ: Hiếu đạo, Độ sanh, Bạt khổ, Báo ân. Dưới đây là toàn bộ nội dung của Kinh Địa Tạng, mời quý vị tụng đọc.</p>



<p>Kinh Địa Tạng Bồ Tát Bổn Nguyện là bộ kinh rất cơ bản xây dựng đời sống đạo đức của người đệ tử Phật. Trong đó làm con phải có hiếu với cha mẹ, làm trò học đạo phải biết phụng dưỡng sư trưởng là nội dung chủ đạo trong bộ kinh này.<br>Kinh Địa Tạng Bồ Tát Bổn Nguyện gồm ba quyển Thượng, Trung, Hạ với 13 phẩm, là những giáo lý căn bản mà người tu học Phật cần nắm rõ trên lộ trình giác ngộ và giải thoát.</p>



<p>Kinh Địa Tạng Bồ tát Bổn Nguyện.</p>



<ol class="wp-block-list">
<li>Kinh Địa Tạng Bồ Tát Bổn Nguyện quyển thượng</li>
</ol>



<ul class="wp-block-list">
<li>Phẩm thứ nhất: Thần thông trên cung trời Đao Lợi.</li>



<li>Phẩm thứ hai: Phân thân tập hội.</li>



<li>Phẩm thứ ba: Quán chúng sanh nghiệp duyên.</li>



<li>Phẩm thứ tư: Nghiệp cảm của chúng sanh.</li>
</ul>



<ol class="wp-block-list">
<li>Kinh Địa Tạng Bồ Tát Bổn Nguyện quyển trung</li>
</ol>



<ul class="wp-block-list">
<li>Phẩm thứ năm: Danh hiệu của địa ngục.</li>



<li>Phẩm thứ sáu: Như lai tán thán.</li>



<li>Phẩm thứ bảy: Lợi ích cả kẻ còn người mất.</li>



<li>Phẩm thứ tám: Các vua diêm la khen ngợi.</li>



<li>Phẩm thứ chín: Xưng danh hiệu chư Phật.</li>
</ul>



<ol class="wp-block-list">
<li>Kinh Địa Tạng Bồ Tát Bổn Nguyện quyển hạ</li>
</ol>



<ul class="wp-block-list">
<li>Phẩm thứ mười: So sánh nhân duyên công đức của sự bố thí.</li>



<li>Phẩm thứ mười một: Địa thần hộ Pháp.</li>



<li>Phẩm thứ mười hai: Thấy nghe được lợi ích.</li>



<li>Phẩm thứ mười ba: Dặn dò cứu độ nhơn thiên.<br>13 phẩm của bộ kinh rất tiêu biểu, gần gũi với hàng đệ tử Phật để giúp chúng ta dễ dàng thấm nhuần, đọc tụng và ứng dụng vào cuộc sống, mang lại công đức phước báu to lớn cho bản thân và mọi người.</li>
</ul>



<p>Kinh Địa Tạng Bồ tát Bổn Nguyện<br>(Quyển Thượng)<br>PHẨM THỨ NHẤT: THẦN THÔNG TRÊN CUNG TRỜI ĐAO LỢI</p>



<ol class="wp-block-list">
<li>PHẬT HIỆN THẦN THÔNG<br>Ta nghe như thế này: Một thuở nọ, tại cung Trời Đao Lợi, đức Phật vì Thánh Mẫu mà thuyết pháp.<br>Lúc đó, bất khả thuyết bất khả thuyết tất cả chư Phật và đại Bồ Tát trong vô lượng thế giới ở mười phương đều đến hội họp, rồi đồng khen ngợi rằng:<br>Đức Phật Thích Ca Mâu Ni có thể ở trong đời ác ngũ trược mà hiện sức &#8220;Đại trí tuệ thần thông chẳng thể nghĩ bàn&#8221; để điều phục chúng sinh cang cường làm cho chúng nó rõ &#8220;Pháp khổ pháp vui&#8221;.<br>Khen xong, chư Phật đều sai thị giả kính thăm đức Thế Tôn.<br>Bấy giờ, đức Như Lai mỉm cười phóng ra trăm nghìn vừng mây sáng rỡ lớn. Như là: Vừng mây sáng rỡ đầy đủ, vừng mây sáng rỡ đại từ bi, vừng mây sáng rỡ đại trí huệ, vừng mây sáng rỡ đại Bát Nhã, vừng mây sáng rỡ đại Tam muội, vừng mây sáng rỡ đại kiết tường, vừng mây sáng rỡ đại phước đức, vừng mây sáng rỡ đại công đức, vừng mây sáng rỡ đại quy y, vừng mây sáng rỡ đại tán thán… Đức Phật phóng ra bất khả thuyết vừng mây sáng rỡ như thế rồi lại phát ra các thứ tiếng vi diệu.<br>Như là: Tiếng Bố thí độ, tiếng Trì giới độ, tiếng Nhẫn nhục độ, tiếng Tinh tấn độ, tiếng Thiền định độ, tiếng Bát Nhã độ, tiếng Từ bi, tiếng Hỷ xả, tiếng Giải thoát, tiếng Vô lậu, tiếng Trí huệ, tiếng Sư tử hống, tiếng Đại Sư tử hống, tiếng Mây sấm, tiếng Mây sấm lớn…</li>



<li>TRỜI RỒNG… HỘI HỌP<br>Khi đức Phật phát ra bất khả thuyết bất khả thuyết tiếng vi diệu như thế xong, thời có vô lượng ức hàng Trời, Rồng, Quỷ, Thần ở trong cõi Ta Bà và cõi nước phương khác cũng đến hội họp nơi cung Trời Đao Lợi. Như là: Trời Tứ Thiên Vương, Trời Đao Lợi, Trời Tu Diệm Ma, Trời Đâu Suất Đà, Trời Hóa Lạc, Trời Tha Hóa Tự Tại, Trời Phạm Chúng, Trời Phạm Phụ, Trời Đại Phạm, Trời Thiểu Quang, Trời Vô Lượng Quang, Trời Quang Âm, Trời Thiểu Tịnh, Trời Vô Lượng Tịnh, Trời Biến Tịnh, Trời Phước Sanh, Trời Phước Ái, Trời Quảng Quả, Trời Nghiêm Sức, Trời Vô Lượng Nghiêm Sức, Trời Nghiêm Sức Quả Thiệt, Trời Vô Tưởng, Trời Vô Phiền, Trời Vô Nhiệt, Trời Thiện Kiến, Trời Thiện Hiện, Trời Sắc Cứu<br>Cánh, Trời Ma Hê Thủ La, cho đến Trời Phi Tưởng, Phi Phi Tưởng Xứ. Tất cả Thiên chúng, Long chúng, cùng các chúng Quỷ, Thần đều đến hội họp.<br>Lại có những vị Thần ở cõi Ta Bà cùng cõi nước phương khác, như: Thần biển, Thần sông, Thần rạch, Thần cây, Thần núi, Thần đất, Thần sông chằm, Thần lúa mạ, Thần chủ ngày, Thần chủ đêm, Thần hư không, Thần trên Trời, Thần chủ ăn uống, Thần cây cỏ… Các vị Thần như thế đều đến hội họp.<br>Lại có những Đại Quỷ Vương ở cõi Ta Bà cùng cõi nước phương khác, như: Ác Mục Quỷ Vương, Đạm Huyết Quỷ Vương, Đạm Tinh Khí Quỷ Vương, Đạm Thai Noãn Quỷ Vương, Hành Bịnh Quỷ Vương, Nhiếp Độc Quỷ Vương, Từ Tâm Quỷ Vương, Phước Lợi Quỷ Vương, Đại Ái Kính Quỷ Vương… Các Quỷ Vương như thế đều đến hội họp.</li>



<li>ĐỨC PHẬT PHÁT KHỞI<br>Bấy giờ đức Thích Ca Mâu Ni Phật bảo Ngài Văn Thù Sư Lợi Pháp Vương tử đại Bồ Tát rằng: &#8220;Ông xem coi tất cả chư Phật, Bồ Tát và Trời, Rồng, Quỷ, Thần đó ở trong thế giới này cùng thế giới khác, ở trong quốc độ này cùng quốc độ khác, nay đều đến hội họp tại cung Trời Đao Lợi như thế, ông có biết số bao nhiêu chăng?&#8221;.<br>Ngài Văn Thù Sư Lợi bạch Phật rằng: &#8220;Bạch đức Thế Tôn! Nếu dùng thần lực của con để tính đếm trong nghìn kiếp cũng không biết là số bao nhiêu!&#8221;.<br>Đức Phật bảo Ngài Văn Thù Sư Lợi rằng: &#8220;Đến Ta dùng Phật nhãn xem hãy còn không đếm xiết! Số Thánh, phàm này đều của Ngài Địa Tạng Bồ Tát từ thuở kiếp lâu xa đến nay, hoặc đã độ, đương độ, chưa độ, hoặc đã thành tựu, đương thành tựu, chưa thành tựu&#8221;.<br>Ngài Văn Thù Sư Lợi bạch đức Phật rằng: &#8220;Từ thuở lâu xa về trước con đã tu căn lành chứng đặng trí vô ngại, nghe lời đức Phật nói đó thời tin nhận liền. Còn hàng tiểu quả Thanh Văn, Trời, Rồng, tám bộ chúng và những chúng sanh trong đời sau, dầu nghe lời thành thật của Như Lai, nhưng chắc là sanh lòng nghi ngờ, dầu cho có lạy vâng đi nữa cũng chưa khỏi<br>hủy báng. Cúi mong đức Thế Tôn nói rõ nhơn địa của Ngài Địa Tạng Bồ Tát; Ngài tu hạnh gì, lập nguyện gì mà thành tựu được sự không thể nghĩ bàn như thế?&#8221;.<br>Đức Phật bảo Ngài Văn Thù Sư Lợi rằng: &#8220;Ví như bao nhiêu cỏ, cây, lùm, rừng, lúa, mè, tre, lau, đá, núi, bụi bặm trong cõi tam thiên đại thiên, cứ một vật làm một sông Hằng, rồi cứ số cát trong mỗi sông Hằng, một hột cát làm một cõi nước, rồi trong một cõi nước cứ một hột bụi nhỏ làm một kiếp, rồi bao nhiêu số bụi nhỏ chứa trong một kiếp đều đem làm kiếp cả.<br>Từ lúc Ngài Địa Tạng Bồ Tát chứng quả thập địa Bồ Tát đến nay nghìn lần lâu hơn số kiếp tỉ dụ ở trên, huống là những thuở Ngài Địa Tạng còn ở bực Thanh Văn và Bích Chi Phật!<br>Này Văn Thù Sư Lợi! Oai thần thệ nguyện của Bồ Tát đó không thể nghĩ bàn đến được. Về đời sau, nếu có trang thiện nam, người thiện nữ nào nghe danh tự của Địa Tạng Bồ Tát, hoặc khen ngợi, hoặc chiêm ngưỡng vái lạy, hoặc xưng danh hiệu, hoặc cúng dường, nhẫn đến vẽ, khắc, đắp, sơn hình tượng của Địa Tạng Bồ Tát, thời người đó sẽ được một trăm lần sanh lên cõi Trời Đao Lợi, vĩnh viễn chẳng còn bị sa đọa vào chốn ác đạo.</li>



<li>TRƯỞNG GIẢ TỬ PHÁT NGUYỆN<br>Này Văn Thù Sư Lợi! Trải qua bất khả thuyết bất khả thuyết kiếp lâu xa về trước, tiền thân của Ngài Địa Tạng Bồ Tát làm một vị Trưởng giả tử. Lúc đó, trong đời có đức Phật hiệu là: Sư Tử Phấn Tấn Cụ Túc Vạn Hạnh Như Lai. Trưởng giả tử thấy đức Phật tướng mạo tốt đẹp nghìn phước trang nghiêm, mới bạch hỏi đức Phật tu hạnh nguyện gì mà đặng tốt đẹp như thế?<br>Khi ấy, đức Sư Tử Phấn Tấn Cụ Túc Vạn Hạnh Như Lai bảo Trưởng giả tử rằng: “Muốn chứng được thân tướng tốt đẹp này, cần phải trải qua trong một thời gian lâu xa độ thoát tất cả chúng sanh bị khốn khổ”.<br>Này Văn Thù Sư Lợi! Trưởng giả tử nghe xong liền phát nguyện rằng: &#8220;Từ nay đến tột số chẳng thể kể xiết ở đời sau, tôi vì những chúng sanh tội khổ trong sáu đường mà giảng bày nhiều phương tiện làm cho chúng đó được giải thoát hết cả, rồi tự thân tôi mới chứng thành Phật Đạo&#8221;.<br>Bởi ở trước đức Phật Sư Tử Phấn Tấn Cụ Túc Vạn Hạnh Như Lai, Ngài lập nguyện rộng đó, nên đến nay đã trải qua trăm nghìn muôn ức vô số bất khả thuyết kiếp, mà Ngài vẫn còn làm vị Bồ Tát!</li>



<li>BÀ LA MÔN NỮ CỨU MẸ<br>Lại thuở bất khả tư nghị vô số kiếp về trước, lúc đó có đức Phật hiệu là: Giác Hoa Định Tự Tại Vương Như Lai, Đức Phật ấy thọ đến bốn trăm nghìn muôn ức vô số kiếp. Trong thời tượng pháp, có một người con gái dòng Bà La Môn, người này nhiều đời chứa phước sâu dày, mọi người đều kính nể, khi đi đứng lúc nằm ngồi, chư Thiên thường theo hộ vệ. Bà mẹ của người mê tín tà đạo, thường khinh khi ngôi Tam Bảo. Thuở ấy, mặc dầu Thánh nữ đem nhiều lời phương tiện khuyên nhủ bà mẹ người, hầu làm cho bà mẹ người sanh chánh kiến, nhưng mà bà mẹ người chưa tin hẳn. Chẳng bao lâu bà ấy chết, thần hồn sa đọa vào Vô Gián địa ngục.<br>Lúc đó, Thánh Nữ biết rằng người mẹ khi còn sống không tin nhân quả, liệu chắc phải theo nghiệp quấy mà sanh vào đường ác. Thánh Nữ bèn bán nhà, đất, sắm nhiều hương hoa cùng những đồ lễ cúng, rồi đem cúng dường tại các chùa tháp thờ đức Phật Giác Hoa Định Tự Tại Vương. Trong một ngôi chùa kia thấy hình tượng của đức Phật Giác Hoa Định Tự<br>Tại Vương đắp vẽ oai dung đủ cách tôn nghiêm.<br>Thánh Nữ chiêm bái tượng của đức Phật lại càng sanh lòng kính ngưỡng, tự nghĩ thầm rằng : &#8220;Đức Phật là đấng Đại Giác đủ tất cả trí huệ, nếu đức Phật còn trụ ở đời, thì khi mẹ tôi khuất, tôi đến bạch hỏi Phật, chắc thế nào cũng rõ mẹ tôi sanh vào chốn nào&#8221;.<br>Nghĩ đến đó, Thánh Nữ buồn tủi rơi lệ chăm nhìn tượng Như Lai mà lòng quyến luyến mãi.<br>Bỗng nghe trên hư không có tiếng bảo rằng: &#8220;Thánh Nữ đương khóc kia, thôi đừng có bi ai quá lắm! Nay ta sẽ bảo cho ngươi biết chỗ của mẹ ngươi&#8221;.<br>Thánh Nữ chắp tay hướng lên hư không mà vái rằng: &#8220;Đức thần nào đó mà giải bớt lòng sầu lo của tôi như thế? Từ khi mẹ tôi mất đến nay, tôi thương nhớ ngày đêm, không biết đâu để hỏi cho rõ mẹ tôi thác sanh vào chốn nào?&#8221;.<br>Trên hư không lại có tiếng bảo Thánh Nữ rằng: &#8220;Ta là đức Phật quá khứ Giác Hoa Định Tự Tại Vương Như Lai mà ngươi đương chiêm bái đó. Thấy ngươi thương nhớ mẹ trội hơn thường tình của chúng sanh nên ta đến chỉ bảo&#8221;.<br>Thánh Nữ nghe nói xong liền té xỉu xuống, tay chân mình mẩy đều bị tổn thương. Những người đứng bên vội vàng đỡ dậy, một lát sau Thánh Nữ mới tỉnh lại rồi bạch cùng trên hư không rằng: &#8220;Cúi xin đức Phật xót thương bảo ngay cho rõ chỗ thác sanh của mẹ con, nay thân tâm của con sắp chết mất!&#8221;.<br>Đức Giác Hoa Định Tự Tại Vương Như Lai bảo Thánh Nữ rằng: &#8220;Cúng dường xong, ngươi mau mau trở về nhà, rồi ngồi ngay thẳng nghĩ tưởng danh hiệu của Ta, thời ngươi sẽ biết chỗ thác sanh của mẹ ngươi&#8221;.<br>Lễ Phật xong, Thánh Nữ liền trở về nhà. Vì thương nhớ mẹ, nên Thánh Nữ ngồi ngay thẳng niệm danh hiệu của Giác Hoa Định Tự Tại Vương Như Lai trải suốt một ngày một đêm, bỗng thấy thân mình đến một bờ biển kia. Nước trong biển đó sôi sùng sục, có rất nhiều thú dữ thân thể toàn bằng sắt bay nhảy trên mặt biển, chạy rảo bên này, xua đuổi bên kia.<br>Thấy những trai cùng gái số nhiều đến nghìn muôn thoạt chìm thoạt nổi ở trong biển, bị các thú dữ giành nhau ăn thịt.<br>Lại thấy Quỷ Dạ Xoa hình thù đều lạ lùng: Hoặc nhiều tay, nhiều mắt, nhiều chân, nhiều đầu… răng nanh chĩa ra ngoài miệng bén nhọn dường gươm, lùa những người tội gần thú dữ. Rồi Quỷ lại chụp bắt người tội, túm quắp đầu chân người tội lại, hình trạng muôn thứ chẳng dám nhìn lâu.<br>Khi ấy, Thánh Nữ nhờ nương sức niệm Phật nên tự nhiên không kinh sợ.<br>Có một Quỷ Vương tên là Vô Độc, đến cúi đầu nghinh tiếp, hỏi Thánh Nữ rằng: &#8220;Hay thay Bồ Tát! Ngài có duyên sự gì đến chốn này?&#8221;.<br>Thánh Nữ hỏi Quỷ Vương rằng: &#8220;Đây là chốn nào?&#8221;.<br>Quỷ Vương Vô Độc đáp rằng: &#8220;Đây là từng biển thứ nhứt ở phía Tây núi đại Thiết Vi&#8221;.<br>Thánh Nữ hỏi rằng: &#8220;Tôi nghe trong núi Thiết Vi có địa ngục, việc ấy có thiệt như thế chăng?&#8221;.<br>Vô Độc đáp rằng: &#8220;Thiệt có địa ngục&#8221;.<br>Thánh Nữ hỏi rằng: &#8220;Nay tôi làm sao để được đến chốn địa ngục đó?&#8221;.<br>Vô Độc đáp rằng: &#8220;Nếu không phải sức oai thần, cần phải do nghiệp lực. Ngoài hai điều này ra ắt không bao giờ có thể đến đó được&#8221;.<br>Thánh Nữ lại hỏi: &#8220;Duyên cớ vì sao mà nước trong biển này sôi sùng sục như thế, và có những người tội cùng với các thú dữ?&#8221;.<br>Vô Độc đáp rằng: &#8220;Những người tội trong biển này là những kẻ tạo ác ở cõi Diêm Phù Đề mới chết, trong khoảng bốn mươi chín ngày không người kế tự để làm công đức hầu cứu vớt khổ nạn cho; lúc sống, kẻ đó lại không làm được nhân lành nào cả.<br>Vì thế nên cứ theo nghiệp ác của họ đã gây tạo mà cảm lấy báo khổ ở địa ngục, tự nhiên họ phải lội qua biển này.<br>Cách biển này mười muôn do tuần về phía Đông lại có một cái biển, những sự thống khổ trong biển đó gắp bội hơn biển này.<br>Phía Đông của biển đó lại có một cái biển nữa, sự thống khổ trong đó càng trội hơn.<br>Đó đều là do những nghiệp nhân xấu xa của ba nghiệp mà cảm vời ra, đồng gọi là biển nghiệp, chính là ba cái biển này vậy&#8221;.<br>Thánh Nữ lại hỏi Quỷ Vương Vô Độc rằng: &#8220;Địa ngục ở đâu?&#8221;.<br>Vô Độc đáp rằng: &#8220;Trong ba cái biển đó đều là địa ngục, nhiều đến số trăm nghìn, mỗi ngục đều khác nhau. Về địa ngục lớn thời có 18 chỗ, bậc kế đó có 500 chỗ đủ không lường sự khổ sở, bậc kế nữa có đến nghìn trăm cũng đầy không lường sự thống khổ&#8221;<br>Thánh Nữ lại hỏi Quỷ Vương rằng: &#8220;Thân Mẫu của tôi mới khuất gần đây, không rõ thần hồn của người phải sa vào chốn nào?&#8221;.<br>Quỷ Vương hỏi Thánh Nữ rằng: &#8220;Thân mẫu của Bồ Tát khi còn sống, quen làm những nghiệp gì?&#8221;.<br>Thánh Nữ đáp rằng: &#8220;Thân mẫu của tôi mê tín tà đạo, khinh chê ngôi Tam Bảo, hoặc có lúc tạm thời tin chánh pháp, xong rồi chẳng kính. Dầu khuất không bao lâu, mà chưa rõ đọa lạc vào đâu?&#8221;.<br>Vô Độc hỏi rằng: &#8220;Thân mẫu của Bồ Tát tên họ là gì?&#8221;.<br>Thánh Nữ đáp rằng: &#8220;Thân phụ và thân mẫu của tôi đều dòng dõi Bà La Môn. Thân phụ tôi hiệu là Thi La Thiện Kiến. Thân mẫu tôi hiệu là Duyệt Đế Lợi&#8221;. Vô Độc chắp tay thưa Thánh Nữ rằng: &#8220;Xin Thánh Nữ hãy trở về, chớ đem lòng thương nhớ buồn rầu quá lắm nữa. Tội nữ<br>Duyệt Đế Lợi được sanh lên cõi Trời đến nay đã ba ngày rồi.<br>Nghe nói nhờ con gái của người có lòng hiếu thuận, vì mẹ mà sắm sửa lễ vật, tu tạo phước lành, cúng dường chùa tháp, thờ đức Giác Hoa Định Tự Tại Vương Như Lai. Chẳng phải chỉ riêng thân mẫu của Bồ Tát đặng thoát khỏi địa ngục, mà ngày đó, những tội nhân Vô Gián cũng đều được vui vẻ, đồng đặng thác sanh cả&#8221;.<br>Nói xong, Quỷ Vương chắp tay chào Thánh Nữ mà cáo lui.<br>Bấy giờ, Thánh Nữ dường chiêm bao chợt tỉnh, rõ biết việc đó rồi, bèn đối trước tháp tượng của đức Giác Hoa Định Tự Tại Vương Như Lai mà phát thệ nguyện rộng lớn rằng:<br>&#8220;Tôi nguyện từ nay nhẫn đến đời vị lai những chúng sanh mắc phải tội khổ, thì tôi lập ra nhiều phương chước làm cho chúng đó được giải thoát&#8221;.<br>Đức Phật bảo Ngài Văn Thù Sư Lợi rằng: &#8220;Quỷ Vương Vô Độc trước đó nay chính là ông Tài Thủ Bồ Tát. Còn Thánh Nữ Bà La Môn đó, nay là Địa Tạng Bồ Tát vậy&#8221;.<br>PHẨM THỨ HAI: PHÂN THÂN TẬP HỘI</li>



<li>HÓA THÂN CÙNG QUYẾN THUỘC<br>Lúc đó phân thân Địa Tạng Bồ Tát ở các nơi có địa ngục trăm nghìn muôn ức bất khả tư, bất khả nghị, bất khả lượng, bất khả thuyết, vô lượng vô số thế giới đều đến hội họp tại cung trời Đao Lợi.<br>Do nhờ thần lực của Như Lai, phân thân đó hiệp với những chúng đã được giải thoát ra khỏi chốn nghiệp đạo ở mười phương, cũng đều đông đến số nghìn muôn ức na do tha, đồng cầm hương hoa đến cúng dường Phật.<br>Những chúng cùng đến với phân thân đó, thảy đều nhờ Địa Tạng Bồ Tát giáo hóa làm cho trụ nơi đạo Vô thượng Chánh Đẳng Chánh Giác trọn không còn thối chuyển.<br>Những chúng đó từ kiếp lâu xa đến nay trôi lăn trong vòng sanh tử ở trong sáu đường, chịu những điều khổ sở không có lúc nào tạm ngừng dứt, nhờ lòng từ bi lớn và thệ nguyện sâu dày của Ngài Địa Tạng Bồ Tát, nên tất cả đều chứng được đạo quả.<br>Đại chúng đó khi đã đến cung trời Đao Lợi, lòng họ vui mừng hớn hở, chiêm ngưỡng đức Như Lai mắt nhìn mãi không rời.</li>



<li>ĐỨC NHƯ LAI AN ỦI ỦY THÁC<br>Bấy giờ, Thế Tôn giơ tay sắc vàng xoa đảnh của hóa thân Địa Tạng đại Bồ Tát trong trăm nghìn muôn ức bất khả tư, bất khả nghị, bất khả lượng, bất khả thuyết, vô lượng vô số thế giới, mà dạy rằng: &#8220;Ta ở trong đời ác ngũ trược giáo hóa những chúng sanh cang cường như thế, làm cho lòng chúng nó điều phục bỏ tà về chánh; nhưng trong mười phần vẫn còn một hai phần chúng sanh quen theo tánh ác.<br>Muốn độ chúng đó, ta cũng phân nghìn trăm ức thân lập ra nhiều phương chước. Trong chúng sanh đó, hoặc có người căn tánh sáng lẹ nghe Pháp của Ta thời liền tín nhận. Hoặc có người phải ân cần khuyên bảo mới thành tựu được thiện quả. Hoặc có kẻ vì tội nghiệp quá nặng nên chẳng đem lòng kính tin ngưỡng mộ. Ta phân ra nhiều thân độ thoát những hạng chúng sanh mỗi mỗi sai khác như thế. Hoặc hiện ra thân trai, hoặc hiện ra thân gái, hoặc hiện ra thân Trời, Rồng, hoặc hiện ra thân Quỷ, Thần, hoặc hiện ra rừng, núi, sông, ngòi, ao, rạch, suối, làm lợi ích cho mọi người, để rồi độ họ được giải thoát. Hoặc hiện ra thân Thiên Đế, hoặc hiện ra thân Trời Phạm Vương, hoặc hiện ra thân vua Chuyển Luân, hoặc hiện ra thân Quốc Vương, hoặc hiện ra thân Cư Sĩ, hoặc hiện ra thân Tể Phụ, hoặc hiện ra thân các hàng quan thuộc, hoặc hiện ra thân Tỳ Kheo, Tỳ Kheo Ni, Ưu Bà Tắc, Ưu Bà Di.<br>Nhẫn đến hiện ra những thân Thanh Văn, La Hán, Bích Chi Phật và Bồ Tát để hóa độ chúng sanh, chớ chẳng phải chỉ có thân Phật hiện ra trước chúng thôi đâu!<br>Địa Tạng! Ông xem Ta đã trải qua bao số kiếp nhọc nhằn độ thoát những chúng sanh cang cường đầy tội khổ khó khai hóa như thế. Ngoài ra những kẻ chưa điều phục được, thời phải theo nghiệp thọ báo. Nếu khi chúng đó có bị đọa vào đường dữ chịu nhiều sự thống khổ, thời ông nên nghĩ nhớ Ta ở cung Trời Đao Lợi ân cần phó chúc đây mà gắng độ chúng sanh, làm cho chúng sanh trong cõi Ta Bà này đến lúc Phật Di Lặc ra đời, đều đặng giải<br>thoát, khỏi hẳn các điều khổ, gặp Phật, được đức Phật thọ ký&#8221;.<br>Bấy giờ, những hóa thân Địa Tạng Bồ Tát ở các thế giới hiệp chung lại một hình, rơi lệ thương cảm mà bạch cùng đức Phật rằng: &#8220;Từ số kiếp lâu xa đến nay, con nhờ đức Thế Tôn tiếp độ dắt dìu làm cho con được thần lực chẳng thể nghĩ bàn, đầy đủ trí huệ rộng lớn.<br>Con phân hiện thân hình ra ở cùng khắp trăm nghìn muôn ức Hằng hà sa thế giới. Trong mỗi thế giới hóa hiện trăm nghìn muôn ức thân. Mỗi thân đó hóa độ trăm nghìn muôn ức người làm cho quy kính ngôi Tam Bảo, khỏi hẳn vòng sanh tử hưởng vui Niết Bàn.<br>Những chúng sanh nào ở nơi Phật Pháp chỉ làm việc lành bằng một sợi lông, một giọt nước, một hột cát, một bụi nhỏ, hoặc chỉ bằng chừng mảy lông tóc, con đều độ thoát lần lần, làm cho chúng đó được lợi ích lớn.Cúi mong đức Như Lai chớ vì những chúng sanh ác nghiệp trong đời sau mà sanh lòng lo lắng!… Cúi mong đức Như Lai chớ vì những chúng sanh ác nghiệp trong đời sau mà sanh lòng lo lắng!…&#8221;<br>Ngài Địa Tạng Bồ Tát bạch cùng đức Phật ba lần như thế.<br>Lúc ấy, đức Phật khen Ngài Địa Tạng Bồ Tát rằng: &#8220;Hay thay! Hay thay! Ta hộ trợ cho ông được toại nguyện! Từ số kiếp lâu xa đến nay thường phát nguyện rộng lớn, cứu độ tất cả chúng sanh xong rồi, thời ông liền chứng quả Bồ Đề&#8221;.<br>PHẨM THỨ BA: QUÁN CHÚNG SANH NGHIỆP DUYÊN</li>



<li>PHẬT MẪU THƯA HỎI<br>Lúc đó, đức Phật Mẫu là bà Ma Gia Phu Nhơn chắp tay cung kính mà hỏi Ngài Địa Tạng Bồ tát: &#8220;Thánh Giả! Chúng sanh trong cõi Diêm Phù Đề tạo nghiệp sai khác, cảm thọ quả báo ra thế nào?&#8221;<br>Ngài Địa Tạng Bồ tát đáp rằng: &#8220;Trong nghìn muôn thế giới cho đến quốc độ, hoặc nơi thời có địa ngục, nơi thời không địa ngục, hoặc nơi thời có hàng nữ nhơn, nơi thời không có hàng nữ nhơn, hoặc nơi Phật pháp, nơi thời không Phật pháp, nhẫn đến bực Thanh Văn và Bích Chi Phật v.v… Cũng sai khác như thế, chớ chẳng phải riêng tội báo nơi địa ngục sai khác thôi đâu!&#8221;<br>Bà Ma Gia Phu Nhơn lại bạch cùng Bồ tát rằng: &#8220;Tôi muốn nghe tội báo trong cõi Diêm Phù Đề chiêu cảm lấy ác đạo&#8221;. Ngài Địa Tạng đáp rằng: &#8220;Thánh Mẫu! Trông mong Ngài lóng nghe nhận lấy, Tôi sẽ lược nói việc đó&#8221;. Thánh Mẫu bạch rằng: &#8220;Xin Thánh Giả nói cho&#8221;.</li>



<li>BỒ TÁT LƯỢC THUẬT<br>Bấy giờ, Ngài Địa Tạng Bồ tát thưa Thánh Mẫu rằng: &#8220;Danh hiệu của những tội báo trong cõi Nam Diêm Phù Đề như dưới<br>đây:<br>Như có chúng sanh chẳng hiếu thảo với cha mẹ, cho đến giết hại cha mẹ, kẻ đó phải đọa vào Vô Gián địa ngục mãi đến<br>nghìn muôn ức kiếp không lúc nào mong ra khỏi được.<br>Như có chúng sanh nào có lòng ác, làm thân Phật bị thương chảy máu, khinh chê ngôi Tam Bảo, chẳng kính Kinh điển, cũng phải đọa vào Vô Gián địa ngục, trong nghìn muôn ức kiếp không lúc nào ra khỏi được. Hoặc có chúng sanh xâm tổn của thường trụ, ô phạm Tăng, Ni, hoặc tứ tình làm sự dâm loạn trong chốn chùa chiền, hoặc giết, hoặc hại… Những chúng sanh đó phải đọa vào Vô Gián địa ngục, trong nghìn muôn ức kiếp không lúc nào<br>mong ra khỏi được. Như có chúng sanh giả làm thầy Sa Môn kỳ thật tâm chẳng phải Sa Môn, lạm dụng của thường trụ, trái phạm giới luật, gạt gẫm hàng bạch y, tạo nhiều điều tội ác. Hạng người như thế phải đọa vào Vô Gián địa ngục, trong nghìn muôn ức kiếp<br>không lúc nào mong ra khỏi được. Hoặc có chúng sanh trộm cắp những tài vật lúa gạo, đồ ăn uống, y phục v.v… của thường trụ, cho đến không cho mà lấy<br>một vật, kẻ đó phải đọa vào Vô Gián địa ngục trong nghìn muôn ức kiếp không lúc nào mong ra khỏi được&#8221;. Ngài Địa Tạng Bồ Tát thưa rằng: &#8220;Thánh Mẫu! Nếu có chúng sanh nào phạm những tội như trên đó thời phải đọa vào địa ngục ngũ Vô Gián, cầu tạm ngừng sự đau khổ chừng khoảng một niệm cũng không được&#8221;. Bà Ma Gia Phu Nhơn lại bạch cùng Địa Tạng Bồ Tát: &#8220;Thế nào gọi là Vô Gián địa ngục?&#8221;. Ngài Địa Tạng Bồ Tát thưa rằng: &#8220;Thánh Mẫu! Bao nhiêu địa ngục ở trong núi Thiết Vi, lớn có 18 chỗ, thứ kế đó 500 chỗ danh hiệu đều riêng khác nhau, thứ kế lại có nghìn trăm danh hiệu cũng đều riêng khác nhau.<br>Nói về địa ngục Vô Gián đó, giáp vòng ngục thành hơn tám muôn dặm, thành đó thuần bằng sắt cao đến một muôn dặm. Lửa cháy trên thành không có chỗ nào hở trống. Trong ngục thành đó có các nhà ngục liên tiếp nhau đều có danh hiệu sai khác.<br>Riêng có một sở ngục tên là Vô Gián. Ngục này châu vi một muôn tám nghìn dặm, tường ngục cao một nghìn dặm, toàn bằng sắt cả. Lửa cháy hực hở suốt trên suốt dưới. Trên tường ngục rắn sắt, chó sắt, phun lửa đuổi nhau chạy bên này sang bên kia.<br>Trong ngục có giường rộng khắp muôn dặm. Một người thọ tội thời tự thấy thân mình nằm đầy chật cả giường, đến nghìn muôn người thọ tội cũng đều tự thấy thân của mình nằm chật cả trên giường. Đó là do vì những tội nghiệp đã tạo ra nó cảm vời như thế.<br>Lại những người tội chịu đủ sự khổ sở: Trăm nghìn Quỷ Dạ Xoa cùng với loài ác Quỷ, răng nanh bén nhọn dường gươm, cặp mắt chói sáng như chớp nhoáng, móng tay cứng như đồng, móc ruột bằm chặt.<br>Lại có Quỷ Dạ Xoa khác cầm chĩa lớn bằng sắt đâm vào mình người tội, hoặc đâm trúng miệng mũi, hoặc đâm trúng bụng lưng… rồi dồi lên trên không, lấy chĩa hứng lấy để lại trên giường. Lại có diều hâu bằng sắt mổ mắt người tội. Lại có rắn sắt cắn đầu người tội. Nơi lóng đốt khắp trong thân thể đều lấy đinh dài đóng xuống giường, kéo lưỡi ra rồi cày<br>bừa trên đó, lôi kéo người tội, nước đồng đổ vào miệng, dây sắt nóng đỏ quấn lấy thân người tội, một ngày một đêm, muôn lần chết muôn lần sống lại. Do vì tội nghiệp mà cảm lấy như thế, trải qua ức kiếp, không lúc nào mong ra khỏi được.<br>Lúc thế giới này hư hoại thời sanh nhờ qua địa ngục ở thế giới khác. Lúc thế giới khác đó hư hoại thời lại sanh vào cõi khác nữa. Lúc cõi khác đó hư hoại thời cũng xoay vần sanh vào cõi khác. Đến khi thế giới này thành xong thời sanh trở về thế giới này. Những sự tội báo trong ngục Vô Gián như thế đó. Lại địa ngục đó do có năm điều nghiệp cảm, nên kêu là Vô Gián. Năm điều đó là những gì?</li>



<li>Tội nhơn trong đó chịu khổ ngày lẫn đêm, cho đến trải qua số kiếp không lúc nào ngừng ngớt, nên gọi là Vô Gián.</li>



<li>Một người tội thân đầy chật cả ngục, nhiều người tội mỗi mỗi thân cũng đều đầy chật cả ngục, nên gọi là Vô Gián.</li>



<li>Những khí cụ để hành hình tội nhơn như: chĩa ba, gậy, diều hâu, rắn, sói, chó, cối giã, cối xay, cưa, đục, dao mác, chảo dầu sôi, lưới sắt, dây sắt, lừa sắt, ngựa sắt, da sống niền đầu, nước sắt nóng rưới thân, đói thời ăn hoàn sắt nóng, khát thời uống nước sắt sôi. Từ năm trọn kiếp, đến vô số kiếp những sự khổ sở nối nhau luôn không một giây ngừng ngớt nên<br>gọi là Vô Gián.</li>



<li>Không luận là trai hay gái, Mường, Mán, mọi rợ, già trẻ, sang hèn, hoặc là Rồng, là Trời, hoặc là Thần, là Quỷ, hễ gây tội ác theo đó mà cảm lấy, tất cả đều đồng chịu khổ, nên gọi là Vô Gián.</li>



<li>Nếu người nào bị đọa vào địa ngục đó, thời từ khi mới vào cho đến trăm nghìn kiếp mỗi một ngày đêm muôn lần chết, muôn lần sống lại, muốn cầu tạm ngừng chừng khoảng một niệm cũng không đặng, trừ khi tội nghiệp tiêu hết mới đặng thọ sanh. Do vì lẽ liên miên mãi nên gọi là Vô Gián”. Ngài Địa Tạng Bồ Tát thưa Thánh Mẫu rằng: &#8220;Nói sơ lược về địa ngục Vô Gián như thế. Nếu nói rộng ra thời tên của những khí cụ để hành tội cùng những sự thống khổ trong địa ngục đó, dầu đến suốt một kiếp cũng không thể nào nói cho hết<br>được&#8221;. Bà Ma Gia Phu Nhơn nghe Ngài Địa Tạng Bồ Tát nói xong, khôn xiết lo rầu! Bà chắp tay đảnh lễ Bồ Tát mà lui ra.<br>PHẨM THỨ TƯ: NGHIỆP CẢM CỦA CHÚNG SANH</li>



<li>BỒ TÁT VÂNG CHỈ<br>Lúc đó, Ngài Địa Tạng đại Bồ Tát bạch cùng đức Phật rằng: &#8220;Bạch Thế Tôn! Con nương sức oai thần của đức Như Lai, nên chia thân hình này ở khắp trăm nghìn muôn ức thế giới, để cứu vớt tất cả chúng sanh bị nghiệp báo. Nếu không nhờ sức đại từ của đức Như Lai, thời chẳng có thể biến hóa ra như thế được. Nay con lại được Như Lai phó chúc: Từ nay đến khi Ngài A Dật Đa thành Phật, làm cho chúng sanh trong sáu đường đều đặng độ thoát. Xin vâng! Bạch đức Thế Tôn! Xin đức Thế Tôn chớ lo!&#8221;. Bấy giờ đức Phật bảo Ngài Địa Tạng Bồ Tát rằng: &#8220;Những chúng sanh mà chưa được giải thoát, tánh thức của nó không<br>định, hễ quen làm dữ thời kết thành nghiệp báo dữ, còn quen làm lành thời kết thành quả báo lành. Làm lành cùng làm dữ tùy theo cảnh duyên mà sanh ra, lăn mãi trong năm đường không lúc nào tạm ngừng ngớt, mê lầm chướng nạn trải đến kiếp số nhiều như vi trần.<br>Ví như loài cá bơi lội trong lưới theo dòng nước chảy, thoạt hoặc tạm được ra, rồi lại mắc vào lưới. Vì thế nên ta phải lo nghĩ đến những chúng sanh đó.<br>Đời trước ông trót đã lập nguyện trải qua nhiều kiếp phát thệ rộng lớn độ hết cả hàng chúng sanh bị tội khổ, thời Ta còn lo gì!&#8221;</li>



<li>ĐỊNH TỰ TẠI VƯƠNG BẠCH HỎI<br>Khi đức Phật dạy lời như thế xong, trong Pháp hội có vị Đại Bồ Tát hiệu là Định Tự Tại Vương ra bạch cùng đức Phật rằng:<br>&#8220;Bạch Thế Tôn! Từ nhiều kiếp đến nay, Ngài Địa Tạng Bồ Tát đã phát thệ nguyện gì, mà nay được đức Thế Tôn ân cần ngợi khen như thế? Cúi mong đức Thế Tôn lược nói cho&#8221;. Bấy giờ, đức Thế Tôn bảo Ngài Định Tự Tại Vương Bồ tát: “Lắng nghe! Lắng nghe! Phải khéo suy xét đó, Ta sẽ vì ông mà giải bày rõ ràng”.</li>



<li>ÔNG VUA NƯỚC LÂN CẬN<br>Vô lượng vô số na do tha bất khả thuyết kiếp về thuở trước. Lúc đó, có đức Phật ra đời hiệu là Nhứt Thiết Trí Thành Tựu Như Lai, Ứng Cúng, Chánh Biến Tri, Minh Hạnh Túc, Thiện Thệ, Thế Gian Giải, Vô Thượng Sĩ, Điều Ngự Trượng Phu, Thiên Nhơn Sư, Phật, Thế Tôn.<br>Đức Phật đó thọ sáu muôn kiếp. Khi Ngài chưa xuất gia, thời Ngài làm Vua một nước nhỏ kia, kết bạn cùng với Vua nước lân cận; hai Vua đồng thật hành mười hạnh lành làm lợi ích cho nhân dân. Nhân dân trong nước lân cận đó phần nhiều tạo những việc ác. Hai Vua cùng nhau bàn tính tìm những phương chước để dắt dìu dân chúng ấy.<br>Một ông phát nguyện: &#8220;Tôi nguyện sớm thành Phật sẽ độ dân chúng ấy làm cho đều được giải thoát không còn thừa&#8221;. Một ông phát nguyện: &#8220;Như tôi chẳng trước độ những kẻ tội khổ làm cho đều đặng an vui chứng quả Bồ Đề, thời tôi nguyện chưa chịu thành Phật&#8221;. Đức Phật bảo Ngài Định Tự Tại Vương Bồ tát rằng: &#8220;Ông Vua phát nguyện sớm thành Phật đó, chính là đức Nhứt Thiết Trí Thành Tựu Như Lai. Còn ông vua phát nguyện độ chưa hết những chúng sanh tội khổ thời chưa nguyện thành Phật đó, chính là Ngài Địa Tạng<br>Bồ tát đây vậy.</li>



<li>QUANG MỤC CỨU MẸ<br>Lại vô lượng vô số kiếp về thuở trước, có đức Phật ra đời, hiệu là Liên Hoa Mục Như Lai. Đức Phật đó thọ bốn mươi kiếp. Trong thời mạt pháp, có một vị La Hán phước đức cứu độ chúng sanh. Nhân vì đi tuần tự giáo hóa mọi người, La Hán gặp một người nữ tên là Quang Mục, nàng này sắm sửa đồ ăn cúng dường La Hán. La Hán thọ cúng rồi hỏi: &#8220;Nàng muốn những gì?&#8221;<br>Quang Mục thưa rằng: &#8220;Ngày thân mẫu tôi khuất, tôi làm việc phước thiện để nhờ đó mà cứu vớt thân mẫu tôi, chẳng rõ thân mẫu tôi thác sanh vào đường nào?&#8221;<br>La Hán nghe nói cảm thương bèn nhập định quan sát, thời thấy bà mẹ của Quang Mục đọa vào chốn địa ngục rất là khổ sở.<br>La Hán hỏi Quang Mục rằng: &#8220;Thân mẫu người lúc sanh tiền đã làm những hạnh nghiệp gì, mà nay phải đọa vào chốn địa ngục rất khổ sở như thế?&#8221;<br>Quang Mục thưa rằng: &#8220;Ngày còn sống, thân mẫu tôi chỉ ưa ăn thịt loài cá trạnh, phần nhiều là hay ăn cá con và trạnh con, hoặc chiên, hoặc nấu, tha hồ mà ăn cho thỏa mãn. Nếu tính đếm số cá trạnh của người đã ăn thời đến hơn nghìn muôn. Xin Tôn Giả thương xót chỉ dạy phải làm cách nào để cứu thân mẫu tôi?&#8221;<br>La Hán xót thương bèn dạy phương chước, ngài khuyên Quang Mục rằng: &#8220;Ngươi phải đem lòng chí thành mà niệm đức Thanh Tịnh Liên Hoa Mục Như Lai, và vẽ đắp hình tượng đức Phật, thời kẻ còn cùng người mất đều được phước lợi!&#8221;<br>Quang Mục nghe xong, liền xuất tiền của, họa tượng Phật mà thờ cúng. Nàng lại đem lòng cung kính, khóc than chiêm ngưỡng đảnh lễ tượng Phật.<br>Đêm đó, nàng chiêm bao thấy thân của đức Phật sắc vàng sáng chói như hòn núi Tu Di. Đức Phật phóng ánh sáng mà bảo Quang Mục rằng: &#8220;Chẳng bao lâu đây thân mẫu ngươi sẽ thác sanh vào trong nhà của ngươi, khi vừa biết đói lạnh<br>thời liền biết nói&#8221;.<br>Sau đó, đứa tớ gái trong nhà sanh một đứa con trai, chưa đầy ba ngày đã biết nói. Trẻ đó buồn khóc mà nói với Quang Mục rằng:<br>&#8220;Nghiệp duyên trong vòng sanh tử phải tự lãnh lấy quả báo. Tôi là mẹ của người, lâu nay ở chốn tối tăm. Từ khi vĩnh biệt người, tôi phải đọa vào đại địa ngục. Nhờ phước lực của người, nên nay được thọ sanh làm kẻ hạ tiện, lại thêm số mạng ngắn ngủi, năm mười ba tuổi đây sẽ bị đọa vào địa ngục nữa. Người có phương thế gì làm cho tôi được thoát khỏi nỗi khổ sở?&#8221;<br>Nghe đứa trẻ nói, Quang Mục biết chắc là mẹ mình. Nàng nghẹn ngào khóc lóc mà nói với đứa trẻ rằng: &#8220;Đã là mẹ của tôi, thời phải tự biết tội của mình, đã gây tạo hạnh nghiệp chi mà bị đọa vào địa ngục như thế?&#8221;<br>Đứa trẻ đáp rằng: &#8220;Do hai nghiệp: giết hại sanh vật và chê bai mắng nhiếc, mà thọ báo khổ. Nếu không nhờ phước đức của người cứu nạn cho tôi, thời cứ theo tội nghiệp đó vẫn còn chưa được thoát khổ&#8221;.<br>Quang Mục hỏi rằng: &#8220;Những việc tội báo trong địa ngục ra làm sao?&#8221;<br>Đứa trẻ đáp rằng: &#8220;Những việc tội khổ nói ra càng bất nhẫn, dầu đến trăm nghìn năm cũng không thuật hết được. Quang Mục nghe xong, than khóc rơi lệ mà bạch cùng giữa hư không rằng:<br>&#8220;Nguyện cho thân mẫu tôi khỏi hẳn địa ngục khi mãn mười ba tuổi không còn có trọng tội cùng không còn đọa vào ác đạo nữa. Xin chư Phật trong mười phương thương xót chứng minh cho tôi, vì mẹ mà tôi phát nguyện rộng lớn như vầy: Như thân mẫu tôi khỏi hẳn chốn tam đồ và hạng hạ tiện cùng thân gái, cùng kiếp không còn thọ những quả báo xấu đó<br>nữa, tôi đối trước tượng của đức Thanh Tịnh Liên Hoa Mục Như Lai mà phát lời nguyện rằng: Từ ngày nay nhẫn về sau đến trăm nghìn muôn ức kiếp trong những thế giới nào mà các hàng chúng sanh bị tội khổ nơi địa ngục cùng ba ác đạo, tôi nguyện cứu vớt chúng đó làm cho tất cả đều thoát khỏi chốn ác đạo: địa ngục, súc sanh, và ngạ quỷ v.v… Những kẻ mắc phải tội báo như thế thành Phật cả rồi, vậy sau tôi mới thành bậc Chánh Giác&#8221;.<br>Quang Mục phát nguyện đó xong, liền nghe tiếng của đức Phật Thanh Tịnh Liên Hoa Mục Như Lai dạy rằng: &#8220;Này Quang Mục! Nhà ngươi rất có lòng từ mẫn, vì mẹ mà phát ra lời thệ nguyện rộng lớn như thế, thật là hay lắm! Ta quan sát thấy mẹ nhà ngươi lúc mãn mười ba tuổi, khi bỏ báo thân này sẽ thác sanh làm người Phạm Chí sống lâu trăm tuổi. Sau đó vãng sanh về cõi nước Vô Ưu sống lâu đến số không thể tính kể. Sau rốt sẽ thành Phật độ nhiều hạng người, Trời, số đông như số cát sông Hằng&#8221;.<br>Đức Phật bảo ngài Định Tự Tại Vương Bồ Tát rằng: &#8220;Vị La Hán phước lành độ Quang Mục thuở đó, chính là Vô Tận Ý Bồ Tát. Thân mẫu của Quang Mục là ngài Giải Thoát Bồ Tát.<br>Còn Quang Mục thời là ngài Địa Tạng Bồ Tát đây vậy. Trong nhiều kiếp lâu xa về trước ngài có lòng từ mẫn, phát ra Hằng hà sa số lời thệ nguyện độ khắp chúng sanh như thế. Trong đời sau, như có chúng sanh không làm lành, mà làm ác, nhẫn đến kẻ chẳng tin luật nhân quả, kẻ tà dâm, vọng ngữ, kẻ lưỡng thiệt, ác khẩu, kẻ hủy báng Đại Thừa. Những chúng sanh có tội nghiệp như thế chắc phải bị đọa vào ác đạo. Nếu gặp được hàng thiện tri thức khuyên bảo, quy y với Ngài Địa Tạng Bồ Tát chừng trong khoảng khảy móng tay, những<br>chúng sanh đó liền đặng thoát khỏi báo khổ nơi ba ác đạo. Nếu người nào có thể quy kính và chiêm ngưỡng đảnh lễ ngợi khen, cùng dâng cúng những y phục, đồ ăn vật uống, các thứ trân bảo… Thời người đó, trong trăm nghìn muôn ức kiếp sau, thường ở cõi trời hưởng thọ sự vui thắng vi diệu. Hoặc lúc phước trời hết, sanh xuống chốn nhân gian, vẫn còn thường làm vị Đế Vương trong trăm nghìn kiếp; lại nhớ được cội ngành nhân quả trong các đời trước của mình. Này Định Tự Tại Vương! Ngài Địa Tạng Bồ Tát có sức oai thần rất lớn không thể nghĩ bàn, nhiều sự lợi ích cho chúng sanh như thế. Các ông, những bậc Bồ Tát, phải ghi nhớ kinh này hầu tuyên truyền lưu bố rộng ra”. Ngài Định Tự Tại Vương bạch Đức Phật rằng: “Bạch đức Thế Tôn! Xin Phật chớ lo! Nghìn muôn ức đại Bồ Tát chúng con<br>đều có thể nương oai thần của Phật mà tuyên lưu rộng kinh này nơi cõi Diêm Phù Đề để cho lợi ích chúng sanh”. Ngài Định Tự Tại Vương Bồ Tát bạch với Đức Phật xong, bèn cung kính chắp tay lễ Phật mà lui ra.</li>



<li>TỨ THIÊN VƯƠNG HỎI PHẬT<br>Bấy giờ, bốn ông Thiên Vương đồng từ chỗ ngồi đứng dậy cung kính chắp tay mà bạch cùng Đức Phật rằng: “Bạch đức Thế Tôn! Ngài Địa Tạng Bồ Tát từ kiếp lâu xa nhẫn nại đã phát nguyện rộng lớn như thế, tại sao ngày nay mà vẫn độ chưa hết, Ngài lại còn phải phát lời nguyện rộng lớn nữa? Cúi mong đức Thế Tôn dạy cho chúng con rõ”. Đức Phật bảo bốn vị Thiên Vương rằng: “Hay thay! Hay thay! Nay vì muốn được sự lợi cho chúng sanh. Ta vì các ông cùng chúng thiên nhơn ở hiện tại và vị lai, mà nói những sự phương tiện của Ngài Địa Tạng Bồ Tát ở trong đường sanh tử nơi Diêm Phù Đề ở Ta Bà thế giới này, vì lòng từ mẫn xót thương mà cứu vớt, độ thoát tất cả chúng sanh mắc phải tội khổ”. Bốn ông Thiên Vương bạch rằng: “Vâng! Bạch đức Thế Tôn! Chúng con xin muốn được nghe”.</li>



<li>PHƯƠNG TIỆN GIÁO HÓA<br>Đức Phật bảo bốn ông Thiên Vương rằng:<br>“Từ kiếp lâu xa nhẫn đến ngày nay, Ngài Địa Tạng Bồ Tát độ thoát chúng sanh vẫn còn chưa mãn nguyện, Ngài thương xót chúng sanh mắc tội khổ đời này, lại quan sát vô lượng kiếp về sau, tội khổ cứ lây dây mãi không dứt. Vì lẽ đó nên Ngài phát ra lời trọng nguyện. Địa Tạng Bồ Tát ở trong cõi Diêm Phù Đề nơi thế giới Ta Bà, dùng trăm nghìn muôn ức phương chước để giáo hóa chúng sanh. Nầy bốn ông Thiên Vương! Ngài Địa Tạng Bồ Tát nếu gặp kẻ sát hại loài sanh vật, thời dạy rõ quả báo vì ương lụy đời trước mà phải bị chết yểu.<br>Nếu gặp kẻ trộm cắp, thời Ngài dạy rõ quả báo nghèo khốn khổ sở.<br>Nếu gặp kẻ tà dâm thời Ngài dạy rõ quả báo làm chim se sẻ, bồ câu, uyên ương.<br>Nếu gặp kẻ nói lời thô ác, thời Ngài dạy rõ quả báo quyến thuộc kình chống nhau.<br>Nếu gặp kẻ hay khinh chê, thời Ngài dạy rõ quả báo không lưỡi, miệng lở.<br>Nếu gặp kẻ nóng giận, thời Ngài dạy rõ quả báo thân hình xấu xí tàn tật.<br>Nếu gặp kẻ bỏn xẻn, thời Ngài dạy rõ quả báo cầu muốn không được toại nguyện.<br>Nếu gặp kẻ buông lung săn bắn, thời Ngài dạy rõ quả báo kinh hãi điên cuồng mất mạng.<br>Nếu gặp kẻ trái nghịch cha mẹ, thời Ngài dạy rõ quả báo trời đất tru lục.<br>Nếu gặp kẻ đốt núi rừng cây cỏ, thời Ngài dạy rõ quả báo cuồng mê đến chết.<br>Nếu gặp cha ghẻ, mẹ ghẻ ăn ở độc ác, thời Ngài dạy rõ quả báo thác sanh trở lại hiện đời bị roi vọt.<br>Nếu gặp kẻ dùng lưới bắt chim non, thời Ngài dạy rõ quả báo cốt nhục chia lìa.<br>Nếu gặp kẻ hủy báng Tam Bảo, thời Ngài dạy rõ quả báo đui, điếc, câm, ngọng.<br>Nếu gặp kẻ khinh chê giáo pháp thời Ngài dạy rõ quả báo ở mãi trong ác đạo.<br>Nếu gặp kẻ lạm phá của thường trụ, thời Ngài dạy rõ quả báo ức kiếp luân hồi nơi địa ngục.<br>Nếu gặp kẻ ô nhục người hạnh thanh tịnh và vu báng Tăng già, thời Ngài dạy rõ quả báo ở mãi trong loài súc sanh.<br>Nếu gặp kẻ dùng nước sôi hay lửa, chém chặt, giết hại sinh vật, thời Ngài dạy rõ quả báo phải luân hồi thường mạng lẫn<br>nhau.<br>Nếu gặp kẻ phá giới phạm trai, thời Ngài dạy rõ quả báo cầm thú đói khát.<br>Nếu gặp kẻ phung phí phá tổn của cải một cách phi lý, thời Ngài dạy rõ quả báo tiêu dùng thiếu hụt.<br>Nếu gặp kẻ kiêu mạn cống cao, thời Ngài dạy rõ quả báo hèn hạ bị người sai khiến.<br>Nếu gặp kẻ đâm chọc gây gổ, thời Ngài dạy rõ quả báo không lưỡi hay trăm lưỡi.<br>Nếu gặp kẻ tà kiến mê tín, thời Ngài dạy rõ quả báo thọ sanh vào chốn hẻo lánh.<br>Những chúng sanh trong cõi Diêm Phù Đề, từ nơi thân khẩu ý tạo ác, kết quả trăm nghìn muôn sự báo ứng như thế, nay chỉ nói sơ lược đó thôi.<br>Những nghiệp cảm sai khác của chúng sanh trong chốn Diêm Phù Đề như thế, Địa Tạng Bồ Tát dùng trăm nghìn phương chước để giáo hóa đó. Những chúng sanh ấy trước phải chịu lấy các quả báo như thế, sau lại đọa vào địa ngục trải qua nhiều kiếp không lúc nào<br>thoát khỏi. Vì thế nên các ông là bậc hộ vệ người cùng bảo trợ cõi nước, chớ để những nghiệp chướng đó nó làm mê hoặc chúng sanh”.<br>Bốn ông Thiên Vương nghe xong, rơi lệ than thở chấp tay lễ Phật mà lui ra.<br>&#8212; HẾT QUYỂN THƯỢNG &#8212;</li>
</ol>



<p>Quyển Trung<br>PHẨM THỨ NĂM: DANH HIỆU CỦA ĐỊA NGỤC</p>



<ol class="wp-block-list">
<li>PHỔ HIỀN HỎI<br>Lúc đó, Ngài Phổ Hiền Bồ Tát thưa cùng Ngài Địa Tạng Bồ Tát rằng: “Thưa Nhơn Giả! Xin Ngài vì Trời, Rồng, bát bộ và tất cả chúng sanh ở hiện tại cùng vị lai, mà nói danh hiệu của những địa ngục là chỗ thọ báo của những hạng chúng sanh bị tội khổ ở trong cõi Ta Bà cùng Diêm Phù Đề này, và nói những sự về quả báo không lành. Làm cho chúng sanh trong thời mạt pháp sau này biết rõ những quả báo đó”. Ngài Địa Tạng Bồ Tát đáp rằng: “Thưa Nhơn Giả! Nay tôi nương oai thần của Đức Phật cùng oai lực của Ngài mà nói danh<br>hiệu của các địa ngục, cùng những sự về tội báo và ác báo.</li>



<li>DANH HIỆU CỦA ĐỊA NGỤC<br>Thưa Nhơn Giả! Phương Đông của Diêm Phù Đề có dãy núi tên là Thiết Vi. Dãy núi đó tối thẳm không có ánh sáng của mặt trời, mặt trăng, trong đó có địa ngục lớn tên là Cực Vô Gián. Lại có địa ngục tên là Đại A Tỳ, lại có địa ngục tên là Tứ Giác, lại có địa ngục tên là Phi Đao, lại có địa ngục tên là Hõa Tiễn, lại có địa ngục tên là Giáp Sơn, lại có địa ngục tên là Thông Thương. Lại có địa ngục tên là Thiết Xa, lại có địa ngục tên là Thiết Sàng, lại có địa ngục tên là Thiết Ngưu, lại có địa ngục tên là Thiết Y, lại có địa ngục tên là Thiên Nhẫn, lại có địa ngục tên là Thiết Lư. Lại có địa ngục tên là Dương Đồng, lại có địa ngục tên là Bảo Trụ, lại có địa ngục tên là Lưu Hỏa, lại có địa ngục tên là Canh Thiệt, lại có địa ngục tên là Tỏa Thủ, lại có địa ngục tên là Thiên Cước. Lại có địa ngục tên là Đạm Nhãn, lại có địa ngục tên là Thiết Hoàn, lại có địa ngục tên là Tránh Luận, lại có địa ngục tên là Thiết Thù, lại có địa ngục tên là Đa Sân…”<br>Ngài Địa Tạng Bồ Tát nói rằng: “Thưa Nhơn Giả! Trong dãy núi Thiết Vi có những địa ngục như thế số nhiều vô hạn. Lại có địa ngục Kiếu Oán, địa ngục Bạt Thiệt, địa ngục Phẩn Niếu, địa ngục Đồng Toả, địa ngục Hỏa Tượng, địa ngục Hỏa Cẩu, địa ngục Hỏa Mã, địa ngục Hỏa Ngưu, địa ngục Hỏa Thạch, địa ngục Hỏa Sàng, địa ngục Hỏa Lương, địa ngục Hỏa Ưng, địa ngục Cứ Nha, địa ngục Bác Bì, địa ngục Ẩm Huyết, địa ngục Thiêu Thủ, địa ngục Thiêu Cước, địa ngục Đảo Thích, địa ngục Hỏa Ốc, địa ngục Thiết Ốc, địa ngục Hỏa Lang…<br>Những địa ngục như thế trong đó mỗi ngục lớn lại có những ngục nhỏ, hoặc một, hoặc hai, hoặc ba, hoặc bốn, nhẫn đến trăm nghìn, trong số đó danh hiệu chẳng đều đồng nhau”.<br>Ngài Địa Tạng Bồ Tát nói với Ngài Phổ Hiền Bồ Tát rằng: “Thưa Nhơn Giả! Đó đều là do chúng sanh trong cõi Diêm Phù Đề làm những điều ác mà tùy nghiệp chiêu cảm ra những địa ngục như thế. Nghiệp lực rất lớn, có thể sánh với núi Tu Di, có thể sâu dường biển cả, có thể ngăn đạo Thánh”. Vì thế chúng sanh chớ khinh điều quấy nhỏ mà cho là không tội, sau khi chết đều có quả báo dầu đến mảy mún đều phải chịu lấy. Chí thân như cha với con, mỗi người cũng theo nghiệp của mình mà đi khác đường, dầu có gặp nhau cũng chẳng bằng lòng chịu khổ cho nhau. Nay tôi nương oai lực của Đức Phật mà nói sơ lược những sự tội báo nơi địa ngục. Trông mong Nhơn Giả tạm nghe lời đó”.<br>Ngài Phổ Hiền Bồ Tát đáp rằng: “Dầu từ lâu tôi đã rõ tội báo nơi ba đường ác đạo rồi, nhưng tôi muốn Nhơn Giả nói ra để làm cho tất cả chúng sanh có tâm hạnh ác trong đời mạt pháp sau này, nghe được lời dạy của Nhơn Giả, mà biết quy hướng về Giáo Pháp của Phật”.</li>



<li>TỘI BÁO TRONG ĐỊA NGỤC<br>Ngài Địa Tạng Bồ Tát nói rằng: “Thưa Nhơn Giả! Những sự tội báo trong chốn địa ngục như vầy:<br>Hoặc có địa ngục kéo lưỡi người tội ra mà cho trâu cày trên đó, hoặc có địa ngục moi tim người tội để cho Quỷ Dạ Xoa<br>ăn, hoặc có địa ngục vạc dầu sôi sùng sục nấu thân người tội, hoặc có địa ngục đốt cột đồng cháy đỏ rồi bắt người tội<br>ôm lấy.<br>Hoặc có địa ngục từng bựng lửa lớn bay tấp vào người tội, hoặc có địa ngục toàn cả thuần là băng giá, hoặc có địa ngục<br>đầy vô hạn đồ phân tiểu, hoặc có địa ngục lao gai chông sắt, hoặc có địa ngục đâm nhiều giáo lửa.<br>Hoặc có địa ngục chỉ đập vai lưng, hoặc có địa ngục chỉ đốt chân tay, hoặc có địa ngục cho rắn sắt quấn cắn, hoặc có<br>địa ngục xua đuổi chó sắt, hoặc có địa ngục đóng ách lừa sắt.<br>Nhơn Giả! Những quả báo như thế trong mỗi mỗi ngục có trăm nghìn thứ khí cụ để hành hình, đều là bằng đồng, bằng<br>sắt, bằng đá, bằng lửa. Bốn loại khí cụ này do các hạnh nghiệp quấy ác của chúng sanh mà cảm vời ra.<br>Nếu tôi thuật rõ cả những sự về tội báo ở địa ngục, thời trong mỗi địa ngục lại còn có trăm nghìn thứ khổ sở, huống chi là<br>nhiều ngục!<br>Nay tôi nương sức oai thần của Đức Phật và vì Nhơn Giả hỏi mà nói sơ lược như thế. Nếu nói rõ cả thời cùng kiếp nói<br>cũng không hết”.<br>PHẨM THỨ SÁU: NHƯ LAI TÁN THÁN</li>



<li>PHẬT PHÓNG QUANG DẶN BẢO<br>Lúc đó khắp thân của Đức Thế Tôn phóng ra ánh sáng lớn soi khắp đến trăm nghìn muôn ức Hằng hà sa cõi nước của<br>chư Phật; trong ánh sáng đó vang ra tiếng lớn bảo khắp các cõi nước của chư Phật rằng:<br>“Tất cả hàng đại Bồ Tát và Trời, Rồng, Quỷ, Thần v.v… lắng nghe, hôm nay Ta khen ngợi rao bày những sự của Ngài Địa<br>Tạng Bồ Tát ở trong mười phương thế giới, hiện ra sức từ bi oai thần không thể nghĩ bàn, để cứu giúp tất cả tội khổ chúng<br>sanh.<br>Sau khi Ta diệt độ, thời hàng Bồ Tát Đại Sĩ các ông cùng với Trời, Rồng, Quỷ, Thần… nên dùng nhiều phương chước để giữ<br>ì ki h à là h ấ ả i l ài hú h đề khỏi ấ ả khổ à hứ ả h i Niế Bà ”<br>gìn kinh này, làm cho tất cả mọi loài chúng sanh đều khỏi tất cả sự khổ, mà chứng cảnh vui Niết Bàn”.</li>



<li>PHỔ QUẢNG THƯA THỈNH<br>Nói lời ấy xong, trong pháp hội có một vị Bồ Tát tên là Phổ Quảng cung kính chắp tay mà bạch cùng Đức Phật rằng:<br>“Nay con nghe Đức Thế Tôn ngợi khen Ngài Địa Tạng Bồ Tát có đức oai thần rộng lớn không thể nghĩ bàn như thế.<br>Trông mong đức Như Lai lại vì những chúng sanh trong thời mạt pháp sau này, mà tuyên nói các sự nhân quả của Ngài<br>Địa Tạng Bồ Tát làm lợi ích cho hàng Trời, Người. Làm cho hàng Trời, Rồng, bát bộ và chúng sanh trong đời sau kính vâng<br>lời của Đức Phật”.<br>Bấy giờ, Đức Thế Tôn, bảo Ngài Phổ Quảng Bồ Tát cùng trong tứ chúng rằng:<br>“Lắng nghe! Lắng nghe! Ta sẽ vì các ông nói lược về những sự phước đức của Ngài Địa Tạng Bồ Tát làm lợi ích cho người<br>cùng Trời”.<br>Ngài Phổ Quảng bạch Phật rằng “Vâng! Bạch đức Thế Tôn! Chúng con xin ham muốn nghe”.</li>



<li>PHẬT DẠY SỰ LỢI ÍCH<br>Đức Phật bảo Ngài Phổ Quảng Bồ Tát:<br>“Trong đời sau, như có người thiện nam, kẻ thiện nữ nào nghe được danh hiệu của Địa Tạng đại Bồ Tát, hoặc là chắp tay,<br>hoặc là ngợi khen, hoặc là đảnh lễ, hoặc là luyến mộ, người đó sẽ qua khỏi tội khổ trong ba mươi kiếp.<br>Này Phổ Quảng! Như có kẻ thiện nam hay người thiện nữ nào hoặc là họa vẽ hình tượng của Ngài Địa Tạng Bồ Tát rồi<br>chừng một lần chiêm ngưỡng, một lần đảnh lễ, người đó sẽ được sanh lên cõi trời Đao Lợi một trăm lần, không còn phải<br>bị sa đọa vào ác đạo nữa.<br>Ví dầu ngày kia phước trời đã hết mà sanh xuống nhơn gian, cũng vẫn làm vị Quốc Vương, không hề mất sự lợi lớn.</li>



<li>KHỎI NỮ THÂN<br>Như có người nữ nào nhàm chán thân gái, hết lòng cúng dường tượng vẽ của Địa Tạng Bồ Tát, và những tượng cốt bằng<br>đất, đá, keo, sơn, đồng, sắt, v.v… Ngày ngày thường đem hoa, hương, đồ ăn, đồ uống, y phục, gấm lụa, tràng phan, tiền<br>bạc, vật báu, v.v… cúng dường như thế mãi không thôi.<br>Người thiện nữ đó sau khi mãn một thân gái hiện tại, thời đến trăm nghìn muôn kiếp còn không sanh vào cõi nước có<br>người nữ, huống nữa là thọ thân gái! Trừ khi vì lòng từ cần phải thọ thân gái để độ chúng sanh. Nương nơi phước cúng<br>dường Địa Tạng Bồ Tát và sức công đức đó, trong trăm nghìn muôn kiếp chẳng còn thọ thân người nữ lại nữa.</li>



<li>THÂN XINH ĐẸP<br>Lại nữa, này Phổ Quảng Bồ Tát! Nếu có người nữ nào chán thân xấu xí và nhiều bịnh tật, đến nơi trước tượng của Ngài Địa<br>Tạng Bồ Tát chí tâm chiêm ngưỡng đảnh lễ chừng trong khoảng một bữa ăn, người nữ đó trong nghìn vạn kiếp thọ sanh<br>được thân hình tướng mạo xinh đẹp không có bịnh tật.<br>Người nữ xấu xí đó nếu không nhàm thân gái, thời trăm nghìn muôn ức đời thường làm con gái nhà Vua cho đến làm<br>Vương Phi, dòng dõi nhà quan lớn cùng con gái các vị đại Trưởng Giả tướng mạo đoan trang xinh đẹp.<br>Do vì có lòng chí thành chiêm ngưỡng đảnh lễ hình tượng của Ngài Địa Tạng Bồ Tát mà đặng phước như thế.</li>



<li>QUỶ THẦN HỘ VỆ<br>Lại nữa, này Phổ Quảng! Như có người thiện nam, người thiện nữ nào có thể đối trước tượng của Địa Tạng Bồ Tát mà trổi<br>các thứ kỹ nhạc, ngâm ca khen ngợi, dùng hương hoa cúng dường, cho đến khuyến hóa được một người hay nhiều người.<br>Những hạng người đó ở trong đời hiện tại cùng thuở vị lai sau, thường được trăm nghìn vị Quỷ Thần ngày đêm theo hộ vệ<br>còn không cho những việc hung dữ đến tai người đó, huống là để cho người đó phải chịu các tai vạ bất ngờ!</li>



<li>KHINH CHÊ MẮC TỘI<br>Lại nữa, này Phổ Quảng Bồ Tát! Trong đời sau, như có người ác và ác thần, ác quỷ nào thấy kẻ thiện nam, người thiện nữ<br>quy y cung kính, cúng dường ngợi khen chiêm ngưỡng đảnh lễ hình tượng của Ngài Địa Tạng Bồ Tát, mà vọng sanh khinh<br>chê là không có công đức cùng không có sự lợi ích, hoặc nhăn răng ra cười, hoặc chê sau lưng hay chê trước mặt, hoặc<br>khuyên bảo người khác cùng chê, hoặc khuyên bảo một người cùng chê hay nhiều người cùng chê, cho đến sanh lòng<br>chê bai trong chừng một niệm<br>chê bai trong chừng một niệm.<br>Thời những kẻ như thế đến sau khi một nghìn Đức Phật trong Hiền Kiếp nhập diệt cả, bị tội báo khinh chê nên còn ở trong<br>địa ngục A Tỳ chịu khổ rất nặng.<br>Qua khỏi Hiền Kiếp này mới được thọ thân Ngạ Quỷ, rồi mãi đến một nghìn kiếp sau mới thọ thân súc sanh; lại phải trải<br>qua đến một nghìn kiếp nữa mới đặng sanh làm người.<br>Dầu được làm người nhưng ở vào hạng bần cùng hèn hạ tật nguyền thiếu sứt, hay bị những nghiệp ác ràng buộc vào<br>thân, không bao lâu phải sa đọa vào ác đạo nữa.<br>Này Phổ Quảng! Khinh chê người khác cúng dường mà còn mắc phải tội báo xấu khổ như thế, huống nữa là tự sanh ác<br>kiến mà khinh chê phá diệt!</li>



<li>TIÊU DIỆT TỘI CHƯỚNG<br>Lại nữa, này Phổ Quảng Bồ Tát! Trong đời sau, như có người nam, người nữ nào đau nằm liệt mãi trên giường gối, cầu<br>sống hay muốn chết cũng đều không được. Hoặc đêm nằm chiêm bao thấy Quỷ dữ cho đến kẻ thân thích trong nhà,<br>hoặc thấy đi trên đường nguy hiểm hoặc bị bóng đè, hoặc với Quỷ Thần cùng đi.<br>Trải qua nhiều tháng nhiều năm, đến đỗi thành bịnh lao, bịnh bại…<br>Trong giấc ngủ kêu réo thê thảm sầu khổ. Đây đều bị nơi nghiệp đạo luận đối chưa quyết định là khinh hay trọng, nên<br>hoặc là khó chết, hoặc là khó lành.<br>Mắt phàm tục của kẻ nam, người nữ không thể biện rõ việc đó, chỉ phải nên đối trước tượng của chư Phật Bồ Tát, to tiếng<br>mà đọc tụng kinh này một biến.<br>Hoặc lấy những món vật riêng của người bịnh thường ưa tiếc, như y phục, đồ quí báu, nhà cửa ruộng vườn… đối trước<br>người bịnh cất tiếng lớn mà xướng lên rằng:<br>“Chúng tôi tên đó họ đó, nay vì người bịnh này đối trước kinh tượng đem những của vật này hoặc cúng dường kinh tượng,<br>hoặc tạo hình tượng của Phật Bồ Tát, hoặc xây dựng chùa tháp, hoặc sắm đèn dầu thắp cúng, hoặc cúng vào của thưòng<br>trụ”.<br>Xướng lên như vậy ba lần để cho người bịnh được nghe biết. Giả sử như thần thức của người bịnh đã phân tán đến hơi<br>thở đã dứt, thời hoặc một ngày, hai ngày, ba ngày, bốn ngày cho đến bảy ngày, cứ lớn tiếng xướng bạch như trên và lớn<br>tiếng tụng kinh này.<br>Sau khi người bịnh đó mạng chung thời dầu cho từ trước có tội vạ nặng nhẫn đến năm tội Vô Gián, cũng được thoát khỏi<br>hẳn, thọ sanh vào đâu cũng thường nhớ biết việc đời trước.<br>Huống nữa là người thiện nam, người thiện nữ nào tự mình biên chép kinh này, hoặc bảo người biên chép, hoặc tự mình<br>đắp vẽ hình tượng của Bồ Tát, cho đến bảo người khác vẽ đắp, người đó khi thọ quả báo chắc đặng nhiều lợi lớn.<br>Này Phổ Quảng Bồ Tát! Vì thế nên, nếu ông thấy có người nào đọc tụng kinh này, cho đến chỉ trong một niệm khen ngợi<br>kinh này, hoặc là có lòng cung kính đối với kinh, thời ông cần phải dùng trăm nghìn phương chước khuyến hóa người đó,<br>phát lòng siêng năng chớ đừng thối thất, thời có thể được trăm nghìn muôn ức công đức không thể nghĩ bàn ở hiện tại và<br>vị lai.</li>



<li>SIÊU ĐỘ VONG LINH<br>Lại nữa, này Phổ Quảng Bồ Tát! Như những chúng sanh đời sau, hoặc trong giấc ngủ, hoặc trong chiêm bao thấy các<br>hạng Quỷ, Thần nhẫn đến các hình lạ, rồi hoặc buồn bã, hoặc khóc lóc, hoặc rầu rĩ, hoặc than thở, hoặc hãi hùng, hoặc sợ<br>sệt…<br>Đó đều là vì hoặc cha mẹ, con em, hoặc chồng vợ, quyến thuộc trong một đời, mười đời, hay, trăm đời nghìn đời về thuở<br>quá khứ bị đọa lạc vào ác đạo chưa được ra khỏi, không biết trông mong vào phước lực nơi nào để cứu vớt nỗi khổ não,<br>nên mới về mách bảo với người có tình cốt nhục trong đời trước cầu mong làm phương tiện gì để hầu được thoát khỏi ác<br>đạo.<br>Này Phổ Quảng! Ông nên dùng sức oai thần, khiến hàng quyến thuộc đó đối trước hình tượng của chư Phật, chư Bồ Tát<br>chí tâm tự đọc kinh này, hoặc thỉnh người khác đọc đủ số ba biến hoặc đến bảy biến.<br>Như vậy kẻ quyến thuộc đương mắc trong ác đạo kia, khi tiếng tụng kinh đủ số mấy biến đó xong sẽ đặng giải thoát, cho<br>đến trong khi mơ ngủ không còn thấy hiện về nữa.<br>Ỏ Ô Ệ</li>



<li>KHỎI NÔ LỆ<br>Lại nữa, này Phổ Quảng! Như đời sau này có những hạng người hạ tiện, hoặc tớ trai, hoặc tớ gái nhẫn đến những kẻ<br>không được quyền tự do, rõ biết là do tội nghiệp đời trước gây ra cần phải sám hối đó, thời nên chí tâm chiêm ngưỡng<br>đảnh lễ hình tượng của Ngài Địa Tạng Bồ Tát.<br>Rồi trong bảy ngày niệm danh hiệu của Địa Tạng Bồ Tát đủ một muôn biến.<br>Những người trên đó sau khi mãn báo thân hạ tiện ở hiện đời trong nghìn muôn đời về sau thường sanh vào bực tôn quí,<br>trọn không bao giờ còn phải sa đọa vào ba đường ác khổ nữa.</li>



<li>SANH CON DỄ NUÔI<br>Lại vầy nữa, này Phổ Quảng Bồ Tát! Về trong thuở sau này, nơi cõi Diêm Phù Đề, trong hàng Sát Đế Lợi, Bà La Môn,<br>Trưởng Giả, Cư Sĩ, tất cả các hạng người, và những dân tộc dòng họ khác, như có người nào mới sinh đẻ hoặc con trai<br>hoặc con gái, nội trong bảy ngày, sớm vì đứa trẻ mới sinh ra đó mà tụng niệm Kinh điển không thể nghĩ bàn này, lại vì đứa<br>trẻ mà niệm danh hiệu của Ngài Địa Tạng Bồ Tát đủ một muôn biến.<br>Được vậy thời đứa trẻ hoặc trai hay là gái mới sanh ra đó, nếu đời trước nó có gây ra tội vạ chi cũng đặng thoát khỏi cả,<br>nó sẽ an ổn vui vẻ dễ nuôi, lại thêm được sống lâu.<br>Còn như nó là đứa nương nơi phước lực mà thọ sanh, thời đời nó càng được an vui hơn cùng sống lâu hơn.</li>



<li>NGÀY THẬP TRAI TỤNG KINH ĐƯỢC PHƯỚC<br>Lại vầy nữa, này Phổ Quảng! Trong mỗi tháng những ngày mùng một, mùng tám, mười bốn, rằm, mười tám, hăm ba, hăm<br>bốn, hăm tám, hăm chín và ba mươi, mười ngày trên đây là ngày mà các nghiệp tội kết nhóm lại để định là nặng hay nhẹ.<br>Tất cả những cử chỉ động niệm của chúng sanh trong cõi Nam Diêm Phù Đề không có điều gì chẳng phải là tội lỗi, huống<br>nữa là những kẻ buông lung giết hại, trộm cắp, tà dâm, vọng ngữ trăm điều tội lỗi.<br>Về đời sau, nếu có chúng sanh nào trong mười ngày trai kể trên đây, mà có thể đối trước hình tượng của chư Phật, Bồ Tát,<br>Hiền, Thánh để đọc tụng kinh này một biến, thời chung quanh chỗ người đó ở bốn hướng Đông, Tây, Nam, Bắc, trong<br>khoảng một trăm do tuần không có xảy ra những việc tai nạn.<br>Còn chính nhà của người đó ở, tất cả mọi người hoặc già hoặc trẻ về hiện tại và vị lai đến trăm nghìn năm xa khỏi hẳn các<br>ác đạo.<br>Trong mười ngày trai trên đây nếu có thể mỗi ngày tụng một biến kinh này, thời trong đời hiện tại hay làm cho người trong<br>nhà không phải mắc phải bịnh tật bất ngờ, đồ ăn mặc dư dật.<br>Này Phổ Quảng! Vì thế nên biết rằng Ngài Địa Tạng Bồ Tát có bất khả thuyết trăm nghìn muôn ức những sự oai thần lực<br>lớn nhiều lợi ích cho chúng sanh như thế.<br>Chúng sanh trong cõi Diêm Phù Đề này có nhân duyên lớn với Ngài Địa Tạng Đại Sĩ. Những chúng sanh đó hoặc được<br>nghe danh hiệu của Địa Tạng Bồ Tát, hoặc được thấy hình tượng của Địa Tạng Bồ Tát, cho đến nghe chừng ba chữ hay<br>năm chữ trong kinh này, hoặc một bài kệ hay một câu, thời những người đó hưởng sự an vui lạ thường trong đời hiện tại,<br>trăm nghìn muôn đời về vị lai thường được thác sanh vào nhà tôn quí, thân hình xinh đẹp”.</li>



<li>DANH HIỆU CỦA KINH<br>Khi nghe Đức Phật Như Lai tuyên bày ngợi khen Ngài Địa Tạng Đại Sĩ xong, Ngài Phổ Quảng Bồ Tát liền quỳ xuống chắp<br>tay mà bạch cùng Đức Phật rằng:<br>“Bạch Thế Tôn! Từ lâu con rõ biết vị Đại Sĩ này có thần lực cùng đại nguyện lực không thể nghĩ bàn như thế rồi, song nay<br>vì muốn những chúng sanh trong đời sau này rõ biết các sự lợi ích đó, nên con mới bạch hỏi cùng đức Như Lai.<br>Vâng! Con xin cung kính tin nhận lời Phật dạy.<br>Bạch đức Thế Tôn! Kinh này đặt tên là gì và định cho con lưu bố thế nào?”<br>Đức Phật bảo Ngài Phổ Quảng: “Kinh này có ba danh hiệu: một là ĐỊA TẠNG BỔN NGUYỆN KINH, cũng gọi là ĐỊA TẠNG<br>BỔN HẠNH KINH đây là tên thứ hai, cũng gọi là ĐỊA TẠNG BỔN THỆ LỰC KINH đây là tên thứ ba.<br>Do vì Ngài Địa Tạng Bồ Tát từ thuở kiếp lâu xa đến nay phát nguyện rộng lớn làm lợi ích cho chúng sanh, cho nên các ông<br>phải đúng theo tâm nguyện mà lưu hành truyền bá kinh này”.<br>Nghe Đức Phật dạy xong Ngài Phổ Quảng Bồ Tát tin chịu chắp tay cung kính lễ Phật lui ra<br>Nghe Đức Phật dạy xong, Ngài Phổ Quảng Bồ Tát tin chịu, chắp tay cung kính lễ Phật lui ra.<br>PHẨM THỨ BẢY: LỢI ÍCH CẢ KẺ CÒN NGƯỜI MẤT</li>



<li>KHUYÊN TU THÁNH ĐẠO<br>Lúc đó Ngài Địa Tạng đại Bồ Tát bạch cùng đức Phật rằng: “Bạch đức Thế Tôn! Con xem xét chúng sanh trong cõi Diêm<br>Phù sanh tâm động niệm không chi là chẳng phải tội.<br>Nếu gặp những việc về pháp sự lợi lành phần nhiều thối thất tâm tốt ban đầu. Còn hoặc khi gặp duyên sự bạo ác chẳng<br>lành lại lần lần thêm lớn: Những hạng người trên đó như kẻ mang đá nặng đi trong bùn lầy càng nặng thêm lần, càng<br>khốn đốn thêm lần, chân đạp lún lút sâu.<br>Những người đó hoặc gặp hàng thiện tri thức đội giùm đá bớt cho, hoặc là đội giùm hết cả, vì hàng thiện tri thức đó có<br>sức rất khỏe mạnh lại dìu đỡ người ấy khuyên gắng làm cho người ấy mạnh chân lên.<br>Nếu khi ra khỏi bùn lầy đến chỗ đất bằng phẳng rồi, thời cần phải xét nghĩ đến con đường hiểm xấu ấy, đừng có đi vào đó<br>nữa.<br>Bạch đức Thế Tôn! Những chúng sanh quen theo thói ác, bắt đầu từ mảy mún rồi lần đến nhiều vô lượng.<br>Đến khi những chúng sanh quen theo thói chẳng lành ấy sắp sửa mạng chung, thời cha mẹ cùng thân quyến vì người đó<br>mà tu tạo phước lành để giúp tiền đồ cho người đó.<br>Hoặc treo phan lọng và thắp đèn dầu, hoặc chuyển đọc Tôn Kinh, hoặc cúng dường tượng Phật cùng hình tượng của các<br>vị Thánh, cho đến niệm danh hiệu của Phật và Bồ Tát cùng Bích Chi Phật, làm cho một danh một hiệu thấu vào lỗ tai của<br>người sắp mạng chung, hoặc là nơi bổn thức nghe biết.<br>Cứ theo nghiệp ác của người đó đã gây tạo, suy tính đến quả báo, thời đáng lẽ người đó phải bị đọa vào ác đạo, song nhờ<br>thân quyến vì người đó mà tu nhân duyên Thánh đạo, cho nên các điều tội ác của người đó thảy đều tiêu sạch.<br>Như sau khi người đó đã chết, lại có thể trong bốn mươi chín ngày vì người ấy mà tu tạo nhiều phước lành, thời có thể<br>làm cho người chết đó khỏi hẳn chốn ác đạo, được sanh lên cõi trời hoặc sanh trong loài người hưởng lấy nhiều sự rất vui<br>sướng, mà kẻ thân quyến hiện tại đó cũng được vô lượng điều lợi ích.<br>Vì lẽ trên đó nên nay con đối trước đức Phật Thế Tôn cùng với hàng Trời, Rồng, tám bộ chúng, người với phi nhơn v.v… mà<br>có lời khuyên bảo những chúng sanh trong cõi Diêm Phù Đề, ngày lâm chung kẻ thân thuộc phải cẩn thận chớ có giết hại<br>và chớ gây tạo nghiệp duyên chẳng lành, cũng đừng tế lễ Quỷ, Thần, cầu cúng ma quái.<br>Vì sao thế? Vì việc giết hại cho đến tế lễ đó, không có một mảy mún chi lợi ích cho người chết cả, chỉ có kết thêm tội<br>duyên của người đó làm cho càng thêm sâu nặng hơn thôi.<br>Giả sử người chết đó hoặc là đời trước hay đời hiện tại vừa rồi, đã chứng đặng phần Thánh quả sẽ sanh vào cõi Trời, cõi<br>người, nhưng vì lúc lâm chung bị hàng thân thuộc gây tạo những nghiệp nhơn không lành, cũng làm cho người chết đó<br>mắc lấy ương lụy phải đối biện, chậm sanh vào chốn lành.<br>Huống gì là người kia chết, lúc sanh tiền chưa từng làm được chút phước lành, đều theo ác nghiệp của họ đã gây tạo mà<br>tự phải bị sa đọa vào ác đạo.<br>Hàng thân thuộc nỡ nào lại làm cho tội nghiệp của người ấy nặng thêm!<br>Cũng ví như, có người từ xứ xa đến, tuyệt lương thực đã ba ngày, đồ vật của người đó mang vác nặng hơn trăm cân, bỗng<br>gặp kẻ lân cận lại gởi một ít đồ vật nữa, vì vậy mà người xứ xa đó càng phải khốn khổ nặng nề thêm.<br>Bạch đức Thế Tôn! Con xem xét những chúng sanh trong cõi Diêm Phù Đề, ở nơi trong giáo pháp của Phật, nếu có thể<br>làm việc phước lành cho đến chừng bằng sợi lông, giọt nước, bằng một hột cát, một mảy bụi nhỏ, thời tất cả chúng sanh<br>đó đều tự mình được lợi ích cả.</li>



<li>TRƯỞNG GIẢ BẠCH HỎI<br>Khi Ngài Địa Tạng nói lời như thế xong, trong pháp hội có một vị Trưởng Giả tên là tên là Đại Biện.<br>Ông Trưởng Giả từ lâu đã chứng quả vô sanh hiện thân Trưởng Giả để hóa độ chúng sanh trong mười phương, ông chắp<br>tay cung kính mà thưa hỏi Ngài Địa Tạng Bồ Tát rằng:<br>“Thưa Đại Sĩ! Trong cõi Nam Diêm Phù Đề có chúng sanh nào sau khi mạng chung, mà hàng quyến thuộc hoặc kẻ lớn<br>người nhỏ, vì người chết đó mà tu các công đức, cho đến thiết trai cúng dường, làm những phước lành, thời người chết<br>đó ó đặ l i í h lớ ù đặ iải h á hă ?”<br>đó, có đặng lợi ích lớn cùng đặng giải thoát chăng?”</li>



<li>KẺ CÒN, NGƯỜI MẤT ĐỀU ĐƯỢC LỢI<br>Ngài Địa Tạng Bồ Tát đáp rằng: “Này ông Trưởng Giả! Nay tôi vì tất cả chúng sanh trong hiện tại này cùng thuở vị lai sau,<br>nương nơi oai thần của Đức Phật mà nói lược về việc đó.<br>Này ông Trưởng Giả! Những chúng sanh ở hiện tại hay vị lai, lúc sắp mạng chung mà nghe đặng danh hiệu của một Đức<br>Phật, danh hiệu của một Bồ Tát hay danh hiệu của một Bích Chi Phật, thời không luận là có tội cùng không tội đều được<br>giải thoát cả.<br>Như có người nam cùng người nữ nào lúc sanh tiền không tu tạo phước lành mà lại gây lấy những tội ác, sau khi người<br>mạng chung, hàng thân quyến kẻ lớn người nhỏ vì người chết mà tu tạo phước lợi làm tất cả việc về Thánh đạo, thời trong<br>bảy phần công đức người chết nhờ đặng một phần, còn sáu phần công đức thuộc về người thân quyến hiện lo tu tạo đó.<br>Bởi vì cớ trên đây, nên những người thiện nam cùng thiện nữ ở hiện tại và vị lai, nghe lời nói vừa rồi đó nên cố gắng mà tu<br>hành thời đặng hưởng trọn phần công đức.<br>Con Quỷ dữ vô thường kia không hẹn mà đến, thần hồn vơ vẩn mịt mờ chưa rõ là tội hay phước, trong bốn mươi chín ngày<br>như ngây như điếc, hoặc ở các ty sở để biện luận về nghiệp quả, khi thẩm định xong thời cứ y theo nghiệp mà thọ lấy quả<br>báo.<br>Trong lúc mà chưa biết chắc ra làm sao đó thời đã nghìn muôn sầu khổ, huống là phải bị đọa vào các ác đạo.<br>Thần hồn người chết đó khi chưa được thọ sanh, ở trong bốn mươi chín ngày, luôn luôn trông ngóng hàng cốt nhục thân<br>quyến tu tạo phước lành để cứu vớt cho.<br>Qua khỏi bốn mươi chín ngày thời cứ theo nghiệp mà thọ lấy quả báo.<br>Người chết đó, nếu là kẻ có tội thời trải qua trong nghìn năm không có ngày nào được thoát khỏi.<br>Còn nếu là kẻ phạm năm tội Vô Gián thời phải đọa vào đại địa ngục chịu mãi những sự đau khổ trong nghìn kiếp muôn<br>kiếp.<br>Lại vầy nữa, này ông Trưởng Giả! Sau khi những chúng sanh gây phạm tội nghiệp như thế mạng chung, hàng cốt nhục<br>thân quyến có làm chay để giúp thêm phước lành cho người chết đó.<br>Thời khi sắm sửa chưa rồi, cùng trong lúc đương làm chớ có đem nước gạo, lá rau v.v… đổ vãi ra nơi đất, cho đến các thứ<br>đồ ăn chưa dâng cúng cho Phật cùng Tăng thời chẳng được ăn trước.<br>Nếu như ăn trái phép và không được tinh sạch kỹ lưỡng, thời người chết đó trọn không được mảy phước nào cả.<br>Nếu có thể kỹ lưỡng giữ gìn tinh sạch đem dâng cúng cho Phật cùng Tăng, thời trong bảy phần công đức người chết<br>hưởng được một phần.<br>Nầy ông Trưởng Giả! Vì thế nên những chúng sanh trong cõi Diêm Phù, sau khi cha mẹ hay người thân quyến chết, nếu có<br>thể làm chay cúng dường, chí tâm cầu khẩn thời những người như thế, kẻ còn lẫn người mất đều đặng lợi ích cả”.<br>Lúc Ngài Địa Tạng nói lời này, tại cung trời Đao Lợi có số nghìn muôn ức na do tha Quỷ Thần cõi Diêm Phù Đề, đều phát<br>tâm Bồ Đề vô lượng.<br>Ông Trưởng Giả Đại Biện vui mừng vâng lời dạy, làm lễ mà lui ra.<br>PHẨM THỨ TÁM: CÁC VUA DIÊM LA KHEN NGỢI</li>



<li>DIÊM LA VƯƠNG CÙNG QUỶ VƯƠNG VÂN TẬP<br>Lúc đó trong dãy núi Thiết Vi có vô lượng Quỷ vương cùng với Vua Diêm La đồng lên cung trời Đao Lợi đến chỗ của Đức<br>Phật.<br>Các vị Quỷ vương đó tên là: Ác Độc Quỷ vương, Đa Ác Quỷ vương, Đại Tránh Quỷ vương, Bạch Hổ Quỷ vương, Huyết Hổ<br>Quỷ vương, Xích Hổ Quỷ vương, Tán Ương Quỷ vương, Phi Thân Quỷ vương, Điển Quang Quỷ vương, Lang Nha Quỷ vương,<br>Đạm Thú Quỷ vương, Phụ Thạch Quỷ vương, Chủ Hao Quỷ vương, Chủ Họa Quỷ vương, Chủ Phước Quỷ vương, Chủ Thực<br>Quỷ vương, Chủ Tài Quỷ vương, Chủ Súc Quỷ vương, Chủ Cầm Quỷ vương, Chủ Thú Quỷ vương, Chủ Mị Quỷ vương, Chủ<br>Sản Quỷ vương, Chủ Mạng Quỷ vương, Chủ Tật Quỷ vương, Chủ Hiểm Quỷ vương, Tam Mục Quỷ vương, Tứ Mục Quỷ<br>vương, Ngũ Mục Quỷ vương, Kỳ Lợi Thất Vương, Đại Kỳ Lợi Thất Vương, Kỳ Lợi Xoa Vương, Đại Kỳ Lợi Xoa Vương, A Na<br>Tra Vương, Đại A Na Tra Vương .<br>Những vị Đại Quỷ Vương như thế v.v… mỗi vị cùng với trăm nghìn Tiểu Quỷ Vương, cả thảy ở trong cõi Diêm Phù Đề, đều<br>có chức trách, đều có phần chủ trị.<br>Các vị Quỷ Vương đó cùng với Vua Diêm La nương sức oai thần của Đức Phật và oai lực của Ngài Địa Tạng Bồ Tát, đồng<br>lên đến cung trời Đao Lợi đứng qua một phía.</li>



<li>VUA DIÊM LA BẠCH PHẬT<br>Bấy giờ Vua Diêm La quỳ gối chắp tay bạch cùng Đức Phật rằng:<br>“Bạch đức Thế Tôn! Nay chúng con cùng các vị Quỷ Vương nương sức oai thần của Đức Phật và oai lực của Ngài Địa<br>Tạng Bồ Tát mới được lên đến đại hội nơi cung trời Đao Lợi này, mà cũng là vì chúng con đặng phước lành vậy.<br>Nay chúng con có chút việc nghi ngờ, dám bạch hỏi đức Thế Tôn, cúi xin đức Thế Tôn từ bi vì chúng con mà chỉ dạy cho”.<br>Đức Phật bảo Vua Diêm La rằng: “Cho phép ông hỏi, Ta sẽ vì ông mà dạy rõ”.<br>Bấy giờ, Vua Diêm La chiêm ngưỡng đảnh lễ đức Thế Tôn và ngó ngoái lại Ngài Địa Tạng Bồ Tát, rồi bạch cùng Đức Phật<br>rằng:<br>“Bạch đức Thế Tôn! Con xem xét Ngài Địa Tạng Bồ Tát ở trong sáu đường dùng trăm nghìn phương chước để cứu độ<br>những chúng sanh mắc phải tội khổ, Ngài không từ mệt nhọc.<br>Ngài Địa Tạng Bồ Tát đây có những sự thần thông không thể nghĩ bàn được như thế, nhưng sao hàng chúng sanh vừa<br>đặng thoát khỏi tội báo, không bao lâu lại phải bị đọa vào ác đạo nữa?<br>Bạch đức Thế Tôn! Ngài Địa Tạng Bồ Tát đã có thần lực chẳng thể nghĩ bàn như thế, nhưng tại vì cớ sao hàng chúng sanh<br>chẳng chịu nương về đường lành để được giải thoát mãi mãi? Cúi xin đức Thế Tôn dạy rõ việc đó cho chúng con”.</li>



<li>PHẬT GIẢNG SỞ NHƠN<br>Đức Phật bảo Vua Diêm La rằng: “Chúng sanh trong cõi Nam Diêm Phù Đề tánh tình cứng cỏi khó dạy khó sửa. Ngài Địa<br>Tạng đại Bồ Tát đây trong trăm nghìn kiếp đã từng cứu vớt những chúng sanh đó làm cho sớm được giải thoát.<br>Những người bị tội báo cho đến bị đọa vào đường ác lớn, Ngài Địa Tạng Bồ Tát dùng sức phương tiện nhổ sạch cội gốc<br>nghiệp duyên, mà làm cho chúng sanh đó nhớ biết những công việc ở đời trước.<br>Tại vì chúng sanh trong cõi Diêm Phù Đề kết nghiệp dữ, phạm tội nặng, nên vừa ra khỏi ác đạo, rồi trở vào lại, làm nhọc<br>cho Ngài Địa Tạng Bồ Tát phải trải qua nhiều số kiếp lo lắng để cứu độ chúng đó.<br>Ví như có người quên mất nhà mình, đi lạc vào con đường hiểm, trong con đường hiểm đó có rất nhiều thứ Quỷ Dạ Xoa,<br>cùng hùm sói, sư tử, rắn độc, bò cạp.<br>Người quên đường đó ở trong đường hiểm chừng giây lát nữa sẽ bị hại.<br>Có một vị tri thức hiểu nhiều Pháp thuật lạ, có thể trừ sự độc hại đó, cho đến có thể trừ Quỷ Dạ Xoa, các loài ác độc v.v….<br>chợt gặp người quên lạc đường kia đương muốn đi thẳng vào con đường hiểm nạn, bèn vội bảo rằng:<br>“Ô hay! Này ông kia! Có duyên sự gì mà vào con đường hiểm nạn này? Ông có Pháp thuật lạ gì có thể ngăn trừ các sự<br>độc hại chăng?”<br>Người lạc đường đó, bỗng nghe lời hỏi trên mới rõ là đường hiểm nạn, bèn liền lui trở lại muốn ra khỏi đường hiểm nạn<br>đó.<br>Vị thiện tri thức ấy nắm tay dìu dắt, dẫn người lạc lối đó ra ngoài đường hiểm nạn, khỏi các sự độc hại đến nơi con đường<br>tốt, làm cho được an ổn rồi bảo rằng:<br>“Nầy người lạc đường! Từ nay về sau chớ có đi vào con đường hiểm nạn đó nữa, ai mà vào con đường hiểm đó, ắt khó ra<br>khỏi đặng, lại còn phải bị tổn tánh mạng”.<br>Người lạc đường đó cũng sanh lòng cảm trọng. Lúc từ biệt nhau, vị tri thức lại dặn thêm:<br>“Nếu ông có gặp kẻ quen người thân cùng những người đi đường hoặc trai gái, thời ông bảo cho họ biết con đường đó có<br>rất nhiều sự độc hại, vào đó ắt phải tổn tánh mạng, chớ để cho những người ấy tự vào chỗ chết!”.<br>Vì thế nên Ngài Địa Tạng Bồ Tát đủ đức từ bi lớn, cứu vớt chúng sanh mắc tội khổ muốn cho chúng nó sanh lên cõi trời<br>t ế ê gà ịa ạ g ồ át đủ đức từ b ớ , cứu ớt c ú g sa ắc tộ ổ uố c o c ú g ó sa ê cõ t ờ<br>cõi người để hưởng lấy sự vui sướng tốt đẹp.<br>Những chúng sanh tội khổ đó rõ biết sự khốn khổ trong con đường ác nghiệp rồi, khi đã được ra khỏi, chẳng còn trở vào<br>nữa.<br>Như người quên đường kia lạc vào đường hiểm, gặp vị thiện tri thức dẫn dắt cho ra khỏi không bao giờ còn lạc vào nữa.<br>Gặp gỡ người khác lại bảo chớ vào đường ấy, tự nói rằng mình là quên đường nên đi lạc vào đó, nay đặng thoát khỏi rồi,<br>trọn hẳn không còn trở vào đường đó nữa.<br>Nếu còn đi vào đường ấy nữa, thời là còn mê lầm không biết đó là con đường hiểm nạn mà mình đã từng sa lạc rồi, hoặc<br>đến nỗi phải mất mạng.<br>Như chúng sanh bị đọa vào chốn ác đạo, Ngài Địa Tạng Bồ Tát dùng sức phương tiện cứu vớt cho được thoát khỏi, sanh<br>vào cõi trời, rồi cũng vẫn trở vào ác đạo nữa.<br>Nếu chúng sanh đó kết nghiệp quá nặng, thời ở mãi chốn địa ngục không lúc nào được thoát khỏi”.</li>



<li>QUỶ VƯƠNG BÀY THIỆN NGUYỆN<br>Bấy giờ Ác Độc Quỷ vương, chắp tay cung kính bạch cùng Đức Phật rằng:<br>“Bạch đức Thế Tôn! Chúng con là hàng Quỷ Vương số đông vô lượng, ở trong cõi Diêm Phù Đề, hoặc có vị làm lợi ích cho<br>người, hoặc có vị làm tổn hại cho người mỗi mỗi đều không đồng nhau.<br>Nhưng vì nghiệp báo khiến quyến thuộc chúng con đi qua thế giới, ác nhiều lành ít.<br>Đi qua sân nhà người, hoặc thành ấp, xóm làng, trại vườn, buồng nhà, trong đó như có người trai kẻ gái nào tu được chút<br>phước lành bằng mảy lông sợi tóc, cho đến treo một lá phan, một bảo cái, chút hương, chút hoa cúng dường tượng Phật<br>cùng tượng Bồ tát, hoặc đọc tụng Tôn kinh, đốt hương cúng dường một bài kệ một câu kinh v.v…<br>Hàng Quỷ Vương chúng con cung kính làm lễ người đó như kính lễ các Đức Phật thuở quá khứ, đương hiện tại cùng lúc vị<br>lai.<br>Chúng con truyền các hàng Tiểu Quỷ có oai lực lớn, và kẻ có phần chức trách về cuộc đất đai đó, đều phải hỗ trợ giữ gìn,<br>còn chẳng cho việc dữ cùng sự tai nạn bất kỳ, bịnh tật hiểm nghèo thình lình, cho đến những việc không vừa ý đến gần<br>chỗ của các nhà đó, huống là để vào cửa!”<br>Đức Phật khen Quỷ Vương rằng: “Hay thay! Tốt thay! Các ông cùng với Vua Diêm La có thể ủng hộ kẻ thiện nam người<br>thiện nữ như thế! Ta cũng truyền cho các vị trời Phạm Vương, Đế Thích hộ vệ các ông”.</li>



<li>CHỦ MẠNG TRÌNH THƯA<br>Khi Đức Phật nói lời ấy xong, trong Pháp hội có một vị Quỷ Vương tên là Chủ Mạng bạch cùng Đức Phật rằng:<br>“Bạch đức Thế Tôn! Bổn nghiệp duyên của con là cai quản về tuổi thọ của người trong cõi Diêm Phù Đề, khi sanh khi tử<br>con đều coi biết đó, cứ theo nơi bổn nguyện của con thời có lợi ích rất lớn cho mọi người.<br>Nhưng tại vì chúng sanh không hiểu ý con nên đến đỗi khi sanh khi tử đều không được an ổn. Tại làm sao thế?</li>



<li>KHI SANH NỞ NÊN LÀM LÀNH KIÊNG ÁC<br>Người trong cõi Diêm Phù Đề lúc mới sanh, không luận là con trai hay con gái, khi sắp sanh ra chỉ nên làm việc phước<br>lành thêm sự lợi ích cho nhà cửa, thời Thổ Địa vui mừng không xiết, ủng hộ cả mẹ lẫn con đều đặng nhiều sự an vui, hàng<br>thân quyến cũng được phước lợi.<br>Hoặc khi đã hạ sanh rồi, nên cẩn thận chớ có giết hại sanh vật để lấy những vị tươi ngon cung cấp cho người sản mẫu ăn,<br>cùng nhóm họp cả hàng quyến thuộc lại để uống rượu ăn thịt, ca xang đờn sáo, nếu làm những việc trên đó có thể làm<br>cho người mẹ đứa con chẳng đặng an vui.<br>Vì sao thế? Vì lúc sanh sản nguy hiểm đó có vô số loài Quỷ dữ cùng ma quái tinh mị muốn ăn huyết tanh.<br>Nhờ có con sớm đã sai các vị Thần Linh xá trạch Thổ Địa, bảo hộ mẹ con người ấy, làm cho được an vui mà đặng nhiều<br>lợi ích.<br>Người ấy thấy mình được an ổn, thời đáng lẽ nên làm việc phước lành để đền đáp công ơn Thổ Địa, mà trái lại giết hại loài<br>sanh vật, hội họp thân quyến, vì lẽ này, đã phạm tội lỗi tất phải tự thọ lấy tai vạ, mẹ con đều tổn.</li>



<li>LÚC CHẾT NÊN TU PHƯỚC<br>Lại người trong cõi Diêm Phù Đề đến lúc mạng chung, không luận là người lành hay kẻ dữ, con cũng đều muốn cho họ<br>không bị đọa lạc vào chốn ác đạo.<br>Huống gì là người lúc sanh tiền biết tu tạo cội phước lành giúp thêm oai lực cho con.<br>Trong cõi Diêm Phù Đề, những người làm lành đến lúc mạng chung cũng còn có trăm nghìn Quỷ thần ác đạo hoặc biến ra<br>hình cha mẹ, nhẫn đến hóa làm người thân quyến dắt dẫn thần hồn người chết làm cho đọa lạc vào chốn ác đạo, huống<br>chi là những kẻ lúc sanh tiền đã sẵn tạo nghiệp ác.<br>Bạch đức Thế Tôn! Những kẻ nam tử nữ nhơn ở cõi Diêm Phù Đề, lúc lâm chung thời thần thức hôn mê không biện được<br>lẽ lành điều dữ, cho đến mắt cùng tai không còn thấy nghe gì hết.<br>Hàng thân quyến của người lâm chung đó, nên phải sắm sửa làm sự cúng dường lớn, tụng đọc Tôn Kinh, niệm danh hiệu<br>của Phật và Bồ Tát, tu tạo nhân duyên phúc lành như thế, có thể cho người chết thoát khỏi chốn ác đạo, các thứ ma, quỷ,<br>ác thần thảy đều phải lui tan cả hết.<br>Bạch đức Thế Tôn! Tất cả chúng sanh lúc lâm chung nếu đặng nghe danh hiệu của một Đức Phật, danh hiệu của một Bồ<br>Tát, hoặc nghe một câu một bài kệ Kinh điển đại thừa, con xem xét thấy hạng người ấy, trừ năm tội Vô Gián cùng tội sát<br>hại, những nghiệp ác nho nhỏ đáng lẽ phải sa vào chốn ác đạo, liền đặng thoát khỏi cả”.</li>



<li>ĐỨC PHẬT CĂN DẶN<br>Đức Phật bảo Chủ Mạng Quỷ Vương rằng: “Ông vì có lòng đại từ nên có thể phát ra lời nguyện lớn ở trong sanh tử cứu độ<br>chúng sanh như thế.<br>Như về trong đời sau này, có kẻ nam người nữ nào đến lúc mạng chung, ông chớ quên lãng lời nguyện trên đó, đều nên<br>làm cho giải thoát mãi mãi được an vui”.<br>Chủ Mạng Quỷ Vương bạch cùng Đức Phật rằng: “Xin đức Thế Tôn chớ lo! Trọn đời của con luôn luôn ủng hộ chúng sanh<br>ở cõi Diêm Phù Đề lúc sanh lúc tử đều làm cho được an vui cả.<br>Chỉ trông mong các chúng sanh trong lúc sanh cùng lúc tử, tin theo lời của con đã nói trên thời đều giải thoát đặng lợi ích<br>lớn”.</li>



<li>ĐỨC PHẬT THỌ KÝ CHO QUỶ MẠNG<br>Bấy giờ Đức Phật bảo Ngài Địa Tạng Bồ Tát rằng: “Vị đại Quỷ Vương cai quản về tuổi thọ của mọi người đây đã từng trải<br>qua trăm nghìn đời làm vị Quỷ Vương, ủng hộ chúng sanh trong lúc sanh cùng khi tử.<br>Đó là bực Bồ Tát Đại Sĩ vì lòng từ bi phát nguyện hiện thân đại Quỷ chớ thiệt thời không phải Quỷ.<br>Quá một trăm bảy mươi kiếp sau, ông đó sẽ được thành Phật hiệu là Vô Tướng Như Lai, kiếp đó tên là An Lạc. Cõi nước<br>tên là Tịnh Trụ, thọ mạng của đức Phật đó đến số kiếp không thể tính đếm được.<br>Này Địa Tạng Bồ Tát! Những sự của vị đại Quỷ Vương đó không thể nghĩ bàn như thế, hàng Trời cùng người được vị ấy độ<br>thoát cũng đến số không thể hạn lượng”.<br>PHẨM THỨ CHÍN: XƯNG DANH HIỆU CHƯ PHẬT<br>Lúc đó Ngài Địa Tạng Bồ Tát bạch cùng Đức Phật rằng:<br>“Bạch đức Thế Tôn! Nay con vì chúng sanh trong đời sau mà phô bày sự lợi ích, làm cho trong vòng sanh tử đặng nhiều<br>lợi ích lớn. Cúi xin đức Thế Tôn cho phép con nói đó”.<br>Đức Phật bảo Ngài Địa Tạng Bồ Tát rằng:<br>“Nay ông muốn khởi lòng từ bi cứu vớt tất cả chúng sanh mắc phải tội khổ trong sáu đường, mà diễn nói sự chẳng thể<br>nghĩ bàn, bây giờ chính đã phải lúc, vậy ông nên nói ngay đi.<br>Giả sử ông có thể sớm làm xong nguyện đó, Ta dầu có vào Niết Bàn, cũng không còn phải lo ngại gì đến tất cả chúng<br>sanh ở hiện tại và vị lai nữa”.<br>Ngài Địa Tạng bạch cùng Đức Phật rằng: “Bạch đức Thế Tôn! Vô lượng vô kiếp về thuở quá khứ, có Đức Phật ra đời hiệu<br>là Vô Biên Thân Như Lai.<br>Như có người nam người nữ nào nghe danh hiệu của Đức Phật đây mà tạm lời sanh lòng cung kính, liền đặng siêu việt tội<br>nặng sanh tử trong bốn mươi kiếp, huống là vẽ đắp hình tượng cúng dường tán thán!<br>Người này được vô lượng vô biên phước lợi.<br>Lại hằng hà sa kiếp về thuở quá khứ, có Đức Phật ra đời hiệu là Bửu Thắng Như Lai.<br>Như có người nam người nữ nào được nghe danh hiệu của Đức Phật đây, phát tâm quy y với Phật trong khoảng khảy<br>móng tay, người này trọn hẳn không còn thối chuyển nơi đạo Vô thượng Chánh Giác.<br>Lại về thuở quá khứ, có đức Phật ra đời hiệu là Ba Đầu Ma Thắng Như Lai.<br>Như có người nam người nữ nào, nghe đến danh hiệu của Đức Phật đây thoát qua lỗ tai, người này sẽ được một nghìn<br>lần sanh lên sáu tầng trời cõi dục, huống nữa là chí tâm xưng niệm!<br>Lại bất khả thuyết bất khả thuyết vô số kiếp về thuở quá khứ có Đức Phật ra đời hiệu là Sư Tử Hống Như Lai.<br>Như có người nam người nữ nào nghe đến danh hiệu của Đức Phật đây, mà phát tâm quy y chừng trong một niệm, người<br>này sẽ đặng gặp vô lượng các Đức Phật xoa đảnh thọ ký cho.<br>Lại về thuở quá khứ, có Đức Phật ra đời hiệu là Câu Lưu Tôn Như Lai.<br>Như có người nam người nữ nào nghe đến danh hiệu của đức Phật đây, chí tâm chiêm ngưỡng lễ bái hoặc lại tán thán,<br>người này nơi pháp hội của một nghìn Đức Phật trong hiền kiếp làm vị đại Phạm Vương, đặng Phật thọ ký đạo Vô thượng<br>cho.<br>Lại về thuở quá khứ, có Đức Phật ra đời hiệu là Tỳ Bà Thi Như Lai.<br>Như có người nam người nữ nào được nghe danh hiệu của Đức Phật đây, thời mãi không còn sa đọa vào chốn ác đạo,<br>thường được sanh vào chốn trời người, hưởng lấy sự vui thù thắng vi diệu.<br>Lại vô lượng vô số hằng hà sa kiếp về thuở quá khứ có Đức Phật ra đời hiệu là Đa Bửu Như Lai.<br>Như có người nam người nữ nào nghe đến danh hiệu của Đức Phật đây, liền khỏi đọa vào ác đạo, thường ở tại cung trời<br>hưởng sự vui thù thắng vi diệu.<br>Lại về thuở quá khứ có Đức Phật ra đời hiệu Bửu Tướng Như Lai.<br>Như có người nam người nữ nào nghe đến danh hiệu của Đức Phật đây, sanh lòng cung kính, không bao lâu người ấy sẽ<br>đặng quả A La Hán.<br>Lại vô lượng vô số kiếp về thuở quá khứ có Đức Phật ra đời hiệu là Ca Sa Tràng Như Lai.<br>Như có người nam người nữ nào nghe đến danh hiệu của Đức Phật đây, thời người ấy sẽ siêu thoát tội sanh tử trong một<br>trăm đại kiếp.<br>Lại về thuở quá khứ có Đức Phật ra đời hiệu là Đại Thông Sơn Vương Như Lai.<br>Như có người nam người nữ nào nghe đến danh hiệu của Đức Phật đây, thời người này đặng gặp hằng hà chư Phật nói<br>nhiều pháp mầu cho, đều đặng thành đạo Bồ Đề.<br>Lại về thuở quá khứ, có đức Tịnh Nguyệt Phật, đức Sơn Vương Phật, đức Trí Thắng Phật, đức Tịnh Danh Vương Phật, đức<br>Trí Thành Tựu Phật, đức Vô Thượng Phật, đức Diệu Thinh Phật, đức Mãn Nguyệt Phật, đức Nguyệt Diện Phật, có bất khả<br>thuyết Đức Phật Thế Tôn như thế.<br>Tất cả chúng sanh trong thời hiện tại cùng thuở vị lai: hoặc là Trời, hoặc là người, hoặc người nam, hoặc người nữ chỉ<br>niệm được danh hiệu của một Đức Phật thôi, sẽ được vô lượng công đức, huống nữa là niệm được nhiều danh hiệu.<br>Những chúng sanh đó lúc sanh lúc tử đặng nhiều phước lợi, không còn phải đọa vào ác đạo nữa.<br>Như có người nào sắp mạng chung, hàng thân quyến trong nhà nhẫn đến một người vì người bịnh sắp chết đó mà niệm<br>lớn tiếng danh hiệu của một Đức Phật, thời người chết đó, trừ năm tội lớn Vô Gián, các nghiệp báo khác đều tiêu sạch cả.<br>Năm tội lớn vô gián kia dầu rất nặng nề đáng lẽ trải qua ức kiếp hẳn không ra khỏi đặng quả khổ, nhưng bởi lúc lâm<br>chung, nhờ người khác vì đó mà xưng niệm danh hiệu của Phật cho nên những tội nặng đó cũng lần lần tiêu sạch.<br>Huống là chúng sanh tự mình xưng danh hiệu của chư Phật, người này đặng vô lượng phước lành, trừ diệt vô lượng khổ.<br>&#8212; HẾT QUYỂN TRUNG &#8212;<br>Kinh Ðịa Tạng Bổn Nguyện<br>Quyển Hạ<br>PHẨM THỨ MƯỜI: SO SÁNH NHÂN DUYÊN CÔNG ĐỨC CỦA SỰ BỐ THÍ<br>Lúc đó Ngài Địa Tạng Bồ Tát Ma ha tát nương oai thần của đức Phật, từ chỗ ngồi đứng dậy, quỳ gối chắp tay bạch cùng<br>đức Phật rằng:<br>“Bạch đức Thế Tôn! Con xem xét chúng sanh trong nghiệp đạo so sánh về sự bố thí có nhẹ có nặng. Có người hưởng<br>phước trong một đời, có người hưởng phước trong mười đời, hoặc đến hưởng phước lợi lớn trong trăm đời, nghìn đời.<br>Những sự ấy tại làm sao thế? Cúi xin đức Thế Tôn dạy cho”.<br>Bấy giờ Đức Phật bảo Ngài Địa Tạng Bồ Tát rằng:<br>“Nay ta ở trong toàn thể chúng hội nơi cung trời Đao Lợi này giảng về sự so sánh công đức khinh trọng của việc bố thí ở<br>Diêm Phù Đề. Ông phải lắng nghe, ta sẽ vì ông mà nói!”.<br>Ngài Địa Tạng Bồ Tát bạch cùng Đức Phật rằng: “Chính con nghi ngờ về việc ấy. Con xin ưa muốn nghe”.<br>Đức Phật bảo Ngài Địa Tạng Bồ Tát rằng: “Trong cõi Nam Diêm Phù Đề có các vị Quốc Vương, hàng Tể Phụ quan chức<br>lớn, hàng đại Trưởng Giả, hàng đại Sát Đế Lợi, hàng đại Bà La Môn v.v…<br>Nếu gặp kẻ hết sức nghèo túng, nhẫn đến kẻ tật nguyền câm ngọng, kẻ điếc ngây mù quáng, gặp những hạng người thân<br>thể không được vẹn toàn như thế.<br>Lúc các vị Quốc Vương đó v.v… muốn bố thí, nếu có thể đủ tâm từ bi lớn, lại có lòng vui vẻ tự hạ mình, tự tay mình đem<br>của ra bố thí cho tất cả những kẻ đó, hoặc bảo người khác đem cho, lại dùng lời ôn hòa dịu dàng an ủi.<br>Các vị Quốc Vương, Đại Thần đó v.v… đặng phước lợi bằng phước lợi công đức cúng dường cho một trăm hằng hà sa chư<br>Phật vậy.<br>Tại làm sao? Chính bởi vị Quốc Vương đó v.v… phát tâm đại từ bi đối với kẻ rất mực nghèo cùng và với những người tàn<br>tật kia, cho nên phước lành được hưởng quả báo như thế này, trong trăm nghìn đời thường được đầy đủ những đồ thất<br>bảo, huống là những thứ để thọ dùng như y phục đồ uống ăn v.v…<br>Lại vầy nữa, này Địa Tạng Bồ Tát! Trong đời sau, như có vị Quốc Vương cho đến hàng Bà La Môn v.v… gặp chùa tháp thờ<br>Phật, hoặc hình tượng Phật, cho đến hình tượng Bồ Tát, Thanh Văn hay Bích Chi Phật, đích thân tự sửa sang, cúng dường<br>bố thí.<br>Vị Quốc Vương đó, sẽ đặng trong ba kiếp làm vị trời Đế Thích hưởng sự vui sướng tốt lạ.<br>Nếu có thể đem phước lành bố thí đó mà hồi hướng cho tất cả chúng sanh trong pháp giới, thời vị Quốc Vương đó, trong<br>mười kiếp thường được làm vị trời Đại Phạm Thiên Vương.<br>Lại thế này nữa, này Địa Tạng Bồ Tát! Trong đời sau, nếu có vị Quốc Vương cho đến hàng Bà La Môn v.v… gặp chùa tháp<br>của đức Phật thuở trước, hoặc là Kinh điển hay hình tượng bị hư sụp rách rã, liền có thể phát tâm tu bổ lại.<br>Vị Quốc Vương đó, hoặc tự mình đích thân lo sửa sang, hoặc khuyến hóa người khác cho đến khuyến hóa trăm nghìn<br>người khác cùng chung bố thí cúng dường để kết duyên lành.<br>Vị Quốc Vương đó, trong trăm nghìn đời thường làm Vua Chuyển Luân, còn những người khác chung cùng làm việc bố thí<br>đó, trong trăm nghìn đời thường làm vua nước nhỏ.<br>Nếu lại ở trước chùa tháp có thể phát tâm đem công đức cúng dường bố thí đó mà hồi hướng về đạo Vô thượng Chánh<br>Giác, được như vậy thời vị Quốc Vương đó cho đến tất cả mọi người đều sẽ thành Phật cả, bởi quả báo ấy rộng lớn vô<br>lượng vô biên.<br>Lại vầy nữa, này Địa Tạng Bồ Tát! Trong đời sau, như có vị Quốc Vương hay hàng Bà La Môn, gặp những người già yếu tật<br>bịnh và kẻ phụ nữ sanh đẻ, nếu trong khoảng chừng một niệm sanh lòng từ lớn đem thuốc men, cơm nước, giường chiếu<br>bố thí, làm cho những kẻ ấy được an vui.<br>Phước đức đó rất không thể nghĩ bàn đến được, trong một trăm kiếp thường làm Vua Trời Tịnh Cư, trong hai trăm kiếp<br>thường làm Vua sáu từng trời cõi Dục, không bao giờ còn đọa vào ác đạo, cho đến trong trăm nghìn đời, lỗ tai không hề<br>nghe đến tiếng khổ, rốt ráo sẽ thành Phật đạo.<br>Lại vầy nữa, này Địa Tạng Bồ Tát! Trong đời sau như có vị Quốc Vương và Bà La Môn, có thể làm những việc bố thí như<br>thế sẽ đặng vô lượng phước lành.<br>Nếu lại có thể đem phước đức đó hồi hướng đạo Bồ Đề, thời không luận là nhiều hay ít, rốt ráo sẽ thành Phật cả, huống gì<br>cả những quả trời Phạm Vương, trời Đế Thích, Vua Chuyển Luân.<br>Nầy Địa Tạng Bồ Tát, vì thế nên khuyến hóa tất cả chúng sanh đều phải học theo như thế.<br>Lại vầy nữa, này Địa Tạng Bồ Tát! Trong đời sau, như có thiện nam kẻ thiện nữ nào ở trong Phật pháp mà gieo trồng chút<br>ít cội phước lành chừng bằng cái lông, sợi tóc, hột cát, mảy bụi, phước lợi của những người đó sẽ hưởng thọ không thể ví<br>dụ thế nào cho được.<br>Lại vầy nữa, này Địa Tạng Bồ Tát! Trong đời sau, như có kẻ thiện nam cùng người thiện nữ nào gặp hình tượng Phật, hình<br>tượng Bồ Tát, hình tượng Bích Chi Phật, hình tượng Vua Chuyển Luân mà bố thí cúng dường, thời đặng vô lượng phước<br>lành, thường sanh ở cõi người, cõi trời hưởng sự vui thù thắng vi diệu.<br>Như có thể đem công đức hồi hướng cho cả pháp giới chúng sanh thời phước lợi của người ấy không thể ví dụ thế nào<br>cho được.<br>Lại vầy nữa, này Địa Tạng Bồ Tát! Trong đời sau, như có kẻ thiện nam người thiện nữ nào gặp Kinh điển Đại thừa hoặc<br>nghe thấy một bài kệ, một câu kinh, rồi phát tâm ân cần trân trọng cung kính ngợi khen, bố thí cúng dường, người ấy được<br>quả báo lớn vô lượng vô biên.<br>Nếu có thể đem phước đức hồi hướng cho khắp pháp giới cho chúng sanh thời phước lợi này không thể ví dụ thế nào cho<br>được.<br>Lại vầy nữa, này Địa Tạng Bồ Tát! Trong đời sau, như có kẻ thiện nam người thiện nữ nào gặp chùa tháp và Kinh điển đại<br>thừa, nếu là kinh tháp mới thời bố thí cúng dường, chiêm ngưỡng lễ lạy ngợi khen chắp tay cung kính.<br>Nếu gặp kinh tháp cũ, hoặc hư rách thời sửa sang tu bổ, hoặc riêng mình phát tâm làm, hoặc khuyến người khác cùng<br>đồng phát tâm.<br>Những người đồng phát tâm đây, trong ba mươi đời thường làm vua các nước nhỏ. Còn vị đàn việt chánh đó thường làm<br>Vua Chuyển Luân, lại dùng pháp lành mà giáo hóa vua các nước nhỏ.<br>Lại vầy nữa Địa Tạng Bồ Tát! Trong đời sau, như có người thiện nam kẻ thiện nữ nào ở nơi cội phước lành đã gieo trồng<br>trong Phật pháp, hoặc là bố thí cúng dường, hoặc là tu bổ chùa tháp, hoặc sửa sang Kinh điển, cho đến chừng bằng một<br>sợi lông, một mảy bụi, một hột cát, một giọt nước.<br>Những sự lành như thế không luận nhiều ít, chỉ có thể đem hồi hướng cho khắp pháp giới chúng sanh, thời công đức của<br>người đó trong nghìn đời thường hưởng thọ sự vui thượng diệu.<br>Còn như chỉ hồi hướng cho thân quyến trong nhà hoặc tự mình được lợi ích thôi, như thế thời sẽ hưởng quả vui trong ba<br>đời, cứ làm một phần sự lành, thời được hưởng báo tốt một muôn lần trội hơn.<br>Này Địa Tạng Bồ Tát! Những nhân duyên công đức về sự bố thí như thế đó”.<br>PHẨM THỨ MƯỜI MỘT: ĐỊA THẦN HỘ PHÁP<br>Lúc đó vị Kiên Lao Địa Thần bạch cùng Đức Phật rằng:<br>“Bạch đức Thế Tôn! Từ trước đến nay, con từng chiêm ngưỡng đảnh lễ vô lượng vị đại Bồ Tát, đều là những bực trí huệ<br>thần thông lớn không thể nghĩ bàn độ khắp mọi loài chúng sanh.<br>Ngài Địa Tạng Bồ Tát đây so với các vị Bồ Tát chỗ thệ nguyện rất là sâu rộng.<br>Bạch đức Thế Tôn! Ngài Địa Tạng Bồ Tát đây có nhân duyên lớn với chúng sanh trong Diêm Phù Đề.<br>Như Ngài Văn Thù, Ngài Phổ Hiền, Ngài Quan Âm, Ngài Di Lặc cũng hóa hiện trăm nghìn thân hình để độ chúng sanh<br>trong sáu đường, nhưng chỗ phát nguyện của các Ngài còn có lúc hoàn mãn.<br>Ngài Địa Tạng Bồ Tát đây phát thệ nguyện giáo hóa tất cả chúng sanh trong sáu đường trải đến kiếp số như số cát trong<br>trăm nghìn ức sông Hằng.<br>Bạch đức Thế Tôn! Con xem xét chúng sanh ở hiện tại nay và về vị lai sau, nơi chỗ sạch sẽ ở phương Nam trong cuộc đất<br>của mình ở, dùng đất đá tre gỗ mà dựng cất cái khám cái thất.<br>Trong đó có thể họa vẽ, cho đến dùng vàng, bạc, đồng, sắt đúc nắn hình tượng Địa Tạng Bồ Tát, đốt hương cúng dường,<br>chiêm lễ ngợi khen, thời chỗ người đó ở được mười điều lợi ích.<br>Những gì là mười điều?<br>Một là đất cát tốt mầu,<br>Hai là nhà cửa an ổn mãi mãi,<br>Ba là người đã chết được sanh lên cõi trời,<br>Bốn là những người hiện còn hưởng sự lợi ích,<br>Năm là cầu chi cũng toại ý cả,<br>Sáu là không có tai họa về nước và lửa,<br>Bảy là trừ sạch việc hư hao,<br>Tám là dứt hẳn ác mộng,<br>Chín là khi ra lúc vào có thần theo hộ vệ,<br>Mười là thường gặp bực Thánh Nhơn.<br>Bạch đức Thế Tôn! Chúng sanh trong đời sau cùng hiện tại nay, nếu ở nơi phần đất của mình cư trụ mà có thể làm ra sự<br>cúng dường Ngài Địa Tạng như thế, thời được sự lợi ích như vậy”.<br>Vị Kiên Lao Địa Thần lại bạch với đức Phật rằng:<br>“Bạch đức Thế Tôn! Trong đời sau này, như có người thiện nam kẻ thiện nữ nào ở trong chỗ của mình cư trụ mà có Kinh<br>điển này cùng hình tượng của đức Địa Tạng Bồ Tát, người đó lại có thể đọc tụng Kinh điển này và cúng dường hình tượng<br>của Bồ Tát.<br>Thời con dùng thần lực của con thường hộ vệ người đó, cho đến tất cả sự tai họa như nước, lửa, trộm, cướp, nạn lớn, nạn<br>nhỏ, v.v… thảy đều tiêu sạch”.<br>Đức Phật bảo Kiên Lao Địa Thần rằng: “Thần lực rộng lớn của ông, các thần khác ít ai bằng.<br>Vì cớ sao? Vì đất đai trong cõi Diêm Phù Đề đều nhờ ông hộ trợ, cho đến cỏ cây, cát đá, lúa mè, tre lau, gạo thóc, của báu,<br>tất cả những thứ từ đất mà có ra đều nhờ nơi sức thần của ông cả.<br>Nay ông lại tuyên bày những sự lợi ích của Ngài Địa Tạng Bồ Tát, thời công đức và thần thông của ông lại càng thêm trăm<br>nghìn lần trội hơn lúc thường.<br>Này Địa Thần! Trong đời sau, như có kẻ thiện nam người thiện nữ nào cúng dường Địa Tạng Bồ Tát cùng đọc tụng Kinh<br>điển này, chỉ có thể tu hành theo một việc mà trong Kinh “Địa Tạng Bồ Tát Bổn Nguyện” đã dạy.<br>Thời ông nên dùng thần lực của ông mà ủng hộ người đó, chớ để tất cả sự tai hại cùng sự không vừa ý đến nghe nơi tai,<br>huống nữa là để cho phải chịu.<br>Chẳng phải chỉ riêng mình ông hộ trì người đó, cũng có hàng quyến thuộc của Phạm Vương, Đế Thích, quyến thuộc của<br>chư Thiên ủng hộ người đó.<br>Tại sao lại đặng các vị Hiền Thánh ủng hộ như thế?<br>Đều do vì những người ấy chiêm lễ hình tượng của Địa Tạng Bồ Tát và đọc tụng Kinh “Bổn Nguyện” này, tự nhiên được rốt<br>ráo xa lìa biển khổ chứng đạo Niết Bàn an vui, vì thế nên đặng ủng hộ một cách lớn lao như thế”.<br>PHẨM THỨ MƯỜI HAI: THẤY NGHE ĐƯỢC LỢI ÍCH</li>



<li>ĐỨC PHẬT PHÓNG QUANG TUYÊN CÁO<br>Lúc đó, từ trên đảnh môn đức Thế Tôn phóng ra cả trăm nghìn muôn ức tia sáng lớn.<br>Như là: tia sáng sắc trắng, tia sáng sắc trắng lớn, tia sáng lành tốt, tia sáng ngọc, tia sáng ngọc lớn, tia sáng sắc tía, tia<br>sáng sắc tía lớn, tia sáng sắc xanh, tia sáng sắc xanh lớn, tia sáng sắc biếc, tia sáng sắc biếc lớn, tia sáng sắc hồng, tia<br>sáng sắc hồng lớn, tia sáng màu lục, tia sáng màu lục lớn, tia sáng màu vàng y, tia sáng màu vàng y lớn, tia sáng tướng<br>mây lành, tia sáng tướng mây lành lớn, tia sáng tướng nghìn vòng tròn, tia sáng tướng nghìn vòng tròn lớn, tia sáng vòng<br>tròn báu, tia sáng vòng tròn báu lớn, tia sáng vừng mặt trời, tia sáng vừng mặt trời lớn, tia sáng vừng mặt trăng, tia sáng<br>vừng mặt trăng lớn, tia sáng tướng cung điện, tia sáng tướng cung điện lớn, tia sáng tướng mây biển, tia sáng tướng mây<br>biển lớn.<br>Từ trên đảnh môn phóng ra những luồng ánh sáng như thế xong, lại nói ra những tiếng rất vi diệu mà bảo đại chúng rằng:<br>“Này tám bộ chúng Trời, Rồng, người cùng phi nhơn v.v…! Lắng nghe hôm nay Ta ở tại cung trời Đao Lợi tuyên bày ngợi<br>khen những sự lợi ích trong hàng trời người, những sự không thể nghĩ bàn, những sự về nhơn hạnh lên bực Thánh, những<br>sự chứng quả Thập Địa, những sự rốt ráo không lui sụt nơi đạo Vô thượng Chánh Đẳng Chánh Giác… của Ngài Địa Tạng<br>Bồ Tát”.</li>



<li>QUÁN THẾ ÂM CẦU THỈNH<br>Lúc Đức Phật nói lời trên đó vừa dứt tiếng, trong Pháp hội có một vị đại Bồ Tát hiệu là Quán Thế Âm từ chỗ ngồi đứng<br>dậy, quỳ gối chắp tay mà bạch cùng Đức Phật rằng:<br>“Bạch đức Thế Tôn! Ngài Địa Tạng Bồ Tát đầy đủ đức từ bi lớn, Ngài thương xót chúng sanh mắc tội khổ ở trong muôn<br>nghìn ức thế giới, Ngài hóa hiện ra nghìn muôn ức thân, bao nhiêu công đức và sức oai thần chẳng thể nghĩ bàn của Ngài,<br>con đã từng nghe đức Thế Tôn cùng vô lượng chư Phật trong mười phương, khác miệng đồng lời ngợi khen Ngài Địa<br>Tạng Bồ Tát.<br>Dầu cho các Đức Phật trong thuở quá khứ, thuở hiện tại và thuở vị lai nói công đức của Ngài Địa Tạng Bồ Tát vẫn chẳng<br>thể nói hết.<br>Vừa rồi lại được đức Thế Tôn bảo khắp trong đại chúng rằng đức Phật muốn tuyên nói các sự lợi ích của Ngài Địa Tạng<br>Bồ Tát.<br>Cúi mong đức Thế Tôn vì tất cả chúng sanh ở hiện tại và vị lai mà tuyên nói những sự chẳng thể nghĩ bàn của Ngài Địa<br>Tạng Bồ Tát, làm cho tám bộ chúng Trời, Rồng v.v… chiêm ngưỡng lễ lạy Ngài Địa Tạng Bồ Tát để đặng phước lành”.</li>



<li>ĐỨC PHẬT TÁN THÁN VÀ HỨA KHẢ<br>Đức Phật bảo Ngài Quán Thế Âm Bồ Tát: “Ông có nhân duyên rất lớn với chúng sanh trong cõi Ta Bà. Những hàng Trời,<br>Rồng, hoặc Quỷ, cho đến chúng sanh mắc phải tội khổ trong sáu đường nếu kẻ nào nghe danh hiệu của ông, thấy hình<br>tượng của ông, hay mến tưởng đến ông cùng khen ngợi ông.<br>Thời những chúng sanh ấy đều ở nơi đạo Vô thượng Chánh Đẳng Chánh Giác quyết chẳng còn thối chuyển, thường được<br>sanh vào cõi người, cõi trời hưởng đủ sự vui vi diệu, khi nhân quả sắp thành thục liền được Phật thọ ký cho.<br>Nay ông sẵn lòng từ bi lớn thương xót các loài chúng sanh và tám bộ chúng Trời, Rồng v.v… mà muốn nghe ta nói những<br>sự lợi ích chẳng thể nghĩ bàn của Ngài Địa Tạng Bồ Tát.<br>Ông nên lắng nghe cho kỹ, nay ta sẽ nói đó!”<br>Ngài Quán Thế Âm Bồ Tát bạch rằng: “Vâng! Bạch đức Thế Tôn con xin ưa muốn nghe”.</li>



<li>THẤY NGHE THÊM PHƯỚC TRỜI<br>Đức Phật bảo Ngài Quán Thế Âm Bồ Tát: “Trong các thế giới về thuở hiện tại nay và vị lai sau, có vị trời nào, hưởng phước<br>trời đã mãn, năm tướng suy hao hiện ra nơi thân, hoặc có kẻ phải đọa lạc vào nơi chốn ác đạo.<br>Các vị trời đó, hoặc nam hoặc nữ đương lúc tướng suy hao hiện, hoặc thấy hình tượng của Ngài Địa Tạng Bồ Tát, hoặc<br>nghe tên Ngài Địa Tạng Bồ Tát, rồi một lần chiêm ngưỡng một lần đảnh lễ.<br>Thời các vị trời đó càng thêm lớn phước trời, hưởng sự vui sướng rất nhiều không bao giờ còn phải bị đọa lạc vào ba ác<br>đạo nữa.<br>Huống chi là những người thấy hình tượng Bồ Tát, nghe danh hiệu Bồ Tát rồi đem các thứ hương hoa, đồ y phục, đồ uống<br>ăn, vật báu, chuỗi ngọc… mà bố thí cúng dường, thời người này đặng vô lượng vô biên công đức phước lợi.</li>



<li>NGƯỜI BỊNH ĐƯỢC LỢI<br>Lại vầy nữa này Quán Thế Âm! Trong các thế giới về thuở hiện tại nay và vị lai sau, những hàng chúng sanh trong sáu<br>đường, như có kẻ sắp mạng chung mà đặng nghe một tiếng danh hiệu của Ngài Địa Tạng Bồ Tát thoáng qua lỗ tai, thì kẻ<br>mạng chung đó không còn bị đọa vào chốn khổ ba ác đạo.<br>Huống chi là lúc sắp mạng chung, cha mẹ cùng hàng thân quyến đem của cải nhà cửa, vật báu, y phục v.v… của người<br>sắp mạng chung đó mà làm của chi phí để tô đắp hay họa vẽ hình tượng của Ngài Địa Tạng Bồ Tát.<br>Rồi làm cho người bịnh lúc chưa chết, hoặc mắt thấy tai nghe biết rằng hàng thân quyến đem nhà cửa vật báu v.v… vì<br>mình mà tô vẽ hình tượng của Ngài Địa Tạng Bồ Tát.<br>Người bịnh đó nếu có nghiệp báo phải mang lấy bịnh nặng, thời nhờ công đức này liền được lành mạnh, tuổi thọ thêm<br>lâu.<br>Còn nếu người bịnh đó có nghiệp báo số mạng đã hết, lại có đủ tất cả tội chướng, nghiệp chướng đáng lẽ phải đọa vào<br>chốn ác đạo, song vì nhờ công đức này nên sau khi mạng chung, liền được sanh vào cõi trời, cõi người hưởng quả vui thù<br>thắng vi diệu, tất cả tội chướng thảy đều tiêu sạch.</li>



<li>TIÊN VONG ĐƯỢC PHƯỚC<br>Lại vầy nữa, này Quán Thế Âm Bồ Tát! Về đời sau, nếu có kẻ nam tử, người nữ nhơn nào, hoặc lúc còn bú mớm, hoặc lúc<br>lên ba tuổi, hoặc lúc lên năm tuổi, mười tuổi trở xuống mà chết mất anh chị em.<br>Đến khi người đó khôn lớn nhớ tưởng đến cha mẹ cùng hàng thân quyến không rõ đọa lạc vào chốn nào, hay sanh về thế<br>giới nào, hoặc sanh lên cõi trời nào?<br>Người đó như có thể tô vẽ hình tượng của Ngài Địa Tạng Bồ Tát, nhẫn đến nghe danh hiệu của Ngài rồi một lần chiêm<br>ngưỡng một lần đảnh lễ, từ một ngày cho đến bảy ngày đừng thối thất tâm ban đầu, nghe danh hiệu thấy hình tượng<br>chiêm lễ cúng dường.<br>Thời quyến thuộc đã sớm khuất của người đó nếu do ác nghiệp mà bị đọa vào ác đạo tính ra phải chịu đến số kiếp, nay<br>nhờ công đức tô vẽ hình tượng của Ngài Địa Tạng Bồ Tát và chiêm lễ cúng dường của con cái, hay của anh em chị em,<br>nên liền đặng giải thoát, được sanh lên cõi trời, cõi người hưởng quả vui thù thắng vi diệu.<br>Còn như quyến thuộc đã sớm khuất của người đó có phước lành, đã được sanh lên cõi trời, cõi người hưởng thọ quả vui<br>thù thắng vi diệu rồi, thời nhờ công đức này càng thêm lớn nghiệp nhân về bậc Thánh, hưởng vô lượng quả vui.<br>Như người đó lại có thể trong hai mươi mốt ngày, chuyên lòng chiêm lễ hình tượng của Ngài Địa Tạng Bồ Tát và niệm lấy<br>danh hiệu của Ngài đủ số một muôn biến, sẽ đặng Địa Tạng Bồ Tát hiện vô biên thân, mách cho người đó rõ nơi cõi của<br>hàng thân quyến sớm khuất kia đã sanh về.<br>Hoặc trong giấc mộng, Địa Tạng Bồ Tát hiện sức thần thông lớn, tự dắt người đó đến các thế giới thấy hàng quyến thuộc.<br>Nếu người đó lại có thể trong mỗi ngày niệm danh hiệu của Bồ Tát một nghìn biến luôn đến một nghìn ngày.<br>Thời người đó sẽ được Bồ Tát sai các vị Quỷ Thần ở tại chỗ đó hộ vệ trọn đời, hiện đời món ăn đồ mặc dư dật, không có<br>các thứ bịnh khổ, cho đến các sự tai vạ còn không hề vào đến cửa, huống nữa là đến nơi thân.<br>Rốt ráo rồi người đó được Ngài Địa Tạng Bồ Tát xoa đảnh thọ ký cho.</li>



<li>NGUYỆN LỚN SỚM THÀNH<br>Lại vầy nữa, này Quán Thế Âm Bồ Tát! Về đời sau, như có kẻ thiện nam người thiện nữ nào muốn phát lòng từ rộng lớn để<br>cứu độ tất cả chúng sanh, muốn tu đạo Vô thượng Chánh Đẳng Chánh Giác, muốn thoát khỏi tam giới.<br>Những người đó thấy hình tượng và nghe danh hiệu của Ngài Địa Tạng Bồ Tát, rồi chí tâm quy y hoặc đem hương hoa, y<br>phục, vật báu, đồ ăn uống v.v… để cúng dường chiêm ngưỡng đảnh lễ, thời chỗ nguyện cầu của kẻ thiện nam cùng thiện<br>nữ đó mau được thành tựu không bao giờ bị chướng ngại.<br>Lại vầy nữa, này Quán Thế Âm Bồ Tát! Trong đời sau, như có kẻ thiện nam, người thiện nữ nào, muốn cầu trăm nghìn<br>muôn ức điều nguyện trăm nghìn muôn ức sự về hiện tại cùng vị lai, thời chỉ nên quy y chiêm ngưỡng đảnh lễ, cúng<br>d ờ i kh hì h ủ N ài Đị T Bồ Tá<br>dường, ngợi khen hình tượng của Ngài Địa Tạng Bồ Tát.<br>Được như thế thời nguyện những chi và cầu những chi thảy đều thành tựu cả.<br>Lại cầu mong Địa Tạng Bồ Tát, vận đức từ bi rộng lớn ủng hộ mãi cho, người đó trong giấc chiêm bao liền đặng Ngài Địa<br>Tạng Bồ Tát xoa đảnh thọ ký.</li>



<li>ĐƯỢC TRÍ HUỆ<br>Lại vầy nữa, này Quán Thế Âm Bồ Tát! Trong đời sau, như có người thiện nam, kẻ thiện nữ nào sanh lòng rất trân trọng đối<br>với Kinh điển Đại thừa, phát tâm bất tư nghị muốn đọc muốn tụng Kinh điển ấy.<br>Dầu gặp đặng bậc Minh sư truyền dạy cho những người đó học tập, nhưng đọc rồi quên rồi, trải đến cả tháng cả năm vẫn<br>không đọc tụng được.<br>Những kẻ thiện nam đó vì có nghiệp chướng đời trước chưa trừ sạch, cho nên ở nơi Kinh điển Đại thừa không có công<br>năng đọc tụng.<br>Những hạng người này khi nghe danh hiệu của Ngài Địa Tạng Bồ Tát, đem hết bổn tâm cung kính bày tỏ với Bồ Tát, rồi<br>dùng hương hoa, y phục, đồ ăn, tất cả đồ ngọa cụ v.v… cúng dường hình tượng Bồ Tát.<br>Dùng một chén nước trong để trước tượng Bồ Tát một ngày một đêm, sau đó cung kính chắp tay thỉnh để uống, xây mặt<br>về hướng Nam.<br>Khi nước vào miệng phải chí tâm trịnh trọng, uống nước xong, phải cữ ngũ tân, rượu, thịt, tà dâm, vọng ngữ và các việc<br>giết hại trong bảy ngày hoặc hai mươi mốt ngày.<br>Người thiện nam cùng thiện nữ đó trong giấc chiêm bao thấy Địa Tạng Bồ Tát hiện thân vô biên rưới nước trên đảnh của<br>người đó.<br>Sau khi thức dậy, người đó liền đặng thông minh, một phen nghe đến những Kinh điển Đại thừa ấy liền sẽ nhớ mãi, không<br>bao giờ còn quên một câu kệ nữa.</li>



<li>TAI NẠN TIÊU TRỪ<br>Lại vầy nữa, này Quán Thế Âm Bồ Tát! Về trong đời sau, như có những người nào ăn mặc không đủ, cầu chi cũng không<br>toại nguyện, hoặc thân nhiều tật bịnh, hoặc nhiều sự hung suy, nhà cửa không yên ổn, quyến thuộc chia lìa, hoặc các sự<br>tai vạ cứ đến khuấy nhiễu nơi thân luôn, trong giấc mộng thường phải kinh sợ.<br>Những người như thế đó, khi nghe danh hiệu của Ngài Địa Tạng Bồ Tát, thấy hình tượng của Địa Tạng Bồ Tát nên chí tâm<br>cung kính niệm đủ một muôn biến, thời những sự không toại ý trên đó sẽ tiêu sạch lần lần, liền đặng an vui, đồ ăn mặc dư<br>dật, cho đến trong giấc mộng thảy đều an ổn vui vẻ.</li>



<li>KHỎI HIỂM NGUY<br>Lại vầy nữa, này Quán Thế Âm Bồ Tát! Về đời sau, nếu có người thiện nam thiện nữ nào, hoặc nhơn sự làm ăn, hoặc nhơn<br>sự công chuyện tư, hoặc nhơn sự sanh cùng tử, hoặc nhơn việc gấp mà phải vào trong rừng núi, hay là qua sông vượt<br>biển hoặc gặp nước lụt lớn, hoặc đi ngang đường hiểm trở.<br>Người ấy trước khi đi nên niệm danh hiệu của Ngài Địa Tạng Bồ Tát một muôn biến, được thế thời đi qua nơi nào chốn<br>nào cũng có các vị Quỷ Thần hộ vệ, lúc đi đứng, khi nằm ngồi, đều được an ổn vui vẻ luôn, cho đến dầu gặp loài hùm sói<br>sư tử… nhưng tất cả thứ độc hại đều không thể phạm đến người đó được.<br>Đức Phật bảo Ngài Quán Thế Âm Bồ Tát: “Ngài Địa Tạng Bồ Tát có nhân duyên rất lớn với cõi Diêm Phù Đề. Nếu nói về<br>những sự mà các hàng chúng sanh thấy hình nghe tên của Ngài Địa Tạng Bồ Tát được lợi ích, thời dầu nói đến trong trăm<br>nghìn kiếp cũng không hết được.<br>Này Quán Thế Âm Bồ Tát! Vì thế Ông nên dùng thần lực mà lưu truyền kinh này làm cho chúng sanh trong cõi Ta Bà đây<br>mãi đến trăm nghìn kiếp được hưởng những sự an vui luôn”.<br>Bấy giờ đức Thế Tôn liền nói kệ rằng:<br>Ta xem Địa Tạng sức oai thần<br>Kiếp số Hằng sa khó tỏ trần,<br>Thấy nghe một niệm chiêm ngưỡng lễ,<br>Trời, người lợi ích sự không ngằn,<br>Hoặc Rồng hoặc Thần cùng nam nữ<br>Báo tận sẽ sa vào đường dữ,<br>Chí tâm quy mạng Đại Sĩ thân,<br>Tuổi thọ thêm nhiều trừ tội dữ.<br>Trẻ thơ chết mất mẹ cùng cha,<br>Huynh đệ chị em kẻ ruột rà,<br>Lớn khôn nghĩ đến đều không biết,<br>Nẻo dữ đường lành ở đâu là?<br>Hoặc vẽ, hoặc tô Đại Sĩ hình<br>Cảm thương chiêm lễ biệt chẳng đành,<br>Hăm mốt ngày luôn niệm danh hiệu.<br>Bồ tát hiện thân đến bên mình,<br>Chỉ rành quyến thuộc ở nơi nào,<br>Dầu sa ác thú cũng ra mau,<br>Nếu được không lui lòng kính ngưỡng,<br>Thánh ký, Bồ tát vuốt đầu trao.<br>Bồ Đề Vô thượng muốn tu hành,<br>Mong ra ba cõi khỏi tử sinh,<br>Người này đã phát lòng bi lớn<br>Trước nên chiêm lễ Đại Sĩ hình.<br>Nghe tên quy y Đấng trọn lành,<br>Cúng dường cung kính phát lòng thành,<br>Nghiệp chướng chẳng hề ngăn chướng đặng,<br>Bao nhiêu mong ước sớm viên thành.<br>Có kẻ phát tâm tụng Kinh sách<br>Muốn độ chúng sanh khỏi tai ách<br>Dầu lập nguyện lớn chẳng nghĩ bàn<br>Đọc rồi quên rồi luôn sót mất.<br>Người này nghiệp chướng nó làm mê<br>Học Đại thừa Kinh khó mọi bề<br>Y phục, uống ăn, các ngọa cụ,<br>Cúng dường Địa Tạng với hương hoa.<br>Dùng chén nước trong bày trước tượng,<br>Cách một ngày đêm bưng lấy uống,<br>Sanh lòng ân trọng cữ ngũ tân<br>Rượu thịt, tà dâm cùng dối luống.<br>Trong hăm mốt ngày chớ sát sanh,<br>Chuyên lòng tưởng niệm Thượng Nhơn danh,<br>Chiêm bao thấy rõ Tôn dung hiện,<br>Thức rồi, liền đặng trí khôn lanh.<br>Đại Thừa Kinh giáo nghe qua tai,<br>Nghìn vạn đời sau nhớ chẳng sai,<br>Chính nhờ Đại Sĩ oai thần lớn<br>Thầm giúp người kia có huệ tài.<br>Chúng sanh nghèo khổ lại ốm đau,<br>Cửa nhà họa hoạn, người lìa nhau<br>Ngủ mê mộng mị không an giấc,<br>Cầu muốn hỏng hư chẳng được nào!<br>Dốc lòng chiêm lễ Địa Tạng Ngài,<br>Bao nhiêu việc ác thảy tiêu ngay<br>Nhẫn đến chiêm bao đều an cả,<br>Quỷ Thần phò hộ, của dư xài.<br>Muốn qua sông biển, đến núi rừng,<br>Cầm thú độc nguy, giặc đón đường,<br>Ác Thần, Ác Quỷ, mưa gió dữ,<br>Nhiều nỗi gian nan khốn không lường,<br>Sắp sửa ra đi đối trước tượng<br>Cúng dường kính lễ cùng chiêm ngưỡng.<br>Núi rừng biển cả có vào trong<br>Ác tai tiêu sạch thường an sướng.<br>Quán Âm lắng nghe ta nói rõ<br>Địa Tạng vô lượng oai thần đó,<br>Trăm nghìn muôn kiếp thuật chẳng rồi,<br>Rộng tuyên Đại Sĩ đầy sức nọ!<br>Như người nghe đến Địa Tạng danh,<br>Thấy hình chiêm lễ hết lòng thành,<br>Hương hoa, ăn uống, dâng y phục,<br>Trăm nghìn báo đẹp hưởng điều lành.<br>Nếu hay đem công hồi pháp giới,<br>Rốt ráo thành Phật, sanh tử khỏi,<br>Quán Âm nên biết gắng tuyên bày,<br>Truyền khắp Hằng sa nhiều nước cõi!<br>PHẨM THỨ MƯỜI BA: DẶN DÒ CỨU ĐỘ NHƠN THIÊN</li>



<li>ĐỨC PHẬT GIAO PHÓ<br>Lúc đó Đức Thế Tôn giơ cánh tay sắc vàng xoa đảnh Ngài Địa Tạng đại Bồ Tát mà bảo rằng:<br>“Địa Tạng! Địa Tạng! Thần lực của ông không thể nghĩ bàn, đức từ bi của ông không thể nghĩ bàn, trí huệ của ông không<br>thể nghĩ bàn.<br>Dầu cho các Đức Phật ở mười phương khen ngợi tuyên nói những sự chẳng thể nghĩ bàn của ông trăm nghìn muôn kiếp<br>cũng chẳng hết đặng.<br>Này Địa Tạng! Địa Tạng! Ông nên nhớ hôm nay Ta ở trong cung trời Đao Lợi, nơi pháp hội lớn có trăm nghìn muôn ức bất<br>khả thuyết, bất khả thuyết tất cả các đức Phật, các vị Bồ Tát, các hàng Trời, Rồng, tám bộ chúng đây, một lần nữa đem<br>các hàng chúng sanh, những kẻ ở trong nhà lửa chưa ra khỏi ba cõi, mà giao phó cho ông.<br>Ông chớ để các chúng sanh đó phải bị đọa vào các ác đạo dầu là chừng một ngày, một đêm, huống chi lại để cho chúng<br>nó phải bị đọa lạc vào địa ngục ngũ Vô Gián cùng địa ngục A Tỳ, mãi đến nghìn muôn ức kiếp không lúc nào ra khỏi ư!<br>Này Địa Tạng! Tâm tánh của chúng sanh cõi Diêm Phù Đề không định, phần đông đều quen theo thói ác, thoảng hoặc có<br>người phát tâm lành, nhưng rồi không bao lâu liền thối thất, còn như duyên ác lại luôn luôn tăng trưởng.<br>Cũng vì lẽ đó, nên ta phải chia thân này ra trăm nghìn ức để hóa độ, thuận theo căn tánh của chúng đó hầu làm cho<br>chúng đó được giải thoát.<br>Này Địa Tạng! Hôm nay ta ân cần đem chúng Trời, Người giao phó cho ông.<br>Trong đời sau, như có hàng Trời, Người cùng thiện nam, thiện nữ nào trồng chút ít căn lành ở trong Phật pháp, chừng<br>bằng sợi lông, mảy trần, hột cát, giọt nước, thời ông nên dùng đạo lực của ông ủng hộ người đó, làm cho người đó tu tập<br>lần lần đạo hạnh Vô thượng, chớ để họ thối thất.<br>Lại vầy nữa, này Địa Tạng Bồ Tát! Trong đời sau, hoặc có trời hay người nào phải theo nghiệp mà thọ báo bị đọa vào chốn<br>ác đạo, đến khi bị đọa vào ác đạo vừa bước đến cửa địa ngục, những chúng sanh đó nếu có thể niệm đặng danh hiệu<br>của đức Phật, hay danh hiệu của một vị Bồ Tát, cùng một câu kệ Kinh điển Đại thừa.<br>Ông nên dùng thần lực của ông tìm phương chước cứu vớt các chúng sanh đó, ông nên hiện thân ra trước kẻ đó, phá tan<br>địa ngục làm cho họ được sanh lên cõi trời hưởng những sự vui vi diệu thù thắng”.<br>Bấy giờ đức Thế Tôn liền nói kệ rằng:<br>Đời nay đời sau chúng Thiên, Nhơn<br>Nay ta ân cần dặn bảo ông;<br>Dùng đại thần thông quyền độ họ,<br>Đừng cho ác đạo đọa vào trong.</li>



<li>BỒ TÁT TUÂN CHỈ<br>Bấy giờ Ngài Địa Tạng đại Bồ Tát quỳ gối chắp tay bạch cùng Đức Phật rằng:<br>“Bạch đức Thế Tôn! Cúi xin đức Thế Tôn chớ lo.<br>Trong đời sau, nếu có người thiện nam cùng kẻ thiện nữ nào, đối với trong Phật pháp có một niệm cung kính, con cũng<br>dùng trăm nghìn phương tiện độ thoát người đó, làm cho mau đặng giải thoát trong đường sanh tử, huống nữa là nghe<br>các việc lành rồi luôn luôn tu hành, tự nhiên ở nơi đạo Vô thượng không bao giờ còn thối chuyển”.</li>



<li>HƯ KHÔNG TẠNG BẠCH HỎI<br>Lúc Ngài Địa Tạng Bồ Tát bạch lời nói trên đó vừa xong, trong pháp hội có một vị Bồ Tát tên là Hư Không Tạng bạch cùng<br>đức Phật rằng:<br>“Bạch đức Thế Tôn! Từ khi con đến cung trời Đao Lợi này nghe đức Như Lai ngợi khen oai thần thế lực không thể nghĩ<br>bàn của Ngài Địa Tạng Bồ Tát.<br>Trong đời sau, hoặc có người thiện nam cùng thiện nữ nào, cho đến tất cả hàng Trời, Rồng v.v… nghe Kinh điển này và<br>nghe danh tự của Địa Tạng Bồ Tát, cùng với chiêm lễ hình tượng Địa Tạng Bồ Tát, thời những kẻ ấy được bao nhiêu điều<br>phước lợi?<br>Cúi mong đức Thế Tôn vì tất cả hàng chúng sanh ở hiện tại và vị lai mà nói lược việc ấy cho”.</li>



<li>HAI MƯƠI TÁM ĐIỀU LỢI<br>Đức Phật bảo Ngài Hư Không Tạng Bồ Tát: “Lắng nghe! Lắng nghe cho kỹ! Ta sẽ vì ông mà nói rõ việc ấy cho.<br>Trong đời sau, người thiện nam cùng thiện nữ nào thấy hình tượng của Ngài Địa Tạng Bồ Tát và nghe kinh này, cho đến<br>đọc tụng, dùng hương hoa, đồ ăn món uống, y phục, vật báu mà bố thí cúng dường ngợi khen chiêm lễ thời kẻ ấy được<br>hai mươi tám điều lợi ích như sau đây:</li>



<li>Các hàng Trời, Rồng thường hộ niệm.</li>



<li>Quả lành càng ngày càng thêm lớn.</li>



<li>Chứa nhóm nhơn vô thượng của Thánh.</li>



<li>Mãi không còn thối thất đạo Bồ Đề.</li>



<li>Đồ mặc món ăn dồi dào đầy đủ.</li>



<li>Những bệnh tật không đến nơi thân.</li>



<li>Khỏi những tai nạn về lửa và nước.</li>



<li>Không có bị hại vì trộm cướp.</li>



<li>Người khác thấy đến sanh lòng cung kính.</li>



<li>Các hàng Quỷ Thần theo hộ trì.</li>



<li>Đời sau thân gái sẽ chuyển thành thân trai.</li>



<li>Đời sau sẽ làm con gái các hàng Vương Giả, Đại Thần.</li>



<li>Thân tướng xinh đẹp.</li>



<li>Phần nhiều được sanh về cõi trời.</li>



<li>Hoặc làm bậc vua chúa.</li>



<li>Có trí sáng biết rõ việc trong những đời trước.</li>



<li>Có mong cầu chi cũng được toại ý.</li>



<li>Quyến thuộc an vui.</li>



<li>Các tai vạ bất ngờ đều dứt sạch.</li>



<li>Các nghiệp về ác đạo đều trừ hẳn.</li>



<li>Đi đến đâu cũng đều không bị sự trở ngại.</li>



<li>Đêm nằm chiêm bao an ổn vui vẻ.</li>



<li>Những người thân tộc đã chết nếu có tội thời được khỏi khổ.</li>



<li>Những người thân tộc đã chết nếu có tội thời được khỏi khổ.</li>



<li>Nếu về đời trước có phước thời được thọ sanh về cõi vui sướng.</li>



<li>Các bậc Thánh ngợi khen.</li>



<li>Căn tánh lanh lợi thông minh.</li>



<li>Giàu lòng từ mẫn.</li>



<li>Rốt ráo thành Phật.</li>



<li>BẢY ĐIỀU LỢI<br>Lại vầy nữa, này Hư Không Tạng Bồ Tát! Như hàng Trời, Rồng, Quỷ, Thần ở hiện tại và vị lai nghe danh hiệu của Ngài Địa<br>Tạng Bồ Tát, đảnh lễ hình tượng của Ngài Địa Tạng Bồ Tát, hoặc nghe các sự về bổn nguyện tu hành của Ngài Địa Tạng<br>Bồ Tát mà ngợi khen chiêm lễ, thời sẽ đặng bảy điều lợi ích:</li>



<li>Mau chứng bậc Thánh.</li>



<li>Nghiệp ác tiêu diệt.</li>



<li>Chư Phật đến ủng hộ.</li>



<li>Không thối thất Bồ Đề.</li>



<li>Bổn lực được tăng trưởng.</li>



<li>Việc đời trước đều rõ biết.</li>



<li>Rốt ráo thành Phật”.</li>



<li>ĐẠI HỘI TÁN THÁN<br>Bấy giờ, bất khả thuyết tất cả các Đức Phật và đại Bồ Tát cùng tám bộ chúng Trời, Rồng… ở mười phương đến dự Pháp<br>hội đó, nghe đức Thích Ca Mâu Ni Phật ngợi khen tuyên bày sức oai thần lớn chẳng thể nghĩ bàn của Ngài Địa Tạng Bồ<br>Tát, đều khen là việc chưa từng có.<br>Lúc đó trời Đao Lợi rưới vô lượng hương hoa, thiên y, chuỗi ngọc để cúng dường đức Thích Ca Mâu Ni Phật và Địa Tạng<br>Bồ Tát xong rồi, tất cả đại chúng trong pháp hội đều lại chiêm lễ chắp tay mà lui ra.<br>Nam mô Đại Nguyện Địa Tạng Vương Bồ Tát Ma Ha Tát.<br>&#8212; HẾT QUYỂN HẠ &#8212;</li>
</ol>
]]></content:encoded>
					
		
		
			</item>
		<item>
		<title>Kinh Dược Sư hay còn gọi là Dược Sư Như Lai Bổn Nguyện Công Đức Kinh</title>
		<link>https://phatgiaovinhphuc.vn/2024/12/11/kinh-duoc-su-hay-con-goi-la-duoc-su-nhu-lai-bon-nguyen-cong-duc-kinh/</link>
		
		<dc:creator><![CDATA[trast1]]></dc:creator>
		<pubDate>Wed, 11 Dec 2024 02:53:04 +0000</pubDate>
				<category><![CDATA[Kinh tạng]]></category>
		<guid isPermaLink="false">https://phatgiaovinhphuc.vn/?p=2918</guid>

					<description><![CDATA[Kinh Dược Sư hay còn gọi là Dược Sư Như Lai Bổn Nguyện Công Đức Kinh. Trì tụng kinh này sẽ giúp tiêu bớt ác nghiệp, tăng trưởng nghiệp lành. Việt dịch: HT. Thích Huyền Dung, Tam Tạng NGHI THỨC KHAI KINH DƯỢC SƯ (Thắp đèn đốt hương, đứng ngay ngắn, chắp tay ngang ngực, [...]]]></description>
										<content:encoded><![CDATA[


<p>Kinh Dược Sư hay còn gọi là Dược Sư Như Lai Bổn Nguyện Công Đức Kinh. Trì tụng kinh này sẽ giúp tiêu bớt ác nghiệp, tăng trưởng nghiệp lành. Việt dịch: HT. Thích Huyền Dung, Tam Tạng</p>



<p>NGHI THỨC KHAI KINH DƯỢC SƯ</p>



<p>(Thắp đèn đốt hương, đứng ngay ngắn, chắp tay ngang ngực, chủ lễ mật niệm)</p>



<p>CHÚ TỊNH PHÁP GIỚI</p>



<p>Án lam xóa ha&nbsp; (3 lần)</p>



<p>CHÚ TỊNH TAM NGHIỆP</p>



<p>Án ta phạ bà phạ,</p>



<p>truật đà ta phạ,</p>



<p>đạt mạ ta phạ,</p>



<p>bà phạ truật độ hám. (3 lần)</p>



<p>(Quỳ ngay thẳng, cầm 3 cây hương dâng ngang trán, chủ lễ niệm)</p>



<p>CÚNG HƯƠNG</p>



<p>Giới hương, Định Hương, dữ Huệ hương</p>



<p>Giải thoát, Giải thoát tri kiến hương</p>



<p>Sáng ngời, chiếu khắp mười phương.</p>



<p>Hiện tiền Tam Bảo, năm Hương cúng dường.</p>



<p>Nam Mô Hương Cúng Dường Bồ Tát Ma Ha Tát.&nbsp; (3 lần, 1 tiếng chuông xá 1 xá)</p>



<p>CẦU NGUYỆN</p>



<p>Hôm nay, đệ tử chúng con,phụng trì di giáo Đức Bổn Sư Thích Ca Mâu Ni Phật,trì tụng Dược Sư Kinh Chú, xưng tán Hồng Danh,tu hành công đức, ngưỡng nguyện mười phương Tam Bảo,từ bi gia hộ tên họ……………….đương đời phiền não dứt sạch, nghiệp chướng tiêu trừ,thường được an lành, xa lìa khổ ách,cùng hết thảy chúng sanh,một thời đồng chứng Vô Thượng Chánh Đẳng Chánh Giác.(1 tiếng chuông, xá 1 xá)</p>



<p>KHEN NGỢI PHẬT</p>



<p>Đấng Pháp Vương vô thượng</p>



<p>Ba cõi chẳng ai bằng</p>



<p>Thầy dạy khắp trời, người</p>



<p>Cha lành chung bốn loài</p>



<p>Quy y tròn một niệm</p>



<p>Dứt sạch nghiệp ba kỳ</p>



<p>Xưng dương cùng tán thán</p>



<p>Ức kiếp không cùng tận.&nbsp; (1 tiếng chuông, xá 1 xá)</p>



<p>QUÁN TƯỞNG PHẬT</p>



<p>Phật, chúng sanh tánh thường rỗng lặng</p>



<p>Đạo cảm thông không thể nghĩ bàn</p>



<p>Lưới đế châu ví đạo tràng</p>



<p>Mười phương Phật bảo hào quang sáng ngời</p>



<p>Trước bảo tọa thân con ảnh hiện</p>



<p>Cúi đầu xin thệ nguyện quy y.&nbsp; (1 tiếng chuông, xá 1 xá)</p>



<p>ĐẢNH LỄ</p>



<p>Chí tâm đảnh lễ:</p>



<p>Nam Mô tận hư không biến pháp giới quá, hiện, vị lai thập phương chư Phật,</p>



<p>Tôn Pháp Hiền Thánh Tăng thường trụ Tam Bảo. (1 tiếng chuông, lạy 1 lạy)</p>



<p>Chí tâm đảnh lễ:</p>



<p>Nam Mô Ta Bà Giáo Chủ Bổn Sư Thích Ca Mâu Ni Phật, Đương Lai Hạ Sinh Di Lặc Tôn Phật, Đại Trí Văn Thù Sư Lợi Bồ</p>



<p>Tát, Đại Hạnh Phổ Hiền Bồ Tát,</p>



<p>Hộ Pháp Chư Tôn Bồ Tát,Linh Sơn Hội Thượng Phật Bồ Tát.</p>



<p>&nbsp;(1 tiếng chuông, lạy 1 lạy)</p>



<p>Chí tâm đảnh lễ:</p>



<p>Nam Mô Tây Phương Cực Lạc Thế Giới Đại Từ Đại Bi A Di Đà Phật,</p>



<p>Đại Bi Quán Thế Âm Bồ Tát,Đại Thế Chí Bồ Tát</p>



<p>,Đại Nguyện Địa Tạng Vương Bồ Tát,Thanh Tịnh Đại Hải Chúng Bồ Tát.</p>



<p>&nbsp;(1 tiếng chuông, lạy 1 lạy)</p>



<p>TÁN DƯƠNG CHI</p>



<p>Cành dương nước tịnh nhiệm mầu</p>



<p>Rưới tắt muôn vàn cảnh khổ đau</p>



<p>Chư Thiên mát mẻ, tâm thanh tịnh</p>



<p>Nhân thế vui tươi, cảnh an nhàn</p>



<p>Cam lồ rưới khắp trần gian</p>



<p>Lửa sân dứt sạch, sen vàng nở hoa.</p>



<p>Nam Mô Thanh Lương Địa Bồ Tát. (3 lần, 1 tiếng chuông)</p>



<p>CHÚ ĐẠI BI</p>



<p>NAM MÔ ĐẠI BI HỘI THƯỢNG PHẬT BỒ TÁT (3 lần, 1 tiếng chuông)</p>



<p>Thiên Thủ Thiên Nhãn Vô Ngại Đại Bi Tâm Đà La Ni.</p>



<p>Nam mô hắc ra đát na đa ra dạ da.</p>



<p>Nam mô a rị da, bà lô kiết đế thước bát ra da,bồ đề tát đỏa bà da, ma ha tát đỏa bà da, ma ha ca lô ni ca da.</p>



<p>Án, tát bàn ra phạt duệ, số đát na đát tỏa.</p>



<p>Nam mô tất kiết lật đỏa y mông a rị da,</p>



<p>bà lô kiết đế thất Phật ra lăng đà bà.</p>



<p>Nam mô na ra cẩn trì, hê rị ma ha bàn đa sa mế,</p>



<p>tát bà a tha đậu thâu bằng, a thệ dựng, tát bà tát đa,</p>



<p>na ma bà dà, ma phạt đạt đậu, đát điệt tha.</p>



<p>Án a bà lô hê, lô ca đế, ca ra đế, di hê rị,</p>



<p>ma ha bồ đề tát đỏa, tát bà tát bà,</p>



<p>ma ra ma ra, ma hê ma hê rị đà dựng,</p>



<p>cu lô cu lô kiết mông, độ lô độ lô phạt xà da đế,</p>



<p>ma ha phạt xà da đế, đà ra đà ra,địa rị ni, thất Phật ra da, dá ra dá ra.</p>



<p>Mạ mạ phạt ma ra, mục đế lệ, y hê di hê,</p>



<p>thất na thất na, a ra sâm Phật ra xá lợi,</p>



<p>phạt sa phạt sâm, Phật ra xá da,</p>



<p>hô lô hô lô ma ra, hô lô hô lô hê rị,</p>



<p>ta ra ta ra, tất rị tất rị, tô rô tô rô,</p>



<p>bồ đề dạ bồ đề dạ, bồ đà dạ bồ đà dạ,</p>



<p>di đế rị dạ, na ra cẩn trì, địa rị sắc ni na,</p>



<p>ba dạ ma na, ta bà ha.Tất đà dạ, ta bà ha.</p>



<p>Ma ha tất đà dạ, ta bà ha.Tất đà du nghệ, thất bàn ra dạ, ta bà ha.</p>



<p>Na ra cẩn trì, ta bà ha.</p>



<p>Ma ra na ra, ta bà ha.</p>



<p>Tất ra tăng a mục khê da, ta bà ha.</p>



<p>Ta bà ma ha a tất đà dạ, ta bà ha.</p>



<p>Giả kiết ra a tất đà dạ, ta bà ha.</p>



<p>Ba đà ma kiết tất đà dạ, ta bà ha.</p>



<p>Na ra cẩn trì bàn đà ra dạ, ta bà ha.</p>



<p>Ma bà lị thắng yết ra dạ, ta bà ha.</p>



<p>Nam mô hắc ra đát na đa ra dạ da.</p>



<p>Nam mô a rị da, bà lô kiết đế, thước bàn ra dạ, ta bà ha.</p>



<p>Án tất điện đô, mạn đa ra, bạt đà dạ, ta bà ha. (1 tiếng chuông)</p>



<p>KỆ KHAI KINH</p>



<p>Thăm thẳm cao siêu</p>



<p>Pháp nhiệm mầu</p>



<p>Trăm ngàn muôn kiếp khó tìm cầu,</p>



<p>Con nay nghe thấy chuyện trì niệm,</p>



<p>Nguyện tỏ Như Lai nghĩa nhiệm mầu.</p>



<p>Nam Mô Bổn Sư Thích Ca Mâu Ni Phật.&nbsp; (3 lần, 1 tiếng chuông)</p>



<p>PHẬT NÓI</p>



<p>KINH DƯỢC SƯ</p>



<p>LƯU LY QUANG NHƯ LAI BỔN NGUYỆN CÔNG ĐỨC</p>



<p>Ta nghe như vầy: “Một thuở nọ, Đức Bạt Già Phạm đi châu du giáo hóa các nước, đến thành Quảng Nghiêm, ở nghỉ dưới cây Nhạc Âm, cùng với tám ngàn vị đại Bí Sô, ba vạn sáu ngàn vị đại Bồ Tát, các hàng Quốc Vương, Đại Thần, Bà La Môn, các hàng Cư Sĩ, Thiên, Long, Trời, Người, cả thảy đồng vây quanh Phật, cung kính thỉnh Ngài thuyết Pháp.” (1 tiếng chuông)</p>



<p>Lúc bấy giờ, ông Mạn Thù Thất Lợi pháp vương tử nhờ oai thần của Phật, từ chỗ ngồi đứng dậy, vén áo bên hữu và gối bên mặt quì sát đất, chắp tay hướng về Phật và bạch rằng: “Bạch Đức Thế Tôn, cúi mong Ngài nói rõ những danh hiệu, những bổn nguyện rộng lớn, cùng những công đức thù thắng của chư Phật, để cho những người đang nghe Pháp, nghiệp chướng tiêu trừ, và để cho chúng hữu tình ở đời tượng pháp được nhiều lợi lạc về sau”.</p>



<p>Đức Thế Tôn khen ông Mạn Thù Thất Lợi: “Hay thay, Mạn Thù Thất Lợi! Ngươi lấy lòng đại bi yêu cầu ta nói danh hiệu và bổn nguyện công đức của chư Phật, vì muốn cho chúng hữu tình khỏi bị nghiệp chướng ràng buộc, lợi ích an vui trong đời tượng pháp. Nay ngươi nên lắng nghe và suy nghĩ kỹ, Ta sẽ vì Ông mà nói.&nbsp;</p>



<p>Nầy Ông Mạn Thù Thất Lợi, ở phương Đông, cách đây hơn mười căn dà sa, có một thế giới tên là Tịnh Lưu Ly. Đức giáo chủ cõi ấy hiệu là Dược Sư Lưu Ly Quang Như Lai, Ứng Chánh Đẳng Giác, Minh Hạnh Viên Mãn, Thiện Thệ, Thế Gian Giải, Vô Thượng Sĩ, Điều Ngự Trượng Phu, Thiên Nhân Sư, Phật, Bạt Già Phạm. Này Mạn Thù Thất Lợi, Đức Dược Sư Lưu Ly Quang Như Lai, khi còn tu hạnh Bồ Tát có phát mười hai hạnh nguyện lớn,</p>



<p>khiến cho chúng hữu tình cầu chi được nấy.(1 tiếng chuông)</p>



<p>-Nguyện thứ nhất: Ta nguyện đời sau, khi chứng được quả vị Chánh Đẳng Chánh Giác, thân ta có hào quang sáng chói, chiếu khắp vô số thế giới, khiến cho chúng hữu tình đều có đủ ba mươi hai tướng tốt và tám mươi tướng phụ như thân của ta vậy.</p>



<p>-Nguyện thứ hai: Ta nguyện đời sau, khi đặng Đạo Bồ Đề, thân ta như ngọc lưu ly, trong ngoài sáng suốt, tinh sạch hoàn toàn, không có chút nhơ bợn, ánh quang minh chói lọi khắp nơi, công đức cao vòi vọi và an trú giữa từng lưới dệt bằng tia sáng, tỏ hơn vầng nhật nguyệt. Chúng sanh trong cõi U minh đều nhờ ánh sáng ấy, tâm trí được mở mang, muốn đi đến chỗ nào để làm nên sự nghiệp, sẽ được như ý.</p>



<p>-Nguyện thứ ba: Ta nguyện đời sau, khi đặng Đạo Bồ Đề, dùng trí huệ, và phương tiện vô lượng vô biên, độ cho chúng hữu tình, khiến mọi người có đủ các vật dụng, không ai phải chịu sự thiếu thốn.</p>



<p>-Nguyện thứ tư: Ta nguyện đời sau, khi đặng Đạo Bồ Đề, nếu có chúng hữu tình tu theo tà đạo, ta khiến họ quay về an trụ trong Đạo Bồ Đề. Hoặc có những người tu theo hạnh Thinh Văn, Độc Giác, dùng giáo lý Đại Thừa, ta giảng dạy cho họ.</p>



<p>-Nguyện thứ năm: Ta nguyện đời sau, khi đặng Đạo Bồ Đề, nếu có chúng hữu tình, tu hạnh thanh tịnh, theo giáo pháp của ta, ta sẽ giúp họ giữ được giới pháp hoàn toàn đầy đủ. Nếu có người bị tội hủy phạm giới pháp, nghe được danh hiệu ta, người đó sẽ được thanh tịnh, khỏi sa vào đường ác.</p>



<p>-Nguyện thứ sáu: Ta nguyện đời sau, khi chứng đạo Bồ Đề, nếu có chúng hữu tình nào thân hình hèn hạ, các căn không đủ, xấu xa, khờ khạo, tai điếc, mắt đui, nói năng ngọng liệu, tay chân tật nguyền, lác hủi, điên cuồng, chịu những bịnh khổ ấy, nếu nghe danh hiệu ta, liền được thân hình đoan chánh, tâm tánh khôn ngoan, các căn đầy đủ, không có những bệnh khổ ấy nữa.</p>



<p>-Nguyện thứ bảy: Ta nguyện đời sau, khi chứng Đạo Bồ Đề, nếu có chúng hữu tình nào bị những chứng bịnh hiểm nghèo không ai cứu chữa, không ai để nương nhờ, không gặp thầy, không gặp thuốc, không bà con, không nhà cửa, chịu nhiều nỗi nghèo hèn khốn khổ, nếu nghe danh hiệu ta một lần, tất cả bệnh hoạn khổ não đều tiêu trừ, thân tâm an lạc, gia quyến sum vầy, của cải sung túc, cho đến chứng được đạo quả vô thượng Bồ Đề.</p>



<p>&nbsp;-Nguyện thứ tám: Ta nguyện đời sau, khi chứng Đạo Bồ Đề, nếu có phụ nữ nào bị trăm điều hèn hạ khổ sở, buồn rầu, bực tức, sanh tâm nhàm chán, muốn bỏ thân ấy, nếu nghe danh hiệu ta, được chuyển thân gái thành thân trai, có đủ hình tướng trượng phu, cho đến chứng đạo quả vô thượng Bồ Đề.</p>



<p>-Nguyện thứ chín: Ta nguyện đời sau, khi chứng Đạo Bồ Đề, dẫn dắt chúng hữu tình ra khỏi vòng lưới ma nghiệp, được giải thoát tất cả sự ràng buộc của ngoại đạo. Nếu có những kẻ sa vào rừng ác kiến, ta dẫn họ về với chánh kiến, và dần dần dạy họ tu tập theo các hạnh Bồ Tát đặng mau chứng Đạo Bồ Đề.</p>



<p>-Nguyện thứ mười: Ta nguyện đời sau, khi chứng Đạo Bồ Đề, nếu có hữu tình nào bị nhà vua xiềng xích, đánh đập, hoặc bị lao tù, hoặc bị chém giết, hoặc bị nhiều tai nạn nhục nhã, thân tâm chịu những nỗi khổ, buồn rầu, bứt rứt, nếu nghe danh hiệu ta nhờ sức oai thần phước đức của ta đều được giải thoát tất cả những nỗi ưu khổ ấy hiệu ta, nhờ sức oai thần phước đức của ta, đều được giải thoát tất cả những nỗi ưu khổ ấy.</p>



<p>-Nguyện thứ mười một: Ta nguyện đời sau, khi chứng Đạo Bồ Đề, nếu có hữu tình nào bị sự đói khát hoành hành, vì tìm miếng ăn phải tạo các nghiệp dữ, nếu nghe danh hiệu ta, chuyên niệm thọ trì, trước hết ta dùng các món ăn ngon ban bố cho họ được no đủ, và sau ta đem giáo pháp nhiệm mầu kiến lập cho họ cảnh giới an lạc hoàn toàn.</p>



<p>-Nguyện thừ mười hai: Ta nguyện đời sau khi chứng Bồ Đề, nếu có hữu tình nào nghèo đến nỗi không có áo che thân, bị mũi mòng cắn đốt, nóng lạnh dãi dầu, ngày đêm khổ bức, nếu nghe và trì niệm danh hiệu ta, ta sẽ giúp cho người đó được như ý muốn: các thứ y phục tốt đẹp, bảo vật trang nghiêm, tràng hoa, phấn sáp thơm ngát, trống nhạc ca múa, muốn thưởng thức thứ nào cũng được thỏa mãn cả.(1 tiếng chuông)</p>



<p>Nầy Mạn Thù Thất Lợi, đó là mười hai lời nguyện nhiệm mầu của Đức Dược Sư Lưu Ly Quang Như Lai, Ứng Chánh Đẳng Giác phát ra trong khi tu hạnh Bồ Tát. Lại nữa, Mạn Thù Thất Lợi, Đức Dược Sư Lưu Ly Quang Như Lai khi còn tu hạnh Bồ Tát phát những lời nguyện rộng lớn và những công đức trang nghiêm ở cõi Ngài, dầu ta nói mãn một kiếp cũng không thể hết được. Nhưng ta có thể nói ngay rằng, cõi Phật kia một bề thanh tịnh, không có đàn bà, cũng không có đường dữ, và đến tiếng khổ cũng không.</p>



<p>Ở cõi ấy đất toàn bằng chất lưu ly, đường đi có dây bằng vàng giăng làm ranh giới, thành quách cung điện, mái hiên cửa sổ cho đến các lớp lưới bao phủ cũng toàn bằng đồ thất bảo làm ra, chẳng khác gì những công đức trang nghiêm ở cõi Tây Phương Cực Lạc vậy.</p>



<p>Cõi Phật ấy, có hai vị Đại Bồ Tát là Nhật Quang Biến Chiếu và Nguyệt Quang Biến Chiếu, là hai bực thượng thủ trong vô lượng, vô số Bồ Tát, và lại là những bậc sắp bổ xứ làm Phật. Hai vị này đều giữ kho báu chánh pháp của Đức Dược Sư Lưu Ly Quang Như Lai. Mạn Thù Thất Lợi, vì thế những kẻ thiện nam tính nữ nào có lòng tin vững chắc thì nên nguyện sanh về thế giới của Ngài.”</p>



<p>Lúc ấy, Đức Thế Tôn lại bảo Đồng Tử Mạn Thù Thất Lợi rằng: “Có những chúng sanh không biết điều lành dữ, cứ ôm lòng bỏn xẻn, không biết bố thí và cũng không biết quả báo của sự bố thí là gì, ngu si vô trí, thiếu hẳn đức tin, lại ham chứa chất của cải cho nhiều, đêm ngày bo bo gìn giữ, thấy ai đến xin, lòng đã không muốn, nhưng nếu cực chẳng đã phải đưa của ra thì đau đớn mến tiếc, dường như lóc thịt cho người vậy. Lại có chúng hữu tình tham lam, chỉ lo tích trữ của cải cho nhiều mà tự mình không dám ăn tiêu, còn nói chi đến sự đem của ấy thí cho cha mẹ, vợ con, tôi tớ và những kẻ nghèo hèn đến xin. Những kẻ tham lam ấy, khi chết bị đọa vào đường ngạ quỷ hay bàng sinh. Mặc dù ở trong ác thú, nhưng nhờ</p>



<p>đời trước, sống trong cõi nhơn gian đã từng nghe qua danh hiệu của Đức Dược Sư Lưu Ly Quang Như Lai, nay lại còn nhớ niệm danh hiệu của Ngài, liền từ cõi ấy thoát sanh trở lại làm người. Khi đã được làm người lại nhớ đến kiếp sống trong đường ngạ quỷ súc sanh, biết sợ sự đau khổ, nên người đó không ưa đắm dục lạc, muốn tự mình làm việc bố thí, không tham tiếc món gì, có thể đem cả đầu, mắt, tay, chơn hay máu thịt của thân mình, bố thí cho những kẻ đến xin.</p>



<p>Lại nữa, Mạn Thù Thất Lợi, trong chốn hữu tình có người thọ giới của Phật để tu học mà lại phá giới, hoặc có kẻ không phá giới mà lại phá phép tắc, hoặc có kẻ tuy chẳng phá giới và phép tắc mà lại hủy hại chánh kiến, hoặc có kẻ tuy không hủy hoại chánh kiến mà lại bỏ sự đa văn, nên không hiểu được nghĩa lý sâu xa trong kinh Phật nói, hoặc có kẻ tuy đa văn mà có thói tăng thượng mạn, do thói tăng thượng mạn ấy che lấp tâm tánh, cố chấp cho mình là phải, người khác là quấy, chê bai chánh pháp, kết đảng với ma. Những kẻ ngu si ấy, tự mình đã theo tà kiến, khiến cho người khác cũng sa vào hố nguy hiểm. Những chúng hữu tình ấy, bị trôi lăn trong các đường địa ngục, ngạ quỷ, bàng sanh không khi nào cùng. </p>



<p>Nếu nghe được danh hiệu Đức Dược Sư Lưu Ly Quang Như Lai, họ liền bỏ những hạnh dữ, tu theo các phép lành, khỏi bị đọa vào ác thú nữa. Giả sử có người không thể bỏ những hạnh dữ và không tu theo những pháp lành mà phải bị đọa vào ác thú thì cũng nhờ oai lực và bổn nguyện của Đức Dược Sư, liền từ nơi ác thú đó sanh vào cõi người, tinh tấn tu hành chân chánh, khéo điều hòa tâm ý, xuất gia tu học giáo pháp của Như Lai, hiểu rõ nghĩa lý sâu xa, lìa được thói tăng thượng mạn, không chê bai chánh pháp, không bè bạn với ma, dần dần tu theo hạnh Bồ Tát, sẽ chứng được đạo quả Bồ Đề.</p>



<p>Lại nữa, Mạn Thù Thất Lợi, nếu chúng hữu tình có tính tham lam tật đố, hay khen mình chê người, sẽ bị đọa vào ba đường dữ, địa ngục, ngạ quỷ, súc sanh, chịu nhiều sự đau đớn khổ sở, trải qua không biết mấy nghìn năm mới hết. Khi đã hết sự đau khổ đó, liền sanh lại cõi người phải làm thân trâu, ngựa, lừa, lạc đà, thường bị người hành hạ, đánh đập và bị đói khát dầy vò, đường xa chở nặng, cực nhọc muôn phần; may đặng làm thân người, lại bị sanh vào hạng hạ tiện, làm tôi tớ cho kẻ khác, mãi bị sai sử, không khi nào được chút tự do. Nếu những người ấy, đời trước đã từng nghe danh hiệu của Đức Dược Sư Lưu Ly Quang Như Lai, do nhân lành ấy, ngày nay nhớ lại, chí tâm qui y Ngài, nhờ thần lực của Ngài gia hộ, được thoát khỏi mọi khổ não, các căn thông lợi, trí huệ sáng suốt, lại thêm đa văn, hằng cầu thắng pháp, thường gặp bạn lành, đời đời dứt hẳn lưới ma, đập nát vỏ vô minh, tát cạn sông phiền não, được thoát khỏi sanh, lão, bệnh, tử và những nỗi đau khổ lo buồn.</p>



<p>Lại nữa, Mạn Thù Thất Lợi, nếu có chúng hữu tình ưa sự ngang trái chia lìa, tranh đấu, kiện cáo lẫn nhau, làm não loạn cho mình và người, đem thân, khẩu, ý tạo thêm nghiệp ác, xoay qua trở lại, thường làm những việc không nhiêu ích để mưu hại lẫn nhau, hoặc cáo triệu thần núi, thần cây, thần sông v.v&#8230;, để hại người, hoặc giết chúng sanh lấy huyết thịt cúng tế quỷ Dược Xoa và quỷ La Sát để cậy quỷ hại người, hoặc biên tên họ hay làm hình tượng của người cừu oán, dùng phép chú thuật tà ác trù ẻo cho chết, hoặc theo lối ếm đối hay dùng những đồ độc, chú pháp hại người, người nào bị những tai nạn ấy, nếu nghe danh hiệu của Đức Dược Sư Lưu Ly Quang Như Lai, các thứ tà ác kia không thể hại được. Nếu những kẻ ác tâm đó khởi lòng từ bi làm việc lợi ích an vui cho kẻ khác, không còn ý tổn não và hiềm giận, người đó sẽ được an vui.</p>



<p>Lại nữa, Mạn Thù Thất Lợi, nếu trong hàng tứ chúng: Bí Sô, Bí Sô ni, Ô Ba Sách Ca, Ô Ba Tư Ca và những thiện nam tín nữ đều thọ trì tám giới cấm, hoặc trong một năm, hoặc mỗi năm ba tháng, vâng giữ giới pháp làm nơi y chỉ tu học, đem căn lành này nguyện sanh về cõi Cực Lạc của Đức Phật A Di Đà, để nghe chánh pháp, nhưng nếu chưa quyết định, hễ nghe danh hiệu Đức Dược Sư Lưu Ly Quang Như Lai, khi mạng chung, sẽ có tám vị Đại Bồ Tát như Văn Thù Sư Lợi Bồ Tát, Quán Thế Âm Bồ Tát, Đắc Đại Thế Bồ Tát, Vô Tận Ý Bồ Tát, Bảo Đàn Hoa Bồ Tát, Dược Vương Bồ Tát, Dược Thượng Bồ Tát, Di Lặc Bồ Tát từ trên không trung đi đến đưa đường chỉ lối, người đó liền được sanh trong những hoa báu đủ màu. Hoặc nếu có kẻ nhờ nguyện lực của Đức Dược Sư, được sanh lên cõi trời, và lại nhờ căn lành sẵn có, không còn sanh lại những đường ác nữa. Khi tuổi thọ ở cõi trời đã mãn, người đó lại sanh trong chốn nhân gian, hoặc làm bậc Luân Vương, thống nhiếp cả bốn châu thiên hạ, oai đức tự tại, giáo hóa cho vô lượng trăm ngàn chúng hữu tình theo đường thập thiện, hoặc sanh vào dòng Sát Đế Ly, Bà La Môn hay cư sĩ đại cô, của tiền dư dật, kho đụn tràn đầy, tướng mạo đoan trang, quyến thuộc sum vầy, lại được thông minh trí huệ, dõng mãnh oai hùng như người đại lực sĩ. Còn nếu có người phụ nữ nào nghe danh hiệu của Đức Dược Sư Lưu Ly Quang Như Lai, hết lòng thọ trì danh hiệu ấy, đời sau sẽ không làm thân gái nữa.</p>



<p>Này Mạn Thù Thất Lợi! Đức Dược Sư Lưu Ly Quang Như Lai khi đã chứng Đạo Bồ Đề, do sức bổn nguyện mà Ngài quan sát biết chúng hữu tình gặp phải các thứ bịnh khổ như da vàng, gầy ốm, cảm nhiệt, thương hàn, hoặc trúng phải những thứ ếm đối, đồ độc, hoặc bị hoạnh tử, hoặc bị chết non. Muốn những chứng bịnh ấy được tiêu trừ và lòng mong cầu của chúng hữu tình được mãn nguyện, Ngài liền nhập định để diệt trừ tất cả khổ não của chúng sanh. Khi Ngài nhập định, từ trong nhục kế phóng ra luồng ánh sáng lớn, trong luồng ánh sáng ấy nói Đại Đà La Ni:  (1 tiếng chuông)</p>



<p>Nam Mô bạt dà phạt đế, bệ sát xã lụ rô thích lưu ly, bát lặt bà hắt ra xà dã, đát tha yết đa da, a ra hắt đế, tam miệu tam bột đà da, đát điệt tha. Án, bệ sát thệ, bệ sát thệ, bệ sát xã, tam một yết đế tá ha.</p>



<p>Lúc đó, luồng ánh sáng diễn chú này rồi, cả đại địa rúng động, phóng ra ánh đại quang minh, làm cho tất cả chúng sanh, dứt hết bệnh khổ, hưởng được an vui.</p>



<p>Này Mạn Thù Thất Lợi! Nếu thấy người nào đang mắc bệnh, khuyên họ tắm gội sạch sẽ, và vì họ nhứt tâm tụng chú này một trăm lẻ tám biến, chú nguyện trong thức ăn, trong thuốc uống, hay trong nước không vi trùng, cho họ uống, những bệnh khổ ấy đếu dứt hết.</p>



<p>Nếu có người mong cầu việc gì, chỉ nhất tâm tụng chú này, đều được như ý muốn, đã không bịnh lại được sống lâu, sau khi mạng chung, người đó được sanh về thế giới Tịnh Lưu Ly, không còn thối chuyển, rồi dần dần chứng quả Bồ Đề.</p>



<p>Vậy nên, Mạn Thù Thất Lợi! Chúng hữu tình hết lòng ân cần tôn trọng, cung kính, cúng dường Đức Dược Sư Lưu Ly Quang Như Lai và thường trì tụng chú này đừng lãng quên.</p>



<p>Lại nữa, nếu có thiện nam tín nữ nào được thấy hình tượng Đức Dược Sư Lưu Ly Quang Như Lai, Ứng Chánh Đẳng Giác, mỗi sớm mai, súc miệng, đánh răng tắm gội sạch sẽ, xong lại thắp hương, rải dầu thơm, các món kỹ nhạc để cúng dường hình tượng; với kinh này, nên dạy người khác hay tự mình biên chép ra, một lòng thọ trì để thấu hiểu nghĩa lý với vị pháp sư giảng nói kinh pháp, nên cúng dường tất cả những vật dụng cần thiết, hễ hết lòng như vậy, chư Phật sẽ phò hộ người đó được mãn nguyện mọi sự mong cầu.”</p>



<p>Lúc bấy giờ, Mạn Thù Thất Lợi đồng tử bạch Phật rằng: “Bạch Đức Thế Tôn, qua thời kỳ tượng pháp, tôi sẽ dùng đủ chước phương tiện, khiến cho những thiện nam tín nữ có lòng tin trong sạch, được nghe danh hiệu của Đức Dược Sư Lưu Ly Quang Như Lai, cả đến trong giấc ngủ của họ, tôi cũng dùng danh hiệu của Đức Phật này, thức tỉnh nơi tai cho họ rõ biết.</p>



<p>Bạch Đức Thế Tôn, nếu ai thọ trì đọc tụng kinh này, hoặc đem giảng nói, bày tỏ cho người khác, hoặc tự mình hay dạ người biên chép kinh này, hết lòng cung kính tôn trọng, dùng bông thơm, dầu thơm, các thứ hương đốt, tràng hoa, anh lạc, phướn lọng, cùng âm nhạc hát múa, để cúng dường, hoặc dùng hàng ngũ sắc làm đãy đựng kinh này, quét dọn một nơi</p>



<p>sạch sẽ, thiết lập một cái đài cao để lên, liền có bốn vị Thiên Vương quyến thuộc, và vô lượng trăm ngàn thiên chúng ở các cõi trời khác nhau đều đến đó cúng dường và thủ hộ.</p>



<p>Bạch Đức Thế Tôn, nếu kinh này lưu hành đến chỗ nào có người thọ trì và nghe được danh hiệu của Đức Dược Sư Lưu Ly Quang Như Lai, nhờ công đức bổn nguyện của Ngài, chỗ ấy không bị bịnh hoạnh tử, cũng không bị những ác quỷ, ác thần đoạt lấy tinh khí, dầu có bị đoạt lấy, cũng được hoàn lại, thân tâm khỏe mạnh như thường.”(1 tiếng chuông)</p>



<p>Phật bảo Mạn Thù Thất Lợi: “Thật đúng như lời ngươi nói, nếu có thiện nam tín nữ nào muốn cúng dường Đức Dược Sư Lưu Ly Quang Như Lai, trước phải tạo lập hình tượng Ngài, để trên tòa cao sạch sẽ, rải bông, đốt các thứ hương, dùng các thứ tràng phan trang nghiêm, thờ như thế trong bảy ngày bảy đêm. Người đó phải thọ tám giới, ăn đồ thanh tịnh, tắm gội sạch sẽ, y phục chỉnh tề, giữ lòng thanh tịnh, không giận dữ, không sát hại, đối với tất cả loài hữu tình phải khởi tâm bình đẳng, đủ cả tâm Từ, Bi, Hỉ, Xả, làm cho họ được lợi ích an vui, đánh nhạc ca hát ngợi khen, đi nhiễu quanh tượng Phật, nghĩ nhớ công đức bổn nguyện đọc tụng kinh này, suy nghiệm nghĩa lý, khai thị cho người khác biết. Làm như vậy, người đó được toại ý việc mong cầu, như cầu sống lâu, được sống lâu; cầu giàu sang, được giàu sang; cầu quan vị, được quan vị; cầu được sanh con trai, con gái, thì được sanh con trai, con gái.</p>



<p>Nếu có người nào trong giấc ngủ thấy những điềm chiêm bao dữ, khi thức thấy những ác tướng, như chim đậu gần nhà, hoặc chỗ ở hiện ra trăm điều quái dị, người ấy nên dùng của báu cúng dường Đức Dược Sư Lưu Ly Quang Như Lai, những ác mộng, ác tướng và những điềm xấu ấy thảy đều ẩn hết, không còn phải lo sợ.</p>



<p>Nếu người nào gặp tai nạn nguy hiểm như nạn nước, lửa, gươm, đao, thuốc độc và cầm thú dữ gây sợ hãi như: voi, sư tử, cọp, sói, gấu, rắn độc, bò cạp, rít, sên, lằn muỗi, hết lòng nhớ niệm và cung kính cúng dường Đức Dược Sư, người đó được thoát những sợ hãi ấy, hoặc nếu bị các nước khác xâm lăng, nhiễu hại, trộm cướp rối loạn, nhớ niệm và cung kính Đức Dược Sư, người đó cũng được thoát khỏi những nạn ấy.</p>



<p>Lại nữa, Mạn Thù Thất Lợi, nếu có thiện nam tín nữ nào từ khi phát tâm thọ giới cho đến ngày chết, không thờ những vị Trời nào, chỉ một lòng nương theo Phật, Pháp, Tăng, giữ gìn năm giới, mười giới, Bồ Tát mười giới trọng, bốn mươi tám giới khinh, Tỳ Kheo Tăng hai trăm năm mươi giới, Tỳ Kheo Ni ba trăm bốn mươi tám giới, nếu có hủy phạm những giới</p>



<p>pháp đã thọ, sợ đọa vào ác thú, nếu chuyên niệm và cung kính cúng dường Đức Dược Sư, người đó quyết định không thọ sanh trong ba đường ác.</p>



<p>Lại nếu có người nữ nào đương lúc sinh sản phải chịu cực khổ đau đớn, xưng danh hiệu, lễ bái và hết lòng cung kính cúng dường Đức Dược Sư, người đó sẽ khỏi những sự đau khổ ấy, khi sanh con ra được vuông tròn, tướng mạo đoan nghiêm, lợi căn thông minh, an ổn ít bịnh hoạn, ai thấy cũng vui mừng và không bị quỷ cướp đoạt tinh khí.”&nbsp; (1 tiếng chuông)</p>



<p>Lúc ấy, Đức Thích Ca bảo A Nan: “Như ta đã khen ngợi công hạnh của Đức Dược Sư Lưu Ly Quang Như Lai, đó là công hạnh sâu xa của chư Phật, khó hiểu thấu được, vậy ngươi có tin chăng?” A Nan bạch Phật: “Bạch Đức Thế Tôn, đối với Khế Kinh của Như Lai nói, không bao giờ tôi sanh tâm nghi hoặc. Tại sao? Vì những nghiệp thân, khẩu, ý của Như Lai đều thanh tịnh. Bạch Đức Thế Tôn, mặt trời, mặt trăng có thể rơi xuống, núi Diệu Cao có thể lay động, nhưng những lời của chư Phật nói ra không bao giờ sai được. Bạch Đức Thế Tôn nếu có chúng sanh nào tín căn không đầy đủ, nghe nói đến những công hạnh sâu xa của chư Phật, thì nghĩ rằng: Làm sao chỉ niệm danh hiệu của một đức Dược Sư Lưu Ly Quang</p>



<p>Như Lai mà được nhiều công đức thắng lợi ngần ấy? Vì sự không tin đó, trở sanh lòng hủy báng, nên họ phải mất nhiều điều lợi ích, mãi ở trong cảnh đêm dài tăm tối, lại còn bị đọa lạc trong các đường ác thú, lưu chuyển không cùng.”</p>



<p><br>Phật lại bảo A Nan: “Những chúng hữu tình ấy nếu nghe danh hiệu của Đức Dược Sư Lưu Ly Quang Như Lai, chí tâm thọ trì, không sanh lòng nghi hoặc, mà đọa vào ác thú, thì thật vô lý vậy”</p>



<p>Này A Nan, đó là công hạnh rất mầu nhiệm của chư Phật, khó tin, khó hiểu, nay ngươi lãnh thọ được, đó là nhờ oai lực của Như Lai vậy. (1 tiếng chuông)</p>



<p>Này A Nan, tất cả các hàng Thinh Văn, Độc Giác và các Bồ Tát chưa lên bậc Sơ Địa đều không thể tin đúng như Phật, chỉ trừ những bậc Nhất Sanh Sở Hệ Bồ Tát mới tin hiểu được mà thôi.</p>



<p>Này A Nan, thân người khó đặng, nhưng hết lòng tin kính tôn trọng ngôi Tam Bảo còn khó hơn, huống chi nghe được danh hiệu của Đức Dược Sư Lưu Ly Quang Như Lai lại còn khó hơn nữa.</p>



<p>Này A Nan, Đức Dược Sư Lưu Ly Quang Như Lai tu không biết bao nhiêu hạnh Bồ Tát, dùng không biết bao nhiêu phương tiện khéo léo, phát không biết bao nhiêu nguyện rộng lớn, nếu ta nói ra trong một kiếp hay hơn một kiếp, thì kiếp số đó có thể mau hết, chớ những hạnh nguyện và những và những phương tiện khéo léo của Đức Dược Sư, không khi nào nói cho hết được.”&nbsp; (1 tiếng chuông)</p>



<p>Lúc bây giờ trong chúng hội có một vị Đại Bồ Tát tên là Cứu Thoát Bồ Tát liền từ chỗ ngồi đứng dậy, trịch vai áo bên hữu, gối bên mặt quì sát đất, cúi đầu chắp tay bạch Phật rằng: “Bạch Đức Thế Tôn, đến thời kỳ tượng pháp có những chúng sanh bị nhiều hoạn nạn, khốn khổ, tật bệnh luôn luôn, thân hình gầy ốm, ăn uống không được, môi cổ khô ran, mắt thấy đen tối, tướng chết hiện ra, cha mẹ, bà con, bạn bè quen biết, vây quanh khóc lóc. Thân bịnh nằm đó, đã thấy quỉ sứ đến dẫn thần thức, đem lại trước vua Diêm Ma. Liền khi ấy thần Cu Sanh ghi tội phước của người đó, dâng lên vua Diêm ma.</p>



<p>Lúc bấy giờ, vua phán hỏi và kê tính những tội phước của người kia đã làm mà xử đoán. Nếu trong lúc đó, bà con quen biết, vì người bịnh ấy, quy y với Đức Dược Sư Lưu Ly Quang Như Lai và thỉnh chúng Tăng đọc tụng kinh này, đốt đèn bảy tầng, treo thần phan tục mạng năm sắc, hoặc liền trong lúc ấy, hoặc trải qua bảy ngày, hai mươi mốt ngày, ba mươi lăm</p>



<p>ngày, bốn mươi chín ngày, thần thức người kia được trở lại như vừa tỉnh giấc chiêm bao, tự mình nhớ biết những nghiệp lành, nghiệp dữ và quả báo đã thọ. Chính đã thấy rõ những nghiệp báo như vậy, dầu có gặp phải những tai nạn nguy hiểm đến tánh mạng, người đó cũng không dám tạo những nghiệp ác nữa. Vậy nên, những thiện nam tín nữ phải một lòng trì niệm danh hiệu Đức Dược Sư Lưu Ly Quang Như Lai.”</p>



<p>Lúc bấy giờ, A Nan hỏi Cứu Thoát Bồ Tát rằng: “Nên cung kính cúng dường Đức Dược Sư Lưu Ly như thế nào, còn đèn và phan tục mạng phải làm sao?”(1 tiếng chuông)</p>



<p>Cứu Thoát Bồ Tát nói: “Nếu có người bịnh nào, muốn khỏi bịnh khổ, bà con của họ phải thọ trì tám phần trai giới trong bảy ngày, bảy đêm, tùy theo sức mình sắm sửa thức ăn uống và các thứ cần dùng để cúng dường chư Tăng, ngày đêm sáu thời, kính lễ Đức Dược Sư Lưu Ly Quang Như Lai, đọc tụng kinh này bốn mươi chín biến và thắp bốn mươi chín ngọn đèn, lại tạo bảy hình tượng Đức Dược Sư, trước mỗi hình tượng để bảy ngọn đèn, mỗi ngọn lớn như bánh xe, đốt luôn trong bốn mươi chín ngày đêm đừng cho tắt, thần phan được làm bằng hàng ngũ sắc, bề dài bốn mươi chín gang tay, phải phóng sinh bốn mươi chín loài vật khác nhau, người bịnh ấy sẽ qua khỏi ách nạn, không còn bị hoạnh tử và các loài quỷ nhiễu hại. </p>



<p>Lại nữa A Nan, nếu trong dòng Sát Đế Lỵ có những vị quốc vương đã làm lễ quán đảnh mà gặp lúc có nạn, nhân dân bị bịnh dịch, bị nước khác xâm lăng, bị nội loạn, hay bị nạn tinh tú biến ra nhiều điềm quái dị: như nhựt thực, nguyệt thực, mưa gió trái mùa hạn hán động đất khi đó các ị q ốc ương phải đem lòng từ bi thương ót tất cả nhân dân ân mưa gió trái mùa, hạn hán, động đất v.v&#8230;, khi đó các vị quốc vương phải đem lòng từ bi, thương xót tất cả nhân dân, ân xá cho tội nhơn bị giam cầm, cúng dường Đức Dược Sư Lưu Ly Quang Như Lai, nhờ căn lành này và nhờ thần lực của Ngài, khiến trong nước được an ổn, mưa hòa gió thuận, lúa thóc được mùa, tất cả nhân dân đều vui vẻ, không bịnh hoạn, không có thần Dược Xoa bạo ác, não hại lê dân. Tất cả ác tướng ấy đều ẩn mất và các vị quốc vương được sống lâu khỏe mạnh.</p>



<p>Này A Nan, nếu các hoàng hậu, hoàng phi, công chúa, thái tử, vương tử, đại thần phụ tướng, thể nữ trong cung, bá quan và thứ dân bị bịnh khổ cùng những tai nạn, nên tạo lập thần phan năm sắc, đèn Dược Sư nên thắp sáng luôn, phóng sanh các loài vật, rải hoa đủ sắc, đốt các thứ danh hương để cúng dường Đức Dược Sư, những người đó sẽ được lành bịnh và thoát khỏi các tai nạn.”</p>



<p>Ngài A Nan lại hỏi Cứu Thoát Bồ Tát rằng: “Tại sao cái mạng đã hết mà còn sống thêm được?” Cứu Thoát Bồ Tát nói:</p>



<p>“Như Lai nói có chín thứ hoạnh tử, Đại Đức không nghe hay sao? Vậy nên, Cứu Thoát khuyên người làm phan và đèn tục mạng, tu các phước đức và nhờ đó nên suốt đời không bị khổ sở hoạn nạn.”</p>



<p>Ngài A Nan lại hỏi:”Chín thứ hoạnh tử là gì?”. Cứu Thoát Bồ Tát trả lời: “Một là có người nào bị bệnh tuy nhẹ, nhưng không thầy không thuốc, không người săn sóc, hay có gặp thầy lại cho uống lầm thuốc, bịnh không đáng chết mà bị chết oan.</p>



<p>Trong khi đang bịnh mà tin theo những thuyết họa phước vu vơ của tà ma ngoại đạo, yêu nghiệt trong đời, sanh lòng run sợ, không còn tự chủ, phân biệt chánh tà, bói khoa chú thuật, gây thêm tội lỗi, giết hại sinh linh, tấu với thần minh, vái van vọng tưởng, để xin ban phước, mong được sống lâu, nhưng không thể được. Bởi si mê lầm lạc, tin theo tà kiến, điên đảo quỷ mị, nên bị hoạnh tử, đọa vào địa ngục, đời đời không ra khỏi. Hai là bị phép vua tru lục. Ba là chơi bời trụy lạc, săn bắn, đam mê tửu sắc, buông lung vô độ, bị loài quỷ đoạt mất tinh khí. Bốn là bị chết thiêu. Năm là bị chết đắm. Sáu là bị các thú dữ ăn thịt. Bảy là bị sa từ trên cao xuống. Tám là bị chết vì thuốc độc, ếm đối, chửi rủa, trù ẻo và bị quỷ Tử Thi làm hại. Chín là bị chết vì đói khát khốn khổ. Đó là chín hoạnh tử, Như Lai nói ra. Còn những hoạnh tử khác, nhiều vô lượng, không thể nói hết được.&nbsp; (1 tiếng chuông)</p>



<p>Lại nữa A Nan, vua Diêm Ma kia là thủ lãnh ghi chép sổ bộ, tên tuổi, tội phước trên thế gian. Nếu có người nào ăn ở bất hiếu, ngũ nghịch, hủy nhục ngôi Tam Bảo, phá hoại phép vua tôi, hủy phạm giới cấm, vua Diêm Ma theo tội nặng nhẹ mà hành phạt. Vì thế ta khuyên mọi người nên thắp đèn làm phan, phóng sanh, tu phước để khỏi các khổ ách, chỉ gặp những điều vui.”</p>



<p>Lúc bấy giờ, trong chúng hội có mười hai vị Dược Xoa Đại Tướng: Cung Tì La đại tướng, Phạt Chiếc La đại tướng, Mê Súy La đại tướng, An Để La đại tướng, Át Nể La đại tướng, San Để La đại tướng, Nhơn Đạt La đại tướng, Ba Di La đại tướng, Ma Hổ La đại tướng, Chơn Đạt La đại tướng, Chiêu Đổ La đại tướng, Tỳ Yết La đại tướng. (1 tiếng chuông)</p>



<p>Mười hai vị đại tướng này, mỗi vị đều có bảy ngàn quyến thuộc Dược Xoa đồng cất tiếng bạch Phật rằng: “Bạch Đức Thế Tôn, hôm nay, chúng tôi nhờ oai lực của Phật, được nghe danh hiệu của Đức Dược Sư Lưu Ly Quang Như Lai, không còn sợ sệt các đường ác thú nữa. Chúng tôi đồng một lòng quy y Phật, Pháp, Tăng, thề sẽ gánh vác cho chúng hữu tình, làm việc nghĩa lợi đưa đến sự nhiêu ích an vui. Trong làng, xóm, thành, nước, hoặc trong rừng cây vắng vẻ, nếu có kinh này lưu bố đến, hay có người thọ trì danh hiệu Đức Dược Sư Lưu Ly Quang Như Lai và cung kính cúng dường Ngài, chúng tôi cùng</p>



<p>quyến thuộc đồng hộ vệ người ấy thoát khỏi tất cả ách nạn và khiến họ cần việc chi cũng được thỏa mãn. Nếu có ai bị bịnh hoạn khổ ách, muốn cầu cho khỏi, nên đọc tụng kinh này và lấy chỉ ngũ sắc gút danh tự chúng tôi, khi đã được như lòng mong cầu thì mới mở nó ra.”</p>



<p>Lúc ấy, Đức Thích Ca khen các vị Dược Xoa đại tướng rằng: “Hay thay! Hay thay! Đại tướng Dược Xoa, các ngươi muốn báo đáp công hạnh của đức Dược Sư Lưu Ly Quang Như Lai nên phát nguyện làm những việc lợi ích an vui cho tất cả</p>



<p>chúng hữu tình như vậy.”</p>



<p>Đồng thời, A Nan bạch Phật rằng: “Bạch Đức Thế Tôn, pháp môn này gọi tên là gì? Và chúng thôi phải phụng trì như thế nào?”&nbsp; (1 tiếng chuông)</p>



<p>Phật bảo A Nan: “Pháp môn này gọi là Bổn Nguyện và Công Hạnh của Đức Dược Sư Lưu Ly Quang Như Lai, cũng gọi là Kiết Nguyện Thần Chú của mười hai Thần Tướng, và cũng gọi là Con Đường Dứt Trừ Tất Cả Nghiệp Chướng. Nên đúng như vậy mà thọ trì.”</p>



<p>Khi Phật nói lời ấy rồi, các hàng Đại Bồ Tát, Thinh Văn, Quốc Vương, Đại Thần, Bà La Môn, Thiên, Long, Dược Xoa, Kiền Thát Bà, A Tố Lạc, Yết Lộ Trà, Khẫn Nại Lạc, Mạc Hô Lạc Dà, Người cùng các loài quỷ thần, tất cả đại chúng đều hết sức vui mừng và đồng tin giữ vâng làm.&nbsp; (1 tiếng chuông)</p>
]]></content:encoded>
					
		
		
			</item>
		<item>
		<title>KINH TỲ-KHEO NA-TIÊN</title>
		<link>https://phatgiaovinhphuc.vn/2024/11/08/kinh-ty-kheo-na-tien/</link>
		
		<dc:creator><![CDATA[trast1]]></dc:creator>
		<pubDate>Fri, 08 Nov 2024 13:54:50 +0000</pubDate>
				<category><![CDATA[Kinh tạng]]></category>
		<guid isPermaLink="false">https://phatgiaovinhphuc.vn/?p=2506</guid>

					<description><![CDATA[KINH TỲ-KHEO NA-TIÊNĐoàn Trung Còn &#8211; Nguyễn Minh Tiến dịch và&#160;chú giảiNguyễn&#160;Minh Hiển&#160;hiệu đínhNhà xuất&#160;bản Tôn&#160;Giáo Hà Nội 2009 LỜI NÓI ĐẦU Kinh Tỳ-kheo Na-tiên còn có tên là Kinh Di-lan-đà vấn đạo, là một quyển kinh rất có&#160;giá trị&#160;trong&#160;Phật học. Thật ra đây không phải là kinh do&#160;Phật thuyết, mà là một tập sách [...]]]></description>
										<content:encoded><![CDATA[


<p><strong>KINH TỲ-KHEO NA-TIÊN</strong><br>Đoàn Trung Còn &#8211; Nguyễn Minh Tiến dịch và&nbsp;chú giải<br>Nguyễn&nbsp;Minh Hiển&nbsp;hiệu đính<br>Nhà xuất&nbsp;bản Tôn&nbsp;Giáo Hà Nội 2009<br><br><br></p>



<p><strong>LỜI NÓI ĐẦU</strong></p>



<p>Kinh Tỳ-kheo Na-tiên còn có tên là Kinh Di-lan-đà vấn đạo, là một quyển kinh rất có&nbsp;giá trị&nbsp;trong&nbsp;Phật học. Thật ra đây không phải là kinh do&nbsp;Phật thuyết, mà là một tập sách được soạn ra về sau này, khoảng thế kỷ thứ nhất hoặc thứ hai Dương lịch.</p>



<p>Sách này đã được dịch ra nhiều thứ tiếng. Bản chữ Hán lấy tựa là Na-tiên tỳ-kheo kinh,&nbsp;xuất hiện&nbsp;vào khoảng&nbsp;đời Đông Tấn, đã mất tên người dịch. Bản tiếng Phạn lấy tựa là Milinda-panha, tức là Vua Di-lan-đà&nbsp;hỏi đạo. Cả hai bản này đều đã được dịch sang tiếng Pháp.</p>



<p>Trước đây,&nbsp;cư sĩ&nbsp;Đoàn Trung Còn có dịch sách này sang tiếng Việt,&nbsp;sử dụng&nbsp;hai bản tiếng Pháp nói trên. Hiện nay&nbsp;chúng tôi&nbsp;không có 2 bản tiếng Pháp mà ông đã&nbsp;sử dụng, nhưng khi&nbsp;thực hiện&nbsp;việc&nbsp;dịch kinh&nbsp;này từ bản chữ Hán,&nbsp;chúng tôi&nbsp;đã&nbsp;sử dụng&nbsp;bản dịch của ông như một nguồn&nbsp;tham khảo.&nbsp;Chúng tôi&nbsp;cũng&nbsp;cố gắng&nbsp;trình bày cả bản chữ Hán ở đây để quý vị tiện việc&nbsp;đối chiếu,&nbsp;tham khảo.</p>



<p>Về mặt văn bản, kinh Tỳ-kheo Na-tiên được đưa vào&nbsp;Đại tạng kinh, hiện còn thấy có 2 bản. Bản đánh số 1670B (phân làm 3 quyển: Thượng, Trung, Hạ) và bản đánh số 1670A (phân làm 2 quyển: Thượng, Hạ).&nbsp;Tuy nhiên, rất may là nội dung hai&nbsp;bản không&nbsp;khác biệt nhiều. Bản 1670A ngắn hơn, nên không có một số đoạn thấy ghi trong bản 1670B, và có một số đoạn hành văn có khác biệt, nhưng không có sự khác biệt nào gợi nên&nbsp;nghi vấn&nbsp;về mặt&nbsp;nghĩa kinh. Vì thế,&nbsp;chúng tôi&nbsp;quyết định&nbsp;chọn&nbsp;sử dụng&nbsp;bản 1670B, là bản có nội dung đầy đủ hơn. Về các tiểu mục trong bản dịch là do&nbsp;chúng tôi&nbsp;căn cứ vào&nbsp;nội dung mà phân ra và đặt thêm các&nbsp;tiêu đề&nbsp;để&nbsp;độc giả&nbsp;tiện việc&nbsp;theo dõi.&nbsp;</p>



<p>Trong khi chuyển dịch sang tiếng Việt,&nbsp;chúng tôi&nbsp;có&nbsp;tham khảo&nbsp;cả 2 bản, nhưng chỉ in kèm theo đây bản 1670B được giữ nguyên vẹn, không&nbsp;thực hiện&nbsp;bất&nbsp;cứ sự&nbsp;chỉnh sửa nào. Do lối văn cổ,&nbsp;độc giả&nbsp;có thể sẽ thấy câu văn có phần&nbsp;rườm rà, thiếu&nbsp;gãy gọn&nbsp;và hơi tối nghĩa.</p>



<p>° ° °</p>



<p>Tác phẩm&nbsp;này có vẻ như được ghi chép lại từ những gì đã được truyền miệng vào thời đó.&nbsp;Vì vậy,&nbsp;chúng ta&nbsp;không lấy làm lạ khi về sau có nhiều dị bản khác biệt nhau.&nbsp;Tuy nhiên, điều quan trọng rất đáng mừng là những nội dung&nbsp;cốt lõi&nbsp;đều được&nbsp;bảo tồn&nbsp;nguyên vẹn.</p>



<p>Toàn bộ&nbsp;nội dung sách trình bày lại cuộc đối thoại giữa một vị&nbsp;cao tăng&nbsp;là tỳ-kheo Na-tiên và vị&nbsp;quốc vương&nbsp;uy dũng thời bấy giờ là vua Di-lan-đà. Ngoài phần đầu của kinh có lẽ do những người sau này ghi lại đã thêm vào theo&nbsp;truyền thuyết&nbsp;hoặc theo&nbsp;suy nghĩ&nbsp;của riêng&nbsp;mình, còn phần nội dung chính rất mạch lạc của kinh là những&nbsp;kiến giải&nbsp;tinh tế&nbsp;của một vị&nbsp;cao tăng, được trình bày rất&nbsp;sinh động&nbsp;và&nbsp;rõ ràng, đầy&nbsp;ấn tượng. Người học Phật có thể&nbsp;tìm thấy&nbsp;ở đây gần như&nbsp;trọn vẹn&nbsp;tất cả những&nbsp;vấn đề&nbsp;mà mình&nbsp;quan tâm.</p>



<p>Tuy nhiên, đây không phải&nbsp;đơn thuần&nbsp;chỉ là một sự&nbsp;trích giảng&nbsp;giáo lý&nbsp;từ&nbsp;kinh điển&nbsp;chính thống. Hết thảy nội dung được đề cập đến trong tập sách này đều được&nbsp;thể hiện&nbsp;một cách&nbsp;vô cùng&nbsp;sáng tạo,&nbsp;linh hoạt, với rất nhiều ví dụ&nbsp;thích hợp&nbsp;luôn luôn đi kèm theo mỗi&nbsp;vấn đề, làm cho&nbsp;vấn đề&nbsp;trở nên&nbsp;rõ ràng,&nbsp;dễ hiểu&nbsp;hơn và&nbsp;đồng thời&nbsp;tạo ra sức&nbsp;thuyết phục&nbsp;đối với người đọc. Hơn thế nữa, nếu&nbsp;chúng ta&nbsp;tạm không xét đến cách hành văn – và điều này là tất nhiên đối với hầu hết các văn bản cổ –, thì những tình tiết,&nbsp;dữ kiện,&nbsp;hình ảnh&nbsp;được&nbsp;sử dụng&nbsp;để trình bày các&nbsp;vấn đề&nbsp;giáo lý&nbsp;ở đây&nbsp;quả thật&nbsp;đã&nbsp;đạt đến&nbsp;một&nbsp;trình độ&nbsp;nghệ thuật biểu hiện rất cao, xứng đáng là một&nbsp;tác phẩm&nbsp;nghệ thuật&nbsp;giá trị.&nbsp;</p>



<p>Trong khi chuyển dịch sang tiếng Việt, tuy&nbsp;chúng tôi&nbsp;đã&nbsp;hết sức&nbsp;thận trọng&nbsp;đối chiếu,&nbsp;tham khảo&nbsp;tất cả những nguồn tư liệu có thể có, cũng như&nbsp;tham khảo&nbsp;ý kiến&nbsp;của các bậc&nbsp;tôn túc,&nbsp;trưởng thượng, nhưng do bản Hán văn không phải là một văn bản hoàn chỉnh, và&nbsp;trình độ,&nbsp;năng lực&nbsp;người dịch cũng có phần&nbsp;giới hạn, nên việc sai sót tất&nbsp;nhiên không&nbsp;thể nào&nbsp;tránh khỏi. Kính mong các bậc&nbsp;cao minh&nbsp;rộng lòng chỉ giáo.&nbsp;</p>



<p><strong><em>Nguyễn Minh Tiến</em></strong></p>



<p><strong>KINH TỲ-KHEO NA-TIÊN</strong><br>Đoàn Trung Còn &#8211; Nguyễn Minh Tiến dịch và&nbsp;chú giải<br>Nguyễn&nbsp;Minh Hiển&nbsp;hiệu đính<br>Nhà xuất&nbsp;bản Tôn&nbsp;Giáo Hà Nội 2009<br><br><br></p>



<p><strong>QUYỂN THƯỢNG</strong></p>



<p><strong>I.&nbsp;DUYÊN KHỞI</strong></p>



<p>Có một lúc, Phật ở thành Xá-vệ, trong vườn&nbsp;Kỳ thọ Cấp Cô Độc. Bấy giờ, chư vị&nbsp;tăng ni,&nbsp;nam nữ&nbsp;cư sĩ,&nbsp;chư thiên&nbsp;cõi trời, các vị&nbsp;quốc vương, đại thần,&nbsp;trưởng giả, dân chúng&#8230; cùng đến nghe&nbsp;Phật thuyết&nbsp;kinh, có đến hơn mười ngàn người.</p>



<p>Đức Phật&nbsp;tự nghĩ: “Hôm nay&nbsp;chúng hội&nbsp;tụ tập&nbsp;đông đảo huyên náo.” Ngài thấy trong thân không được&nbsp;an ổn,&nbsp;ý muốn&nbsp;lìa xa&nbsp;chúng hội&nbsp;đến chỗ&nbsp;thanh vắng&nbsp;để ngồi&nbsp;suy tưởng&nbsp;về đạo.</p>



<p>Phật liền&nbsp;lìa bỏ&nbsp;chúng hội, đến chỗ núi cao, dưới một cội cây lớn mà ngồi&nbsp;suy tưởng&nbsp;đạo&nbsp;thanh tịnh.</p>



<p>Cách chỗ cội cây ấy không xa, có một bầy voi hơn 500 con. Trong ấy có một con voi chúa tên là Hiền Thiện, vốn rất khôn ngoan, biết&nbsp;phân biệt&nbsp;các&nbsp;việc thiện, ác. Cũng giống như&nbsp;loài người, bầy voi đông đảo ấy&nbsp;quây quần&nbsp;chung quanh voi chúa, có voi già, voi lớn, voi nhỏ&#8230; đủ hạng.</p>



<p>Khi ấy voi chúa khát, muốn tìm đến chỗ có nước mà uống. Đám voi con liền chạy trước, xuống nước uống và đùa nghịch khuấy đục lên, nên voi chúa chẳng có nước trong mà uống.</p>



<p>Voi chúa đói lòng, muốn đi ăn cỏ. Đám voi con lại chạy trước, ăn hết cỏ non, rồi đùa nghịch, giẫm đạp. Voi chúa không còn cỏ sạch để ăn.</p>



<p>Khi ấy voi chúa tự nghĩ rằng: “Nạn lớn của ta chính là bầy voi đông đảo này. Chúng khuấy nước, giẫm cỏ, khiến ta chẳng có nước trong mà uống, chẳng có cỏ sạch mà ăn. Nếu ta&nbsp;lìa bỏ&nbsp;bầy voi này,&nbsp;một mình&nbsp;đến nơi yên vắng, chẳng&nbsp;thích ý&nbsp;lắm sao?”</p>



<p>Nghĩ vậy rồi liền rời bỏ bầy voi,&nbsp;đi vào&nbsp;núi, tìm đến chỗ cội cây cao, nhìn thấy&nbsp;đức Phật&nbsp;đang&nbsp;tọa thiền&nbsp;nơi đó. Voi chúa lấy làm mừng rỡ, đến trước&nbsp;đức Phật&nbsp;mà cúi mọp xuống lạy, rồi đứng hầu sang một bên.</p>



<p>Khi ấy,&nbsp;đức Phật&nbsp;tự nghĩ: “Ta rời bỏ&nbsp;chúng hội&nbsp;đông đảo mà đến đây. Voi chúa cũng rời bỏ bầy voi mà đến đây.&nbsp;Ý nghĩa&nbsp;thật giống như nhau.” Phật liền vì voi chúa mà&nbsp;thuyết kinh. Phật là bậc tôn quý nhất trong&nbsp;loài người. Voi chúa là tôn quý nhất trong loài voi.</p>



<p>Phật nói: “Tâm ta với tâm voi chúa nay thật hòa hiệp nhau, cùng vui nơi chỗ cội cây yên vắng này.” Voi chúa nghe&nbsp;Phật thuyết&nbsp;kinh rồi, trong tâm có chỗ&nbsp;khai ngộ,&nbsp;hiểu rõ&nbsp;được ý Phật. Voi dùng vòi lấy nước rưới nơi chỗ đất quanh Phật, lại dùng vòi nhổ cỏ sạch, dùng chân giẫm đất cho bằng phẳng.</p>



<p>Voi chúa sớm chiều lo việc&nbsp;phụng sự. Ít lâu sau, Phật nhập Niết-bàn. Voi chúa không biết Phật ở đâu, đi quanh tìm hoài chẳng được,&nbsp;sầu khổ&nbsp;than khóc, trong lòng&nbsp;không vui, chẳng chịu&nbsp;ăn uống&nbsp;gì.</p>



<p>° ° °</p>



<p>Xứ ấy có một ngôi chùa trên núi tên là Ca-la-hoàn, có 500 vị sa-môn cùng&nbsp;tu tập&nbsp;ở đó, tất cả đều đã&nbsp;đắc quả&nbsp;A-la-hán. Mỗi tháng có 6 ngày các thầy&nbsp;tụng kinh&nbsp;từ đầu hôm đến sáng.</p>



<p>Voi chúa cũng ở trên núi gần chùa ấy. Voi biết chùa có lệ thường&nbsp;tụng kinh&nbsp;mỗi tháng 6 ngày nên luôn đến nghe kinh. Các vị sa-môn cũng biết voi chúa muốn nghe kinh, mỗi khi sắp&nbsp;tụng kinh&nbsp;đều có ý chờ voi đến nghe rồi mới bắt đầu tụng.</p>



<p>Voi chúa nghe kinh&nbsp;cho đến&nbsp;sáng, chẳng ngủ, chẳng nằm, cũng chẳng hề&nbsp;xao động. Nghe kinh như thế nhiều ngày, sau đó&nbsp;mạng chung.</p>



<p>Bỏ thân voi rồi, được sanh làm người trong một nhà bà-la-môn, nhưng chẳng được nghe kinh Phật, cũng chẳng được gặp các thầy sa-môn. Khi lớn khôn lại&nbsp;bỏ nhà&nbsp;lên núi cao, học theo đạo bà-la-môn.</p>



<p>Ở gần đó lại cũng có một thầy bà-la-môn khác đến&nbsp;tu tập. Hai người thường qua lại cùng đàm đạo,&nbsp;học hỏi&nbsp;nhau.</p>



<p>Bấy giờ, một trong hai người&nbsp;phát nguyện&nbsp;rằng: “Ta chán bỏ cảnh quan tước&nbsp;thế gian, những buồn khổ, già, bệnh, chết, sau lại phải đọa vào&nbsp;địa ngục,&nbsp;súc sanh,&nbsp;ngạ quỷ, những cảnh bần cùng, nên ta nguyện cạo đầu mặc áo cà-sa làm sa-môn&nbsp;học đạo&nbsp;vô vi&nbsp;mà&nbsp;cứu nhân độ thế.”&nbsp;</p>



<p>Người kia lại&nbsp;phát nguyện&nbsp;rằng: “Ta nguyện sẽ làm bậc&nbsp;quốc vương&nbsp;có&nbsp;sức mạnh,&nbsp;uy lực, khiến hết thảy&nbsp;nhân dân&nbsp;trong&nbsp;thiên hạ&nbsp;đều nghe theo&nbsp;sự giáo&nbsp;hóa, dạy dỗ của ta.”</p>



<p>Cả hai&nbsp;phát nguyện&nbsp;như thế rồi, về sau khi&nbsp;mạng chung&nbsp;đều được sanh ra&nbsp;trở lại&nbsp;làm thân người, ứng theo lời đã nguyện.</p>



<p><strong>II. XUẤT SANH</strong></p>



<p>Người&nbsp;phát nguyện&nbsp;tu đạo&nbsp;độ thế, sanh về xứ&nbsp;Kế Tân&nbsp;bên&nbsp;Thiên Trúc. Khi&nbsp;chào đời, thân đã mang sẵn áo cà-sa.&nbsp;Sở dĩ&nbsp;có áo cà-sa mang trên người mà sanh ra, là do lời&nbsp;phát nguyện&nbsp;học đạo&nbsp;ngày trước được ứng nghiệm. Khi sanh đứa bé này, trong nhà lại có một con voi cũng sanh ra&nbsp;cùng ngày. Tiếng&nbsp;Thiên Trúc&nbsp;gọi con voi là Na, vì thế,&nbsp;cha mẹ&nbsp;liền đặt tên cho cậu bé là Na-tiên.</p>



<p>Na-tiên lớn lên được chừng mười lăm, mười sáu tuổi, có người cậu tên là Lâu-hán, vốn là một vị sa-môn&nbsp;tài đức&nbsp;hơn người. Vị này có mắt nhìn thấu được khắp nơi, tai nghe thấu được khắp chốn,&nbsp;chứng đắc&nbsp;thần thông&nbsp;biến hóa, có thể thấu biết được&nbsp;suy nghĩ&nbsp;trong tâm ý của hết thảy&nbsp;mọi người. Na-tiên đến thăm cậu, thưa rằng: “Ý con muốn học theo&nbsp;đạo Phật,&nbsp;xuất gia&nbsp;mặc cà-sa làm sa-môn. Nay muốn làm&nbsp;đệ tử&nbsp;của cậu, có thể vì con mà độ cho&nbsp;xuất gia&nbsp;làm sa-môn chăng?”</p>



<p>Lâu-hán rõ biết chuyện&nbsp;tiền thân&nbsp;trước đây của Na-tiên nên&nbsp;trân trọng&nbsp;lắm, liền&nbsp;đồng ý&nbsp;cho&nbsp;xuất gia,&nbsp;thọ giới&nbsp;làm sa-di. Na-tiên vừa&nbsp;xuất gia, ngay trong ngày thọ&nbsp;mười giới của sa-di, tụng&nbsp;đọc kinh&nbsp;điển,&nbsp;suy nghĩ&nbsp;hiểu thấu&nbsp;ý nghĩa&nbsp;liền&nbsp;chứng đắc&nbsp;tứ thiền,&nbsp;tự nhiên&nbsp;rõ biết hết thảy các kinh, chỉ có điều chưa được thọ&nbsp;đại giới&nbsp;của bậc sa-môn mà thôi.</p>



<p>Bấy giờ, trong xứ ấy có ngôi chùa tên là Hòa Thiền, có 500 vị tăng&nbsp;tu tập, thảy đều đã&nbsp;đắc quả&nbsp;A-la-hán. Trong số ấy, có một vị cao trổi hơn hết tên là Át-pha-viết, có thể rõ biết chuyện&nbsp;quá khứ&nbsp;cũng như&nbsp;hiện tại&nbsp;và&nbsp;vị lai&nbsp;trên khắp cõi đời.</p>



<p>Khi Na-tiên tròn 20 tuổi, thọ&nbsp;đại giới&nbsp;thành sa-môn, liền đến viếng chỗ Át-pha-viết nơi chùa Hòa Thiền.</p>



<p><strong>III.&nbsp;CHỨNG ĐẠO</strong></p>



<p>Bấy giờ nhằm ngày rằm, 500 vị A-la-hán ở đó đều tụ hội lại để&nbsp;thuyết giới. Tất cả các vị đều vào trong&nbsp;giảng đường&nbsp;lớn, Na-tiên đến đó rồi cũng theo vào. Khi&nbsp;đại chúng&nbsp;đều đã&nbsp;ngồi yên, Át-pha-viết&nbsp;quán sát&nbsp;tâm niệm&nbsp;của&nbsp;mọi người, biết là&nbsp;ai nấy&nbsp;đều đã&nbsp;đắc quả&nbsp;A-la-hán, duy chỉ có&nbsp;một mình&nbsp;Na-tiên là chưa.</p>



<p>Khi ấy, Át-pha-viết liền lấy một&nbsp;thí dụ&nbsp;trong kinh mà thuyết rằng: “Như khi sàng gạo lấy gạo trắng, nếu có gạo đen tất là không tốt, phải lựa ra. Nay trong hội này, tất cả đều là trắng, chỉ riêng Na-tiên là đen, vì chưa&nbsp;đắc quả&nbsp;A-la-hán vậy.”</p>



<p>Na-tiên nghe Át-pha-viết thuyết&nbsp;thí dụ&nbsp;trong kinh như thế, lấy làm&nbsp;buồn rầu, liền&nbsp;đứng dậy&nbsp;lễ bái&nbsp;500 vị sa-môn rồi rời khỏi&nbsp;giảng đường.&nbsp;</p>



<p>Na-tiên&nbsp;bước ra&nbsp;ngoài, tự&nbsp;suy nghĩ&nbsp;rằng: “Lẽ ra ta không nên vào ngồi trong&nbsp;pháp hội&nbsp;ấy. Chỉ có mình ta là chưa được đạo&nbsp;giải thoát, còn lại hết thảy&nbsp;mọi người&nbsp;đều đã&nbsp;được giải thoát.&nbsp;Ví như&nbsp;trong bầy&nbsp;sư tử&nbsp;lại có&nbsp;xen vào&nbsp;một con chồn. Ta nay ở giữa các vị A-la-hán lại cũng chẳng khác nào như thế. Từ nay về sau, nếu ta chưa được đạo&nbsp;giải thoát, quyết không&nbsp;trở lại&nbsp;ngồi chung trong&nbsp;chúng hội.”</p>



<p>Át-pha-viết rõ biết&nbsp;ý nghĩ&nbsp;ấy, liền gọi Na-tiên đến&nbsp;trước mặt, lấy tay xoa đầu Na-tiên mà nói rằng: “Ngày con&nbsp;đắc đạo&nbsp;cũng sẽ không bao lâu nữa. Con không nên&nbsp;âu sầu.”&nbsp;</p>



<p>Nhân đó, Át-pha-viết liền lưu giữ Na-tiên ở lại.</p>



<p>Na-tiên lại có một vị thầy nữa đã hơn tám mươi tuổi, tên là Ca-duy-viết. Trong vùng có&nbsp;vị cư&nbsp;sĩ&nbsp;thí chủ&nbsp;lớn thường ngày vẫn&nbsp;cúng dường&nbsp;thức ăn&nbsp;cho&nbsp;đệ tử&nbsp;của ngài Ca-duy-viết. Na-tiên thay thầy mang&nbsp;bình bát&nbsp;đi xin cơm, ngài liền dạy phải ngậm nước trong miệng mà đến nhà&nbsp;vị cư&nbsp;sĩ&nbsp;thí chủ&nbsp;lớn ấy xin cơm.</p>



<p>Vị cư&nbsp;sĩ thấy Na-tiên tuổi nhỏ mà&nbsp;hình dung,&nbsp;cốt cách&nbsp;đoan chánh khác người, biết là bậc có&nbsp;trí tuệ, lại đã được nghe danh Na-tiên là người&nbsp;sáng suốt&nbsp;có thể&nbsp;thuyết giảng&nbsp;kinh đạo.</p>



<p>Na-tiên vào nhà rồi,&nbsp;vị cư&nbsp;sĩ liền&nbsp;đứng dậy&nbsp;đến&nbsp;trước mặt&nbsp;lễ bái,&nbsp;chắp tay&nbsp;cung kính&nbsp;thưa rằng: “Tôi&nbsp;cúng dường&nbsp;cho các vị sa-môn&nbsp;đã lâu, chưa từng có vị nào vì tôi mà&nbsp;thuyết giảng&nbsp;nghĩa kinh. Nguyện hôm nay được ngài vì tôi mà&nbsp;thuyết giảng, trừ bỏ sự&nbsp;ngu si&nbsp;mê muội&nbsp;của tôi.”</p>



<p>Na-tiên tự nghĩ: “Ta&nbsp;vâng lời&nbsp;thầy, ngậm nước trong miệng không được nói. Nay nếu mở miệng ra, tức trái lời thầy, biết làm sao bây giờ?”</p>



<p>Lại nghĩ rằng: “Vị&nbsp;cư sĩ&nbsp;đây có tài, có chí, như được nghe ta&nbsp;thuyết kinh&nbsp;ắt sẽ được đạo.” Nghĩ vậy rồi liền nhổ nước trong miệng ra mà&nbsp;thuyết kinh&nbsp;rằng:</p>



<p>“Người đời biết&nbsp;bố thí, làm&nbsp;việc thiện, giữ theo&nbsp;giới luật,&nbsp;hiện thời&nbsp;được sự&nbsp;an ổn,&nbsp;đời sau&nbsp;được sinh về&nbsp;cõi trời. Như sanh trong&nbsp;cõi người, cũng được&nbsp;giàu sang&nbsp;trí tuệ, sau lại không phải đọa vào&nbsp;ba nẻo ác&nbsp;là&nbsp;địa ngục,&nbsp;ngạ quỷ,&nbsp;súc sanh. Người không học theo kinh, không&nbsp;giữ giới,&nbsp;hiện thời&nbsp;phải chịu khổ,&nbsp;đời sau&nbsp;lại phải đọa vào&nbsp;ba nẻo ác, không có lúc ra.”</p>



<p>Vị cư&nbsp;sĩ nghe&nbsp;thuyết kinh&nbsp;liền sanh tâm&nbsp;hoan hỷ. Na-tiên biết&nbsp;cư sĩ&nbsp;đã sanh tâm&nbsp;hoan hỷ, liền&nbsp;tiếp tục&nbsp;thuyết kinh&nbsp;nghĩa&nbsp;sâu xa&nbsp;vi diệu&nbsp;rằng: “Hết thảy&nbsp;vạn vật&nbsp;trên&nbsp;thế gian&nbsp;này rồi đều phải&nbsp;trôi qua&nbsp;đi, không có gì thường tại cả, vì thế hết thảy đều là khổ,&nbsp;cho đến&nbsp;thân người cũng vậy. Người&nbsp;thế gian&nbsp;đều nói rằng: ‘Đây là thân của ta&#8230;’ Nghĩ như vậy, nên không thể&nbsp;tự tại, được đạo Niết-bàn. Chỗ&nbsp;vui vẻ&nbsp;thật sự&nbsp;tối thượng&nbsp;chính là Niết-bàn không sanh, không già, không bệnh, không chết, không sầu, không ưu, hết thảy các việc ác đều&nbsp;tiêu diệt&#8230;”</p>



<p>Na-tiên&nbsp;thuyết kinh&nbsp;xong,&nbsp;vị cư&nbsp;sĩ ấy liền&nbsp;đắc quả&nbsp;Tu-đà-hoàn. Tự thân Na-tiên cũng&nbsp;đắc quả&nbsp;Tu-đà-hoàn.</p>



<p>Vị cư&nbsp;sĩ&nbsp;hết sức&nbsp;vui mừng, liền mang&nbsp;thức ăn&nbsp;ngon ra&nbsp;cúng dường&nbsp;cho Na-tiên. Na-tiên nói: “Hãy&nbsp;cúng dường&nbsp;vào bát của thầy tôi trước đã.”</p>



<p>Na-tiên dùng cơm xong, mang cơm về cho thầy. Thầy nhìn bát cơm, nói rằng: “Hôm nay đi&nbsp;khất thực&nbsp;đến chỗ có đồ&nbsp;ăn ngon, phạm vào&nbsp;quy ước&nbsp;của&nbsp;chúng tăng, phải trục xuất ngươi khỏi chúng.”</p>



<p>Na-tiên nghe nói&nbsp;buồn rầu&nbsp;không vui. Thầy Ca-duy-viết cho&nbsp;triệu tập&nbsp;chúng tăng&nbsp;nhóm họp, nói rằng: “Na-tiên phạm vào&nbsp;quy ước&nbsp;của&nbsp;chúng tăng,&nbsp;chúng ta&nbsp;nên trục xuất đi, không thể cho&nbsp;ở chung&nbsp;trong chúng.”</p>



<p>Khi ấy, ngài Át-pha-viết liền nói&nbsp;thí dụ&nbsp;rằng: “Như có người bắn một mũi tên mà trúng hai đích. Người được như thế không nên trục xuất. Na-tiên&nbsp;thuyết pháp, tự mình&nbsp;đắc quả, lại khiến cho&nbsp;cư sĩ&nbsp;kia cũng&nbsp;đắc quả, không nên trục xuất.”</p>



<p>Ca-duy-viết nói: “Chính vì một mũi tên bắn trúng hai đích, lại phạm&nbsp;quy ước&nbsp;của&nbsp;chúng tăng, nên không thể giữ lại. Người khác tất không thể nào&nbsp;đắc quả&nbsp;như Na-tiên, nên phải ngừa dứt việc sau này, kẻo có những người khác lại bắt chước làm theo.”</p>



<p>Khi ấy cả&nbsp;chúng hội&nbsp;đều&nbsp;ngồi yên&nbsp;không ai nói gì. Như vậy nghĩa là&nbsp;thuận theo&nbsp;lời thầy Át-pha-viết mà trục xuất Na-tiên.&nbsp;</p>



<p>Na-tiên liền&nbsp;lễ bái&nbsp;thầy, rồi&nbsp;lễ bái&nbsp;khắp&nbsp;chúng tăng. Lễ xong, ra&nbsp;đi vào&nbsp;tận chốn rừng sâu, ngồi dưới một gốc cây, ngày đêm&nbsp;suy tưởng&nbsp;đạo pháp. Không bao lâu liền&nbsp;chứng quả&nbsp;A-la-hán, có thể bay trên không, nhìn rõ khắp nơi, nghe thấu khắp chốn, lại có thể biết được&nbsp;tâm niệm&nbsp;của người khác và những chuyện&nbsp;quá khứ,&nbsp;vị lai.</p>



<p>Đắc quả&nbsp;A-la-hán rồi, Na-tiên liền&nbsp;quay về&nbsp;chùa Hòa&nbsp;Thiền cầu&nbsp;xin được&nbsp;sám hối&nbsp;với tất cả chúng tỳ-kheo tăng.&nbsp;Chúng tăng&nbsp;nhận cho&nbsp;sự sám&nbsp;hối ấy rồi, Na-tiên liền&nbsp;lễ bái&nbsp;từ biệt ra đi.</p>



<p><strong>IV.&nbsp;ĐỘ SANH</strong></p>



<p>Na-tiên từ đó ra đi,&nbsp;du hóa&nbsp;khắp nơi, vì người mà&nbsp;thuyết giảng&nbsp;kinh pháp, dạy người làm&nbsp;việc thiện. Những người được ngài&nbsp;giáo hóa, có kẻ&nbsp;phát tâm&nbsp;thọ trì&nbsp;Năm giới, có người&nbsp;đắc quả&nbsp;Tu-đà-hoàn, có người&nbsp;đắc quả&nbsp;Tư-đà-hàm, có người&nbsp;đắc quả&nbsp;A-na-hàm, hoặc cũng có người&nbsp;xuất gia&nbsp;làm sa-môn,&nbsp;đắc quả&nbsp;A-la-hán.&nbsp;Cho đến&nbsp;các vị&nbsp;Thiên vương, Đế-thích&nbsp;cõi trời&nbsp;cũng thường hiện xuống nghe ngài&nbsp;thuyết pháp.&nbsp;Thanh danh&nbsp;của ngài vang lừng khắp chốn, ngài đi đến đâu,&nbsp;ai nấy&nbsp;được gặp ngài đều sanh tâm&nbsp;hoan hỷ, được nhiều phước báu,&nbsp;cho đến&nbsp;các loài rồng,&nbsp;quỷ thần&nbsp;cũng được nhờ sức&nbsp;tế độ.</p>



<p>Sau ngài đến xứ Xá-kiệt ở&nbsp;Thiên Trúc, ngụ trong chùa Tiết-trì-ca. Nơi ấy, ngài gặp lại người quen cũ từ&nbsp;kiếp trước, nay sanh ra ở một vùng ven biển, làm&nbsp;thái tử&nbsp;con vua, tên là Di-lan-đà.</p>



<p>° ° °</p>



<p>Di-lan-đà tuổi còn nhỏ đã thích&nbsp;đọc kinh&nbsp;sách, học qua các đạo khác biệt đều có thể&nbsp;phân biệt&nbsp;hiểu rõ, thường chất vấn các thầy&nbsp;tu đạo&nbsp;khác, không ai có thể&nbsp;đối đáp&nbsp;hơn được.&nbsp;</p>



<p>Khi vua cha băng hà, Di-lan-đà nối ngôi làm&nbsp;quốc vương, lấy&nbsp;chánh pháp&nbsp;trị quốc. Vua là người tài cao, có&nbsp;trí tuệ, hiểu thấu&nbsp;việc đời, có thể&nbsp;luận bàn&nbsp;việc&nbsp;quá khứ,&nbsp;hiện tại,&nbsp;vị lai&nbsp;đều&nbsp;thông suốt, lại giỏi việc chiến trận, nhiều mưu trí, không việc gì là không rõ biết.</p>



<p>Một hôm, vua ra ngoài thành dạo chơi, dẫn theo cả quần thần binh tướng. Bấy giờ, lòng vua cao ngạo, tự nghĩ rằng: “Ta nay làm vua, có thể hiểu thấu hết thảy&nbsp;kinh điển&nbsp;của các đạo, không còn ai có thể&nbsp;đối đáp&nbsp;hơn được ta.”</p>



<p>Nghĩ vậy rồi, vua liền bảo quần thần rằng: “Bây giờ còn sớm lắm, trở vào thành cũng không có việc chi làm. Các ngươi xem&nbsp;gần đây&nbsp;có&nbsp;vị đạo&nbsp;nhân nào có thể cùng ta&nbsp;đối đáp&nbsp;nghĩa lý&nbsp;kinh đạo&nbsp;hay chăng?”</p>



<p>Có vị cận thần tên là Triêm-di-lỵ Vọng-quần tâu lên rằng: “Tâu&nbsp;đại vương,&nbsp;gần đây&nbsp;có vị sa-môn tên là Giả-hòa-la,&nbsp;thông thạo&nbsp;kinh nghĩa, có thể cùng&nbsp;đại vương&nbsp;đối đáp.”&nbsp;</p>



<p>Vua liền sai Triêm-di-lỵ đi thỉnh&nbsp;trưởng lão&nbsp;Giả-hòa-la đến. Triêm-di-lỵ đến chỗ&nbsp;trưởng lão, thưa rằng: “Đại vương muốn được gặp ngài.” Giả-hòa-la đáp: “Đại vương muốn gặp, nên tự đi đến đây, ta không đến chỗ ông ấy.”</p>



<p>Triêm-di-lỵ&nbsp;trở về&nbsp;tâu lên vua như vậy. Vua liền lên xe, cùng với 500 quân cưỡi ngựa thẳng đến chỗ ngôi chùa của&nbsp;trưởng lão&nbsp;Giả-hòa-la.&nbsp;Gặp nhau&nbsp;chào hỏi xong, vua liền hỏi: “Ngài vì sao&nbsp;từ bỏ&nbsp;nhà cửa,&nbsp;vợ con,&nbsp;xuất gia&nbsp;làm sa-môn? Ngài cầu được&nbsp;đạo lý&nbsp;gì?”</p>



<p>Giả-hòa-la đáp rằng: “Ta học theo&nbsp;đạo Phật, làm việc chân chánh, đời này được phước báu,&nbsp;đời sau&nbsp;lại cũng được nhiều phước báu. Vì thế mà&nbsp;cạo tóc&nbsp;xuất gia&nbsp;làm sa-môn.”</p>



<p>Vua lại hỏi: “Như có người&nbsp;cư sĩ&nbsp;tại gia, có&nbsp;vợ con, làm việc chân chánh thì đời này có được phước báu chăng?&nbsp;Đời sau&nbsp;có được phước báu chăng?”</p>



<p>Giả-hòa-la đáp: “Dù là&nbsp;cư sĩ&nbsp;tại gia, có&nbsp;vợ con, nếu biết làm việc chân chánh thì đời này cũng được phước báu,&nbsp;đời sau&nbsp;cũng được phước báu.”</p>



<p>Vua liền hỏi: “Như người&nbsp;tại gia&nbsp;có&nbsp;vợ con, làm việc chân chánh, đời này cũng được phước báu,&nbsp;đời sau&nbsp;cũng được phước báu. Thế thì ngài đâu&nbsp;cần phải&nbsp;cạo tóc,&nbsp;xuất gia&nbsp;làm sa-môn?”</p>



<p>Giả-hòa-la lặng thinh không&nbsp;đáp lại.</p>



<p>Quần thần quanh vua liền nói rằng: “Vị sa-môn này&nbsp;sáng suốt&nbsp;trí tuệ, cũng không đủ&nbsp;đối đáp&nbsp;với&nbsp;đại vương.” Rồi họ đều đưa nắm tay lên cao mà hô to rằng: “Đại vương thắng rồi!&nbsp;Đại vương&nbsp;thắng rồi!”</p>



<p>Trưởng lão&nbsp;Giả-hòa-la lặng thinh nhận thua cuộc.&nbsp;</p>



<p>Vua&nbsp;đưa mắt nhìn&nbsp;các&nbsp;vị cư&nbsp;sĩ quanh đó, thấy sắc mặt họ&nbsp;thản nhiên&nbsp;không tỏ vẻ gì là&nbsp;xấu hổ. Vua liền nghĩ rằng: “Bọn&nbsp;cư sĩ&nbsp;ở đây chẳng lấy gì làm&nbsp;xấu hổ&nbsp;khi thấy vị sa-môn này thua cuộc. Như vậy chắc hẳn là còn có sa-môn khác&nbsp;trí tuệ sáng suốt&nbsp;hơn, có thể cùng ta&nbsp;đối đáp&nbsp;nghĩa lý.”</p>



<p>Vua liền quay sang hỏi cận thần Triêm-di-lỵ: “Còn có vị sa-môn nào&nbsp;trí tuệ sáng suốt&nbsp;hơn, có thể cùng ta&nbsp;đối đáp&nbsp;chăng?”</p>



<p>Triêm-di-lỵ thưa rằng: “Tâu đại vương! Có vị sa-môn tên là Na-tiên,&nbsp;trí tuệ&nbsp;sâu rộng, hiểu thấu chỗ yếu nghĩa trong&nbsp;kinh điển, có thể cùng&nbsp;đại vương&nbsp;đối đáp.”</p>



<p>Vua hỏi lại: “Quả thật có thể cùng ta&nbsp;đối đáp&nbsp;chăng?”&nbsp;</p>



<p>Triêm-di-lỵ đáp: “Tất nhiên là được. Vị ấy có thể cùng&nbsp;chư thiên&nbsp;cõi trời&nbsp;đối đáp, huống chi là ở&nbsp;cõi người.”</p>



<p>Vua liền&nbsp;lập tức&nbsp;sai Triêm-di-lỵ đi thỉnh Na-tiên đến. Triêm-di-lỵ tìm đến nơi, thưa rằng: “Đại vương muốn được gặp ngài.” Na-tiên liền cùng các vị&nbsp;đệ tử&nbsp;đi theo, thẳng đến chỗ vua.</p>



<p><strong>V. HỘI NGỘ</strong></p>



<p>Vua tuy chưa từng được gặp Na-tiên trước đó, nhưng Na-tiên phong thái khác thường,&nbsp;nổi bật&nbsp;lên trong cả nhóm đông người, vua từ xa nhìn thấy đã có thể ngầm đoán biết ai là Na-tiên.&nbsp;</p>



<p>Vua lại tự nghĩ rằng: “Ta&nbsp;xưa nay&nbsp;đã từng gặp qua rất nhiều hạng người, đã từng đến dự rất nhiều cuộc&nbsp;thuyết giảng, nhưng chưa từng tự thấy sợ sệt,&nbsp;lo lắng&nbsp;như giờ đây sắp đối mặt với Na-tiên. Hôm nay Na-tiên&nbsp;nhất định&nbsp;là sẽ thắng ta rồi, nên trong lòng ta mới bồn chồn không&nbsp;an ổn&nbsp;như vậy.”</p>



<p>Khi ấy, Triêm-di-lỵ đến trước tâu rằng: “Na-tiên đã đến.”</p>



<p>Na-tiên đến rồi, vua hỏi: “Người nào là Na-tiên?”&nbsp;</p>



<p>Triêm-di-lỵ liền&nbsp;giới thiệu&nbsp;với vua. Vua&nbsp;vui mừng&nbsp;nói: “Quả là đúng như ta đã&nbsp;nhận biết&nbsp;trước.”</p>



<p>Hai bên&nbsp;gặp nhau&nbsp;chào hỏi xong, vua lấy làm&nbsp;hoan hỷ&nbsp;mời Na-tiên cùng ngồi. Na-tiên bảo vua rằng: “Kinh Phật có dạy:&nbsp;Mối lợi&nbsp;lớn nhất của người ta là được&nbsp;an ổn. Sự&nbsp;giàu sang&nbsp;lớn nhất của người ta là biết đủ. Niềm vui lớn nhất của người ta là&nbsp;đạt đến&nbsp;Niết-bàn.”</p>



<p>° ° °</p>



<p>Vua hỏi Na-tiên: “Bạch&nbsp;đại đức, tên ngài là gì?”</p>



<p>Na-tiên đáp: “Cha mẹ đặt tên cho&nbsp;bần tăng&nbsp;là Na-tiên, nhân đó&nbsp;mọi người&nbsp;đều gọi là Na-tiên. Nhưng cho dù&nbsp;cha mẹ&nbsp;có đặt cho là Duy-tiên, Thủ-la-tiên hay Duy-ca-tiên&#8230; cũng chỉ là một&nbsp;phương tiện&nbsp;dùng để&nbsp;nhận biết,&nbsp;phân biệt&nbsp;mà thôi. Tên gọi của&nbsp;mọi người&nbsp;ở&nbsp;thế gian&nbsp;cũng đều chỉ có&nbsp;ý nghĩa&nbsp;như vậy.”</p>



<p>Vua liền hỏi: “Nếu&nbsp;đại đức&nbsp;nói thế, xin hỏi tên gọi Na-tiên ấy thật ra là chỉ vào cái gì? Cái đầu là Na-tiên chăng?”</p>



<p>Na-tiên đáp: “Không phải, đầu chẳng phải là Na-tiên.”</p>



<p>Vua lại hỏi: “Mắt, tai, mũi, lưỡi là Na-tiên chăng?”</p>



<p>Na-tiên đáp: “Mắt, tai, mũi, lưỡi chẳng phải là Na-tiên.”</p>



<p>Vua lại hỏi: “Thế thì cổ, gáy, vai, cánh tay, tay chân, đó là Na-tiên chăng?”</p>



<p>Na-tiên đáp: “Không phải Na-tiên.”</p>



<p>Vua lại hỏi: “Thế thì như bắp đùi, bàn chân&#8230; phải là Na-tiên chăng?”</p>



<p>Na-tiên đáp: “Không phải Na-tiên.”</p>



<p>Vua hỏi: “Vậy&nbsp;hình sắc&nbsp;nhìn thấy đó có phải là Na-tiên chăng?”</p>



<p>Na-tiên đáp: “Không phải Na-tiên.”</p>



<p>Vua hỏi: “Như vậy sự&nbsp;cảm thọ&nbsp;vui, khổ là Na-tiên chăng?”</p>



<p>Na-tiên đáp: “Không phải Na-tiên.”</p>



<p>Vua lại hỏi: “Vậy&nbsp;phân biệt&nbsp;thiện ác, đó là Na-tiên chăng?”</p>



<p>Na-tiên đáp: “Không phải Na-tiên.”</p>



<p>Vua lại hỏi: “Như vậy, thân xác là Na-tiên chăng?”&nbsp;</p>



<p>Na-tiên đáp: “Không phải Na-tiên.”</p>



<p>Vua hỏi: “Vậy hết thảy các&nbsp;cơ quan&nbsp;trong nội tạng là Na-tiên chăng?”</p>



<p>Na-tiên đáp: “Không phải Na-tiên.”</p>



<p>Vua lại hỏi: “Như vậy, hợp cả năm điều là&nbsp;hình sắc,&nbsp;cảm thọ&nbsp;khổ vui,&nbsp;thiện ác, thân, tâm, đó là Na-tiên chăng?”</p>



<p>Na-tiên đáp: “Không phải Na-tiên.”</p>



<p>Vua hỏi: “Giả sử&nbsp;như không&nbsp;có năm điều ấy, có thể đó là Na-tiên chăng?”</p>



<p>Na-tiên đáp: “Không phải Na-tiên.”</p>



<p>Vua lại hỏi: “Như vậy&nbsp;âm thanh, tiếng vọng,&nbsp;cho đến&nbsp;hơi thở&nbsp;ra vào, có phải là Na-tiên chăng?”</p>



<p>Na-tiên đáp: “Không phải Na-tiên.”</p>



<p>Vua liền hỏi: “Như thế, thật ra đâu mới là Na-tiên?”</p>



<p>Na-tiên không đáp, hỏi lại vua rằng: “Đại vương gọi tên chiếc xe, thật ra đâu mới là xe? Cái&nbsp;trục xe&nbsp;là xe chăng?”</p>



<p>Vua đáp: “Trục xe chẳng phải là xe.”</p>



<p>Na-tiên hỏi: “Vậy vành bánh xe là xe chăng?”&nbsp;</p>



<p>Vua đáp: “Vành bánh xe cũng chẳng phải là xe?”</p>



<p>Na-tiên lại hỏi: “Vậy nan bánh xe là xe chăng?”</p>



<p>Vua đáp: “Nan bánh xe chẳng phải là xe.”</p>



<p>Na-tiên hỏi: “Vậy bánh xe là xe chăng?”</p>



<p>Vua đáp: “Bánh xe cũng chẳng phải là xe.”</p>



<p>Na-tiên hỏi: “Vậy càng xe là xe chăng?”</p>



<p>Vua đáp: “Càng xe chẳng phải là xe.”</p>



<p>Na-tiên hỏi: “Vậy cái ách có phải là xe chăng?”</p>



<p>Vua đáp: “Ách chẳng phải là xe.”</p>



<p>Na-tiên lại hỏi: “Chỗ ngồi có phải là xe chăng?”</p>



<p>Vua đáp: “Chỗ ngồi chẳng phải là xe.”</p>



<p>Na-tiên hỏi tiếp: “Chỗ gác chân có phải là xe chăng?”</p>



<p>Vua đáp: “Chỗ gác chân chẳng phải là xe.”</p>



<p>Na-tiên hỏi: “Vậy mui xe là xe chăng?”</p>



<p>Vua đáp: “Mui xe chẳng phải là xe.”</p>



<p>Na-tiên lại hỏi: “Vậy hợp đủ tất cả các món ấy lại là xe chăng?”</p>



<p>Vua đáp: “Dù hợp đủ tất cả các món ấy lại cũng không phải là xe.”</p>



<p>Na-tiên hỏi: “Giả sử&nbsp;như không&nbsp;hợp tất cả các món ấy lại, vậy là xe chăng?”</p>



<p>Vua đáp: “Không hợp các món ấy lại, cũng không phải là xe.”</p>



<p>Na-tiên hỏi: “Vậy&nbsp;âm thanh&nbsp;phát ra là xe đó chăng?”</p>



<p>Vua đáp: “Âm thanh cũng chẳng phải là xe.”</p>



<p>Na-tiên liền hỏi: “Nói như&nbsp;vậy thì&nbsp;thật ra đâu mới là xe?”</p>



<p>Vua lặng thinh không đáp được.&nbsp;</p>



<p>Đại đức&nbsp;Na-tiên bấy giờ mới&nbsp;thong thả&nbsp;nói: “Kinh Phật dạy rằng, nếu hợp tất cả các&nbsp;yếu tố&nbsp;ấy lại mà làm xe, người ta sẽ có cái vật được gọi là xe.&nbsp;Con người&nbsp;cũng vậy. Như&nbsp;hòa hợp&nbsp;tất cả các&nbsp;yếu tố&nbsp;đầu, mặt, tai, mũi, lưỡi, cổ, gáy, vai, tay chân, xương, thịt, nội tạng,&nbsp;nhan sắc,&nbsp;âm thanh, tiếng vọng,&nbsp;hơi thở&nbsp;ra vào,&nbsp;cảm thọ&nbsp;khổ vui,&nbsp;phân biệt&nbsp;thiện ác&#8230; sẽ hình thành một&nbsp;thực thể&nbsp;được gọi là&nbsp;con người.”</p>



<p>Vua hiểu ra,&nbsp;tán thán&nbsp;rằng: “Hay thay, hay thay!”</p>



<p>° ° °</p>



<p>Vua lại hỏi: “Bạch&nbsp;đại đức, ngài có thể cùng với trẫm&nbsp;đối đáp&nbsp;về&nbsp;nghĩa lý&nbsp;trong&nbsp;kinh điển&nbsp;hay chăng?”</p>



<p>Đại đức&nbsp;Na-tiên đáp: “Nếu như&nbsp;đại vương&nbsp;theo cách nói chuyện của&nbsp;bậc trí giả&nbsp;mà cùng&nbsp;bần tăng&nbsp;vấn đáp&nbsp;thì có thể được. Bằng như theo cách nói chuyện của hàng vương giả&nbsp;kiêu ngạo&nbsp;thì không thể được.”</p>



<p>Vua hỏi: “Cách nói chuyện của&nbsp;bậc trí giả&nbsp;là như thế nào?”</p>



<p>Na-tiên đáp: “Bậc&nbsp;trí giả&nbsp;khi nói chuyện thì chất vấn lẫn nhau đến cùng cực,&nbsp;giải thích&nbsp;cho nhau để cùng hiểu được&nbsp;vấn đề, khi&nbsp;tranh luận&nbsp;sẵn lòng&nbsp;chấp nhận&nbsp;có hơn có kém, có thắng có bại, có đúng có sai, tự biết&nbsp;nhận ra&nbsp;lý lẽ&nbsp;đúng đắn&nbsp;nhất,&nbsp;sáng suốt&nbsp;nhất.&nbsp;Bậc trí giả&nbsp;không hề có sự&nbsp;giận dữ,&nbsp;nóng nảy&nbsp;khi&nbsp;tranh luận. Cách nói chuyện của&nbsp;bậc trí giả&nbsp;là như thế.”</p>



<p>Vua lại hỏi: “Còn cách nói chuyện của hàng vương giả&nbsp;kiêu ngạo&nbsp;là như thế nào?”</p>



<p>Na-tiên đáp: “Hàng vương giả&nbsp;kiêu ngạo&nbsp;khi nói chuyện thì&nbsp;hoàn toàn&nbsp;theo ý mình, chẳng cần biết đến&nbsp;luật lệ.&nbsp;Nếu không&nbsp;theo với ý mình, tất sẽ&nbsp;dùng sức&nbsp;mạnh mà&nbsp;đàn áp,&nbsp;trừng phạt. Cách nói chuyện của hàng vương giả&nbsp;kiêu ngạo&nbsp;là như thế.”</p>



<p>Vua liền nói: “Vậy trẫm xin chọn cách nói chuyện của&nbsp;bậc trí giả, không theo cách nói chuyện của hàng vương giả. Xin&nbsp;đại đức&nbsp;cũng đừng nên nghĩ là mình đang nói chuyện với một vị vua chúa&nbsp;quyền uy. Hãy&nbsp;xem như&nbsp;là ngài đang nói chuyện với các vị sa-môn, với các vị&nbsp;đệ tử, hoặc với hàng&nbsp;cư sĩ&nbsp;học đạo, hoặc như đang dạy dỗ cho hàng sa-môn vậy. Xin đừng sanh tâm lo sợ, xin lấy&nbsp;tâm chân&nbsp;chánh mà chỉ bày cho trẫm.”</p>



<p>Đại đức&nbsp;Na-tiên khen rằng: “Thật&nbsp;tốt đẹp&nbsp;biết bao.”</p>



<p>° ° °</p>



<p>Vua liền nói: “Bạch&nbsp;đại đức, trẫm có điều muốn hỏi.”</p>



<p>Na-tiên đáp: “Xin&nbsp;đại vương&nbsp;cứ hỏi.”</p>



<p>Vua nói: “Trẫm đã hỏi rồi.”</p>



<p>Na-tiên đáp: “Bần tăng đã đáp rồi.”</p>



<p>Vua hỏi: “Ngài đáp điều gì vậy?”</p>



<p>Na-tiên hỏi: “Đại vương hỏi&nbsp;bần tăng&nbsp;điều gì vậy?”</p>



<p>Vua nói: “Trẫm không có chỗ hỏi.”</p>



<p>Na-tiên nói: “Bần tăng cũng không có chỗ đáp.”</p>



<p>° ° °</p>



<p>Khi ấy, vua tự&nbsp;suy nghĩ&nbsp;rằng: “Vị sa-môn này&nbsp;quả thật&nbsp;là bậc&nbsp;đại trí&nbsp;tuệ,&nbsp;sáng suốt&nbsp;vô cùng. Giờ đây ta còn rất nhiều điều muốn hỏi ngài, hay là ngày mai ta sẽ cho thỉnh ngài vào cung cho rộng&nbsp;thì giờ&nbsp;đối đáp&nbsp;vậy.”</p>



<p>Vua đem ý ấy nói với viên cận thần Triêm-di-lỵ. Người này liền thưa với&nbsp;đại đức&nbsp;Na-tiên rằng: “Hôm nay trời sắp tối,&nbsp;đại vương&nbsp;phải về cung. Ngày mai,&nbsp;đại vương&nbsp;muốn thỉnh ngài vào cung để cùng nhau&nbsp;đối đáp.”</p>



<p>Na-tiên nhận lời, nói rằng: “Như vậy hay lắm.”&nbsp;</p>



<p>Vua lên xe về cung. Giữa đường, lúc nào cũng nghĩ đến Na-tiên, lẩm bẩm gọi thầm tên ngài trong miệng: “Na-tiên, Na-tiên&#8230;” Cứ&nbsp;suy tưởng&nbsp;như vậy mãi&nbsp;cho đến&nbsp;sáng hôm sau.</p>



<p><strong>VI. THỈNH VẤN</strong></p>



<p>Sáng hôm sau, Triêm-di-lỵ với quần thần cùng tâu hỏi vua rằng: “Có nên đi thỉnh&nbsp;đại đức&nbsp;Na-tiên chăng?”</p>



<p>Vua đáp: “Nên đi ngay đi.”</p>



<p>Triêm-di-lỵ lại hỏi: “Đến thỉnh&nbsp;đại đức, nên để cho bao nhiêu vị sa-môn cùng đi?”</p>



<p>Vua nói: “Việc ấy cứ&nbsp;tùy ý&nbsp;đại đức.”</p>



<p>Khi ấy có viên quan giữ kho của vua tên là Xan đang đứng cạnh đó, liền tâu vua rằng: “Xin để cho mười vị sa-môn cùng đi.”</p>



<p>Vua nói: “Việc ấy để&nbsp;tùy ý&nbsp;đại đức&nbsp;Na-tiên.”</p>



<p>Xan lại nói: “Có thể để cho mười vị sa-môn&nbsp;đi theo&nbsp;được chăng?”</p>



<p>Vua nói: “Cứ để&nbsp;tùy ý&nbsp;đại đức, ngài muốn dẫn theo bao nhiêu sa-môn cũng đều được.”</p>



<p>Xan lại nói: “Có lẽ nên&nbsp;cho phép&nbsp;dẫn theo mười vị sa-môn thôi.”</p>



<p>Vua nghe ông Xan lãi nhãi hoài chuyện ấy, liền&nbsp;nổi giận&nbsp;nạt rằng: “Ông thật là keo lận hết chỗ nói. Thảo nào tên ông là Xan, quả đúng không sai! Ông&nbsp;tham tiếc&nbsp;của vua khác nào của ông, không biết là trái ý ta sẽ bị tội chết hay sao? Thôi ông hãy đi đi, ta tạm&nbsp;tha tội&nbsp;cho ông đó. Lẽ nào ta làm đến bậc vương giả mà không&nbsp;đủ sức&nbsp;đãi cơm các vị sa-môn hay sao?”</p>



<p>Ông Xan nghe vua&nbsp;nói xấu&nbsp;hổ đi ra, không dám nói thêm&nbsp;gì nữa.</p>



<p>Triêm-di-lỵ đến chỗ ngài Na-tiên, vào thưa rằng: “Bạch&nbsp;đại đức,&nbsp;đại vương&nbsp;thỉnh ngài vào cung.”</p>



<p>Na-tiên hỏi: “Nhà vua&nbsp;cho phép&nbsp;ta dẫn theo bao nhiêu sa-môn?”</p>



<p>Triêm-di-lỵ đáp: “Xin&nbsp;tùy ý&nbsp;ngài, muốn dẫn theo bao nhiêu cũng được.”</p>



<p>Na-tiên liền cùng với nhóm ông Giả-hòa-la và tám mươi vị sa-môn nữa vào cung.</p>



<p>Triêm-di-lỵ cùng đi, giữa đường thưa hỏi&nbsp;đại đức&nbsp;Na-tiên rằng: “Bạch&nbsp;đại đức, hôm qua nói chuyện với nhà vua, chung quy tôi vẫn không biết lấy gì là Na-tiên?”</p>



<p>Đại đức&nbsp;Na-tiên quay sang hỏi ông: “Vậy theo ý ông, lấy gì là Na-tiên?”</p>



<p>Triêm-di-lỵ đáp: “Theo ý tôi,&nbsp;hơi thở&nbsp;có vào có ra, ấy là Na-tiên.”&nbsp;</p>



<p>Na-tiên hỏi: “Nếu như hơi người đưa ra rồi không vào lại, người ấy có sống không?”</p>



<p>Triêm-di-lỵ đáp: “Hơi ra mà không vào,&nbsp;nhất định&nbsp;phải chết.”</p>



<p>Na-tiên hỏi: “Như người thổi kèn, thổi sáo hoặc thổi lửa, hơi ấy ra rồi có vào lại chăng?”</p>



<p>Triêm-di-lỵ đáp: “Thưa không.”</p>



<p>Na-tiên hỏi: “Vậy những người thổi kèn, thổi sáo hoặc thổi lửa ấy, hơi đưa ra rồi không vào lại, vì sao không chết?”</p>



<p>Triêm-di-lỵ không đáp được, thưa rằng: “Như chuyện&nbsp;hơi thở&nbsp;ra vào này, sức tôi&nbsp;thật không&nbsp;hiểu nổi. Xin&nbsp;đại đức&nbsp;vì tôi mà&nbsp;giải thích&nbsp;cho.”</p>



<p>Na-tiên nói: “Hơi&nbsp;thở ra&nbsp;vào chẳng qua chỉ là một trong nhiều&nbsp;hoạt động&nbsp;của cơ thể đó thôi. Như trong tâm có&nbsp;suy nghĩ&nbsp;gì, nhờ cái lưỡi mà nói ra thành lời. Ấy là&nbsp;hoạt động&nbsp;của lưỡi. Như trong ý có chỗ&nbsp;nghi ngại, trong tâm liền&nbsp;suy xét,&nbsp;ngẫm nghĩ, đó là&nbsp;hoạt động&nbsp;của tâm. Mỗi mỗi đều&nbsp;hòa hợp&nbsp;theo&nbsp;chủ ý&nbsp;của người, nhưng tách biệt ra thì hết thảy đều là không, chẳng có gì là Na-tiên cả.”</p>



<p>Triêm-di-lỵ chợt hiểu ra, liền&nbsp;phát tâm&nbsp;xin thọ&nbsp;Năm giới, nguyện làm người&nbsp;cư sĩ&nbsp;tu&nbsp;tại gia.</p>



<p>° ° °</p>



<p>Na-tiên vào cung vua rồi, thẳng đến chỗ vua. Vua liền&nbsp;lễ bái, thỉnh ngài và tám mươi vị sa-môn cùng ngồi.</p>



<p>Vua sai dọn các món&nbsp;ăn ngon&nbsp;quý để&nbsp;cúng dường&nbsp;tất cả. Vua lại tự tay&nbsp;tiếp đãi&nbsp;ngài Na-tiên rất&nbsp;ân cần.</p>



<p>Khi các vị sa-môn đều đã dùng bữa xong, vua lại&nbsp;cúng dường&nbsp;cho mỗi vị một bộ cà-sa và một đôi dép. Riêng ngài Na-tiên và Giả-hòa-la mỗi người ba bộ cà-sa với một đôi dép.</p>



<p>Cúng dường&nbsp;xong, vua nói với&nbsp;đại đức&nbsp;Na-tiên rằng: “Xin lưu mười vị ở lại, còn bao nhiêu xin cho về.”</p>



<p>Na-tiên liền giữ lại mười vị sa-môn, số còn lại cho&nbsp;trở về&nbsp;chùa.</p>



<p>Vua lại cho gọi tất cả&nbsp;mọi người&nbsp;trong hậu cung đến để được nghe vua và&nbsp;đại đức&nbsp;Na-tiên cùng&nbsp;đối đáp.</p>



<p><strong>VII.&nbsp;VẤN ĐÁP</strong></p>



<p>Vua cho dọn chỗ ngồi&nbsp;đối diện&nbsp;với ngài Na-tiên. Sau đó, vua hỏi&nbsp;đại đức&nbsp;Na-tiên: “Bạch&nbsp;đại đức, nên nói về những chuyện gì trước nhất?”</p>



<p>Na-tiên đáp: “Đại vương muốn nghe những điều cốt yếu, nên bàn chuyện cốt yếu vậy.”</p>



<p>1.&nbsp;MỤC ĐÍCH&nbsp;XUẤT GIA&nbsp;</p>



<p>Vua hỏi: “Theo ngài thì chuyện gì là cốt yếu nhất? Vì muốn cầu&nbsp;điều chi&nbsp;mà các ngài&nbsp;xuất gia&nbsp;làm sa-môn?”</p>



<p>Na-tiên đáp: “Chúng tôi&nbsp;xuất gia&nbsp;làm sa-môn là muốn trừ hết những&nbsp;khổ não&nbsp;trong đời&nbsp;này, cũng không muốn&nbsp;đời sau&nbsp;phải chịu&nbsp;khổ não&nbsp;nữa. Vì những&nbsp;mục đích&nbsp;ấy,&nbsp;chúng tôi&nbsp;xuất gia&nbsp;làm sa-môn.&nbsp;Chúng tôi&nbsp;xem đó là điều cốt yếu nhất,&nbsp;tốt đẹp&nbsp;nhất vậy.”</p>



<p>Vua lại hỏi: “Có phải hết thảy các vị sa-môn đều vì muốn&nbsp;diệt khổ&nbsp;não đời này và&nbsp;đời sau&nbsp;nên mới&nbsp;xuất gia&nbsp;làm sa-môn hay chăng?”</p>



<p>Na-tiên đáp: “Không phải vậy. Thật ra, những người&nbsp;xuất gia&nbsp;làm sa-môn có bốn hạng khác nhau.”</p>



<p>Vua hỏi: “Thế nào là bốn hạng khác nhau?”</p>



<p>Na-tiên nói: “Trong số những người&nbsp;xuất gia&nbsp;làm sa-môn, có người&nbsp;do nơi&nbsp;mắc phải&nbsp;nợ nần&nbsp;nên&nbsp;xuất gia&nbsp;để tránh né; có người vì phạm phép nước nên sợ mà&nbsp;xuất gia&nbsp;để lẩn tránh; có người vì quá&nbsp;nghèo khổ&nbsp;nên&nbsp;xuất gia&nbsp;để được có cơm ăn, áo mặc. Ba hạng ấy không phải vì muốn&nbsp;diệt khổ&nbsp;não mà&nbsp;xuất gia.&nbsp;Hạng thứ&nbsp;tư là những bậc chân chánh&nbsp;xuất gia. Vì muốn&nbsp;trừ diệt&nbsp;hết&nbsp;khổ não&nbsp;đời này và&nbsp;đời sau, nên mới&nbsp;xuất gia&nbsp;làm sa-môn.”</p>



<p>Vua hỏi: “Như&nbsp;đại đức, có phải vì&nbsp;cầu đạo&nbsp;mà làm sa-môn chăng?”</p>



<p>Na-tiên đáp: “Bần tăng vốn&nbsp;xuất gia&nbsp;khi còn nhỏ tuổi, nhờ có&nbsp;kinh điển&nbsp;của Phật, cùng các vị sa-môn đều là những bậc&nbsp;cao minh&nbsp;giáo hóa&nbsp;cho.&nbsp;Bần tăng&nbsp;học kinh,&nbsp;thọ giới,&nbsp;thâm nhập&nbsp;vào trong tâm. Vì thế mà&nbsp;lập chí&nbsp;nguyện quyết trừ dứt&nbsp;khổ não&nbsp;trong đời&nbsp;này và&nbsp;đời sau&nbsp;vậy.”</p>



<p>Vua&nbsp;tán thán&nbsp;rằng: “Lành thay! Lành thay!”</p>



<p>2.&nbsp;TÁI SANH&nbsp;</p>



<p>Vua lại thưa hỏi: “Bạch&nbsp;đại đức, có người nào&nbsp;sau khi chết&nbsp;không&nbsp;tái sanh&nbsp;trở lại&nbsp;chăng?”</p>



<p>Đại đức&nbsp;Na-tiên đáp: “Có người phải&nbsp;tái sanh, nhưng cũng có người không phải&nbsp;tái sanh.”</p>



<p>Vua hỏi: “Những ai phải tái sanh? Những ai không phải tái sanh?”</p>



<p>Na-tiên đáp: “Người nào chưa dứt lòng&nbsp;tham muốn&nbsp;ân tình,&nbsp;ái luyến&nbsp;thì sẽ phải&nbsp;tái sanh. Người nào đã dứt được lòng&nbsp;tham muốn&nbsp;ân tình,&nbsp;ái luyến&nbsp;thì sẽ không phải&nbsp;tái sanh&nbsp;nữa.”</p>



<p>Vua hỏi: “Như người&nbsp;hết lòng&nbsp;niệm tưởng pháp lành chân chánh, có phải sanh ra ở&nbsp;đời sau&nbsp;nữa chăng?”</p>



<p>Na-tiên đáp: “Người nào&nbsp;hết lòng&nbsp;niệm tưởng&nbsp;chánh pháp, niệm tưởng&nbsp;trí tuệ&nbsp;lành, cùng với các điều lành khác nữa, có thể nhờ đó mà không còn phải sanh ra ở&nbsp;đời sau.”</p>



<p>Vua lại hỏi: “Người&nbsp;hết lòng&nbsp;niệm tưởng pháp lành chân chánh, so với có&nbsp;trí tuệ, hai điều ấy có&nbsp;đồng nghĩa với&nbsp;nhau chăng?”</p>



<p>Na-tiên đáp: “Không, hai điều ấy có&nbsp;ý nghĩa&nbsp;khác nhau.”</p>



<p>Vua hỏi: “Các loài trâu, ngựa,&nbsp;gia súc&nbsp;&#8230; có trí hay chăng?”</p>



<p>Na-tiên đáp: “Các loài trâu, ngựa,&nbsp;gia súc&#8230; mỗi loài đều tự có trí, nhưng tâm của chúng không đồng nhau.”</p>



<p>Na-tiên lại nói: “Đại vương từng thấy người gặt lúa chăng? Tay trái nắm lấy bó lúa, tay phải cắt đi. Này&nbsp;đại vương, bậc có&nbsp;trí tuệ&nbsp;đoạn tuyệt&nbsp;ái dục&nbsp;cũng giống như người cắt lúa.”</p>



<p>Vua khen rằng: “Hay thay! Hay thay!”</p>



<p>3. CÁC ĐIỀU LÀNH</p>



<p>Vua hỏi: “Bạch&nbsp;đại đức, còn các điều lành khác nữa là những gì?”</p>



<p>Na-tiên đáp: “Thành tín,&nbsp;hiếu thuận,&nbsp;tinh tấn, nghĩ nhớ điều lành,&nbsp;nhất tâm&nbsp;và&nbsp;trí tuệ. Đó gọi là các điều lành.”</p>



<p>Vua hỏi: “Thế nào là thành tín?”</p>



<p>Na-tiên đáp: “Thành tín là không còn&nbsp;nghi ngại&nbsp;gì nữa. Tin là có Phật, có&nbsp;kinh điển&nbsp;của Phật, có các vị tỳ-kheo tăng, có các vị đắc A-la-hán. Tin là có đời nay và còn có&nbsp;đời sau, tin vào việc&nbsp;hiếu thuận&nbsp;với&nbsp;cha mẹ, tin vào&nbsp;việc làm&nbsp;lành gặp lành, làm ác gặp ác. Vững tin được như vậy, tâm liền được&nbsp;thanh tịnh, tức lìa xa được năm điều ác.</p>



<p>“Những gì là năm điều ác? Một là tham dâm, hai là&nbsp;sân nhuế, ba là mê ngủ, bốn là tham đắm các&nbsp;trò vui, năm là còn có chỗ nghi.&nbsp;</p>



<p>“Người chưa lìa được năm điều ác ấy thì tâm ý chẳng được&nbsp;an định. Lìa được năm điều ác ấy thì trong tâm liền&nbsp;thanh tịnh.</p>



<p>“Ví như vua Giá-ca-việt dẫn theo người, ngựa với xe cộ lội qua một dòng nước. Qua khỏi rồi, vua khát muốn tìm nước uống. Vua có hạt châu quý có thể làm lắng trong nước đục, liền dùng hạt châu ấy đặt xuống nước, nước đục&nbsp;tức thời&nbsp;lắng trong. Vua liền có nước sạch để uống.</p>



<p>“Lòng người&nbsp;chất chứa&nbsp;điều ác,&nbsp;ví như&nbsp;nước đục.&nbsp;Đạo tâm&nbsp;vượt thoát&nbsp;sanh tử&nbsp;của hàng&nbsp;đệ tử&nbsp;Phật&nbsp;ví như&nbsp;hạt châu quý có thể làm nước lắng trong. Người trừ sạch được các điều ác rồi,&nbsp;lòng thành&nbsp;tín&nbsp;trong sạch&nbsp;sáng rỡ như hạt châu&nbsp;minh nguyệt.”</p>



<p>Vua&nbsp;tán thán&nbsp;rằng: “Lành thay! Lành thay!”</p>



<p>Vua lại hỏi: “Còn như người&nbsp;tinh tấn&nbsp;thành tín&nbsp;là thế nào?”</p>



<p>Na-tiên đáp: “Hàng&nbsp;đệ tử&nbsp;tu theo Phật, tự sách tấn làm gương cho nhau. Trong số ấy có những người trừ hết các tâm ác, có người&nbsp;đắc quả&nbsp;Tu-đà-hoàn, có người&nbsp;đắc quả&nbsp;Tư-đà-hàm, có người&nbsp;đắc quả&nbsp;A-na-hàm, có người&nbsp;đắc quả&nbsp;A-la-hán, lại có những người học làm theo&nbsp;tâm thành&nbsp;tín. Hết thảy những người ấy đều được&nbsp;thoát khỏi&nbsp;chốn&nbsp;thế tục.</p>



<p>“Ví như có trận mưa rất lớn trên núi cao, nên dòng nước dưới chân núi dâng cao&nbsp;mênh mông. Những người ở hai bên bờ nước đều không biết mức sâu cạn thế nào, nên sợ chẳng dám lội qua.&nbsp;</p>



<p>“Bấy giờ có người từ xa đến, nhìn dòng nước biết được mức rộng hẹp, sâu cạn, rồi tự lượng sức mình, liền lội xuống nước mà&nbsp;vượt qua. Những người ở hai bên bờ nước liền bắt chước theo người ấy, đều lội qua được dòng nước.</p>



<p>“Hàng&nbsp;đệ tử&nbsp;Phật cũng giống như vậy,&nbsp;phát khởi&nbsp;tâm thành&nbsp;tín vì thấy những người&nbsp;đi trước&nbsp;được&nbsp;tâm thanh tịnh, đắc các quả Tu-đà-hoàn, Tư-đà-hàm, A-na-hàm, A-la-hán, đều là nhờ nơi có&nbsp;thiện tâm&nbsp;với sức&nbsp;tinh tấn.</p>



<p>“Kinh Phật dạy rằng: Người có&nbsp;tâm thành&nbsp;tín, có thể vượt ra khỏi&nbsp;thế tục. Người&nbsp;tu hành&nbsp;trước phải&nbsp;kiềm chế, ngăn chặn được năm mối&nbsp;tham dục, tự&nbsp;biết thân&nbsp;này là khổ, sau mới có thể&nbsp;cứu độ&nbsp;cho người khác. Hết thảy đều là nhờ nơi&nbsp;trí tuệ&nbsp;mà&nbsp;thành tựu&nbsp;đạo đức&nbsp;vậy.”</p>



<p>Vua&nbsp;tán thán&nbsp;rằng: “Hay thay! Hay thay!”</p>



<p>4.&nbsp;HIẾU THUẬN</p>



<p>Vua lại hỏi: “Bạch&nbsp;đại đức, những gì được gọi là hiếu thuận?”</p>



<p>Na-tiên đáp: “Tất cả các điều lành đều là&nbsp;hiếu thuận. Phàm&nbsp;ba mươi bảy pháp trợ đạo&nbsp;đều&nbsp;do nơi&nbsp;hiếu thuận&nbsp;làm gốc.”</p>



<p>Vua hỏi: “Những gì là ba mươi bảy pháp trợ đạo?”</p>



<p>Na-tiên đáp: “Đó là Bốn pháp dừng ý, Bốn pháp đoạn ý, Bốn&nbsp;pháp thần&nbsp;túc, Năm căn,&nbsp;Năm sức, Bảy&nbsp;giác ý&nbsp;và Tám&nbsp;chánh đạo.”</p>



<p>“Những gì gọi là Bốn pháp dừng ý?”</p>



<p>“Phật dạy rằng, một là&nbsp;quán thân&nbsp;thì thân dừng, hai là quán&nbsp;bệnh khổ&nbsp;thì&nbsp;bệnh khổ&nbsp;dừng, ba là quán ý thì ý dừng, bốn là&nbsp;quán pháp&nbsp;thì pháp dừng. Như vậy gọi là Bốn pháp dừng ý.”</p>



<p>Vua lại hỏi: “Những gì là Bốn pháp đoạn ý?”</p>



<p>“Khi đã&nbsp;phân biệt&nbsp;được Bốn pháp dừng ý nói trên, không còn khởi niệm&nbsp;trở lại&nbsp;nữa, gọi là Bốn pháp đoạn ý. Đã được Bốn pháp đoạn ý, trong&nbsp;ý niệm&nbsp;liền&nbsp;tự nhiên&nbsp;được Bốn&nbsp;thần túc.”</p>



<p>“Những gì là Bốn&nbsp;thần túc&nbsp;trong ý niệm?”</p>



<p>“Một là mắt có thể nhìn thấu khắp nơi, hai là tai có thể nghe thấu khắp nơi, ba là có thể biết được chỗ&nbsp;suy nghĩ&nbsp;trong tâm người khác, bốn là có thể bay đi trên không. Đó là Bốn&nbsp;thần túc&nbsp;trong&nbsp;ý niệm.”</p>



<p>Vua hỏi: “Còn những gì gọi là Năm căn?”</p>



<p>Na-tiên đáp: “Một là mắt thấy các&nbsp;hình sắc&nbsp;đẹp đẽ&nbsp;hay&nbsp;xấu xí, trong ý đều không tham đắm. Hai là tai nghe các&nbsp;âm thanh&nbsp;êm dịu hay lời nhục mạ, trong ý đều không tham đắm. Ba là mũi ngửi mùi hương thơm tho hay khó ngửi, trong ý đều không tham đắm. Bốn là lưỡi nếm các&nbsp;mùi vị&nbsp;ngon ngọt hay&nbsp;cay đắng, trong ý đều không tham đắm. Năm là&nbsp;thân thể&nbsp;xúc chạm êm dịu, trong ý cũng&nbsp;không vui&nbsp;thích;&nbsp;thân thể&nbsp;xúc chạm thô cứng, trong ý cũng không khó chịu. Như vậy gọi là Năm căn.”</p>



<p>Vua lại hỏi: “Còn những gì gọi là Năm sức?”</p>



<p>Na-tiên đáp: “Một là&nbsp;chế ngự&nbsp;được mắt, hai là&nbsp;chế ngự&nbsp;được tai, ba là&nbsp;chế ngự&nbsp;được mũi, bốn là&nbsp;chế ngự&nbsp;được lưỡi, năm là&nbsp;chế ngự&nbsp;được thân. Nhờ&nbsp;đủ sức&nbsp;chế ngự&nbsp;được năm&nbsp;giác quan&nbsp;ấy nên tâm ý không bị sa đọa, như vậy gọi là&nbsp;Năm sức.”</p>



<p>Vua hỏi: “Những gì là Bảy giác ý?”</p>



<p>Na-tiên đáp: “Một là Ý&nbsp;giác ý, hai là&nbsp;Phân biệt&nbsp;giác ý, ba là&nbsp;Tinh tấn&nbsp;giác ý, bốn là Khả&nbsp;giác ý, năm là Ỷ&nbsp;giác ý, sáu là Định&nbsp;giác ý, bảy là Hộ&nbsp;giác ý. Đó là Bảy&nbsp;giác ý.”</p>



<p>Vua hỏi: “Những gì gọi là Tám món đạo hạnh?”</p>



<p>Đáp: “Một là chỗ thấy biết chân chánh, hai là&nbsp;suy nghĩ&nbsp;chân chánh, ba là&nbsp;lời nói&nbsp;chân chánh, bốn là&nbsp;việc làm&nbsp;chân chánh, năm là&nbsp;đời sống&nbsp;chân chánh, sáu là&nbsp;tinh tấn&nbsp;chân chánh, bảy là chỗ nhớ nghĩ chân chánh, tám là định ý chân chánh. Đó gọi là Tám món&nbsp;đạo hạnh.</p>



<p>“Phàm&nbsp;ba mươi bảy phẩm trợ đạo&nbsp;này đều lấy&nbsp;hiếu thuận&nbsp;làm gốc.&nbsp;</p>



<p>“Như người mang đồ nặng đặt để nơi xa, có thể&nbsp;vững vàng&nbsp;được là nhờ nơi mặt đất.&nbsp;Các loại&nbsp;ngũ cốc, cây cỏ trên&nbsp;thế gian&nbsp;này, đều sanh từ đất mà mọc hướng lên trời.</p>



<p>“Lại như người muốn xây thành lớn, trước phải lo việc đo đạc làm&nbsp;nền móng, rồi sau mới có thể khởi công&nbsp;xây dựng.</p>



<p>“Lại như người muốn nhào lộn biểu diễn, trước phải lo dọn chỗ đất cho sạch và bằng phẳng, sau mới có thể nhào lộn trên đó.</p>



<p>“Đệ tử Phật muốn&nbsp;cầu đạo, trước phải&nbsp;thực hành&nbsp;theo&nbsp;kinh giáo,&nbsp;trì giới, nhớ nghĩ điều lành, vì rõ biết sự&nbsp;cần khổ&nbsp;nên liền&nbsp;lìa bỏ&nbsp;được các mối&nbsp;ái dục, liền&nbsp;suy tưởng&nbsp;nghĩ nhớ đến Tám&nbsp;chánh đạo.”</p>



<p>Vua lại hỏi: “Nên nhờ vào những điều gì để lìa được các mối ái dục?”</p>



<p>Na-tiên đáp: “Một lòng nghĩ nhớ đến đạo,&nbsp;ái dục&nbsp;tự nhiên&nbsp;diệt mất.”</p>



<p>Vua liền&nbsp;tán thán: “Hay thay! Hay thay!”</p>



<p>5.&nbsp;TINH TẤN</p>



<p>Vua hỏi: “Những gì gọi là tinh tấn?”</p>



<p>Na-tiên đáp: “Giữ lấy điều lành đã có,&nbsp;tăng tiến&nbsp;điều lành chưa có, ấy gọi là&nbsp;tinh tấn.</p>



<p>“Như có bức tường nhà sắp đổ, nhờ có trụ chống nên lại đứng vững.&nbsp;Tinh tấn&nbsp;cũng giống như vậy.</p>



<p>“Như có vị vua mang quân đi đánh. Quân không đủ mạnh, vua liền sai thêm quân đến&nbsp;trợ lực, nhờ vậy được chiến thắng.</p>



<p>“Người ta có lắm điều ác, cũng như lúc quân kia&nbsp;yếu ớt. Người giữ được tâm thiện,&nbsp;tiêu diệt&nbsp;các tâm ác, cũng như vua sai quân đến tăng viện mà được chiến thắng.&nbsp;</p>



<p>“Giữ lấy năm tâm thiện, trừ mất năm tâm ác, cũng như chiến đấu được&nbsp;đắc thắng. Như vậy gọi là&nbsp;tinh tấn&nbsp;tăng tiến&nbsp;điều lành.”</p>



<p>Đến đây, ngài Na-tiên đọc kệ rằng:</p>



<p>Tinh tấn&nbsp;giúp thêm sức,</p>



<p>Người đi trọn đường lành.</p>



<p>Vượt thoát được&nbsp;thế tục,</p>



<p>Không còn phải xoay vần.</p>



<p>Vua nghe xong,&nbsp;tán thán&nbsp;rằng: “Hay thay! Hay thay!”</p>



<p>6. NHỚ NGHĨ ĐIỀU LÀNH</p>



<p>Vua lại hỏi: “Sao gọi là tâm ý luôn nhớ nghĩ điều lành?”</p>



<p>Na-tiên đáp: “Như người hái nhiều thứ hoa, dùng chỉ kết chặt lại thành chuỗi, gió không thổi tung ra được.</p>



<p>“Thí như người giữ kho của vua, biết&nbsp;phân biệt&nbsp;rõ được trong kho vua có các thứ&nbsp;vàng bạc,&nbsp;châu ngọc&nbsp;nhiều ít, tốt xấu thế nào. Người&nbsp;tu hành&nbsp;muốn được đạo, tâm ý luôn nhớ nghĩ đến&nbsp;Ba mươi bảy phẩm trợ đạo. Như vậy tức là nhớ nghĩ đến đạo&nbsp;xuất thế. Người có nhớ nghĩ&nbsp;đạo lý, nhân đó mới biết được điều lành, điều ác;&nbsp;biết điều&nbsp;nào có thể làm, điều nào không thể làm;&nbsp;phân biệt&nbsp;được tốt xấu, tự suy ngẫm lấy, liền bỏ ác mà làm lành.</p>



<p>“Thí như người giữ cửa cho vua, biết những người nào được vua&nbsp;kính trọng, những người nào vua không&nbsp;kính trọng, những người nào có lợi cho vua, những người nào không có lợi cho vua. Người ấy biết những ai được vua&nbsp;kính trọng, những ai có thể làm lợi cho vua, liền cho vào. Biết những ai vua không&nbsp;kính trọng, những ai không có lợi cho vua, liền không cho vào.</p>



<p>“Người&nbsp;tu hành&nbsp;kiểm soát&nbsp;ý niệm&nbsp;mình cũng như vậy. Những điều lành thì để cho vào, những điều ác thì ngăn giữ lại.&nbsp;Gìn giữ&nbsp;ý lành,&nbsp;chế phục&nbsp;trong tâm cũng lại như vậy.”</p>



<p>Đến đây, ngài Na-tiên dẫn thuyết lời trong kinh rằng:</p>



<p>“Người&nbsp;tu học&nbsp;phải tự kiên cường&nbsp;gìn giữ&nbsp;phòng hộ&nbsp;ý niệm&nbsp;của mình,&nbsp;cảnh giác&nbsp;với sáu món&nbsp;ái dục&nbsp;trong thân. Làm được như vậy mới có thể thoát ra khỏi vòng&nbsp;thế tục.”</p>



<p>Vua&nbsp;tán thán&nbsp;rằng: “Hay thay! Hay thay!”</p>



<p>7.&nbsp;NHẤT TÂM</p>



<p>Vua lại hỏi: “Những gì có thể gọi nhất tâm?”</p>



<p>Na-tiên đáp: “Trong các điều lành, chỉ riêng có&nbsp;nhất tâm&nbsp;là cao hơn hết. Nếu người có&nbsp;thể đạt&nbsp;được&nbsp;nhất tâm, các điều thiện khác đều tùy đó sanh ra.</p>



<p>“Thí như&nbsp;xây dựng&nbsp;lầu gác, muốn&nbsp;vững vàng&nbsp;phải có&nbsp;nền móng&nbsp;chịu đựng. Hết thảy các điều thiện đều phải&nbsp;do nơi&nbsp;nhất tâm.</p>



<p>“Như có vị vua dẫn bốn đạo quân ra thành chiến đấu, có quân cưỡi voi, quân cưỡi ngựa, quân dùng xe và quân đánh bộ, thảy đều do vua điều khiển. Hết thảy&nbsp;kinh điển,&nbsp;giới luật&nbsp;của Phật, cùng các điều lành khác đều&nbsp;tùy theo&nbsp;nơi&nbsp;nhất tâm, cũng như các đạo quân kia&nbsp;tùy theo&nbsp;vua vậy.”</p>



<p>Đến đây, ngài Na-tiên dẫn kinh thuyết rằng:</p>



<p>“Trong các điều lành,&nbsp;nhất tâm&nbsp;là gốc. Tất cả những người&nbsp;học đạo, trước hết đều phải nương vào sự&nbsp;nhất tâm.&nbsp;Nếu không&nbsp;thì việc&nbsp;sanh tử&nbsp;từ&nbsp;quá khứ&nbsp;đến nay&nbsp;cứ như nước chảy xuôi giòng, trước sau nối nhau không có lúc dừng.”&nbsp;</p>



<p>Vua khen rằng: “Hay thay! Hay thay!”</p>



<p>8.&nbsp;TRÍ TUỆ</p>



<p>Vua lại hỏi: “Thế nào là trí tuệ?”</p>



<p>Na-tiên đáp: “Bần tăng trước đã có nói. Người có&nbsp;trí tuệ&nbsp;có thể dứt trừ các mối nghi, rõ biết các&nbsp;việc lành. Như vậy là&nbsp;trí tuệ.</p>



<p>“Thí như cầm đèn sáng bước vào nhà tối, vừa bước vào thì bóng tối liền tan biến, tự thấy&nbsp;sáng tỏ. Người&nbsp;sáng suốt&nbsp;có&nbsp;trí tuệ, cũng như&nbsp;ánh đèn&nbsp;sáng vậy.</p>



<p>“Lại như người dùng thanh đao bén chặt cây. Người có&nbsp;trí tuệ&nbsp;có thể đoạn dứt các điều ác, cũng như thanh đao bén kia.</p>



<p>“Người ta ở trong&nbsp;thế gian,&nbsp;trí tuệ&nbsp;là cao quý hơn hết. Ai có được&nbsp;trí tuệ, có thể vượt thoát được qua khỏi sự khổ về&nbsp;sanh tử.”&nbsp;</p>



<p>Vua khen rằng: “Hay thay! Hay thay!”</p>



<p>9.&nbsp;CÔNG NĂNG&nbsp;CỦA CÁC ĐIỀU LÀNH</p>



<p>Vua lại hỏi: “Bạch&nbsp;đại đức, từ trước đến giờ ngài đã thuyết dạy đủ các điều khác nhau trong kinh,&nbsp;phải chăng&nbsp;đều chỉ là vì muốn trừ sạch các điều ác?”</p>



<p>Na-tiên đáp: “Đúng vậy! Kinh&nbsp;Phật thuyết&nbsp;dạy các điều lành khác biệt nhau, thảy đều là vì muốn trừ sạch hết thảy các điều ác.</p>



<p>“Như vị vua kia dẫn bốn đoàn quân khác nhau ra trận chiến đấu. Nhưng từ khi phát binh, mỗi mỗi đều chỉ vì muốn&nbsp;công kích&nbsp;quân địch.&nbsp;Phật thuyết&nbsp;trong kinh đủ các điều lành, cũng chỉ vì muốn&nbsp;công kích, trừ bỏ cho hết các điều ác đi vậy.”</p>



<p>Vua&nbsp;tán thán&nbsp;rằng: “Hay thay! Hay thay!&nbsp;Đại đức&nbsp;Na-tiên&nbsp;thuyết giảng&nbsp;kinh Phật nghe thật rất thỏa chí!”</p>



<p>10. AI&nbsp;TÁI SANH</p>



<p>Vua lại hỏi: “Bạch đại đức! Như có nói, khi người ta chết đi, theo nơi chỗ thiện hoặc ác đã làm mà&nbsp;tái sanh. Vậy&nbsp;tái sanh&nbsp;đó là&nbsp;thân mạng&nbsp;với&nbsp;thần thức&nbsp;này đi&nbsp;tái sanh&nbsp;chăng? Hay&nbsp;thân mạng&nbsp;với&nbsp;thần thức&nbsp;khác?”</p>



<p>Na-tiên đáp: “Không phải&nbsp;thân mạng&nbsp;với&nbsp;thần thức&nbsp;này, cũng không lìa khỏi&nbsp;thân mạng&nbsp;với&nbsp;thần thức&nbsp;này.”</p>



<p>Khi ấy, ngài Na-tiên hỏi lại vua rằng: “Này&nbsp;đại vương,&nbsp;thân mạng&nbsp;khi còn ấu thơ theo bú sữa mẹ, với&nbsp;thân mạng&nbsp;khi đã lớn khôn, là một hay là khác?”</p>



<p>Vua đáp: “Thân mạng khi còn ấu thơ, vốn là khác.”</p>



<p>Na-tiên nói: “Người ta khi còn ở trong bụng mẹ, từ lúc mới vừa thụ tinh,&nbsp;cho đến&nbsp;thành&nbsp;bào thai&nbsp;có khác nhau chăng?&nbsp;Cho đến&nbsp;hình thành đủ xương cốt,&nbsp;da thịt, có khác nhau chăng? Từ khi sanh ra,&nbsp;cho đến&nbsp;khi tuổi lớn, có khác nhau chăng?&nbsp;</p>



<p>“Như một người học viết, người khác có thể thay người ấy mà viết hay chăng?”</p>



<p>Vua nói: “Không thể được.”</p>



<p>Na-tiên lại hỏi: “Như một người&nbsp;phạm pháp, tội đáng mang ra xử, người vô tội chịu thay được chăng?”</p>



<p>Vua đáp: “Không thể được.”</p>



<p>Đại đức&nbsp;Na-tiên đã dùng các việc như trên mà dẫn dụ, nhưng ý vua vẫn chưa hiểu thấu nên thưa hỏi: “Bạch&nbsp;đại đức, như lại có ai hỏi ngài việc này, ngài&nbsp;giảng giải&nbsp;thế nào?”</p>



<p>Na-tiên đáp: “Thân của&nbsp;bần tăng&nbsp;đây, từ thuở&nbsp;thiếu thời&nbsp;cho đến&nbsp;khi khôn lớn, vốn chỉ là một thân được&nbsp;liên tục&nbsp;nuôi lớn đó thôi.”</p>



<p>Na-tiên lại hỏi vua: “Như người thắp lên&nbsp;ngọn đèn&nbsp;lúc đầu&nbsp;hôm, có thể giữ cháy&nbsp;cho đến&nbsp;sáng chăng?”</p>



<p>Vua đáp: “Có thể được.”</p>



<p>Na-tiên lại hỏi: “Lửa đã thắp lên nơi&nbsp;ngọn đèn&nbsp;ấy,&nbsp;lúc đầu&nbsp;hôm, lúc giữa đêm,&nbsp;cho đến&nbsp;lúc gần sáng, có phải cùng một ngọn lửa chăng?”</p>



<p>Vua đáp: “Không phải.”</p>



<p>Na-tiên lại hỏi: “Thắp đèn&nbsp;lúc đầu&nbsp;hôm, lúc nửa đêm có thắp lại chăng? Lúc gần sáng có thắp lại chăng?”</p>



<p>Vua đáp: “Không. Đầu hôm đã thắp đèn, lửa ấy nơi tim đèn cháy mãi&nbsp;cho đến&nbsp;sáng mà thôi.”</p>



<p>Na-tiên nói: “Thần thức của&nbsp;con người&nbsp;tiếp nối&nbsp;mà thay đổi cũng là như thế. Mất ở nơi này, sanh ở&nbsp;nơi khác. Người sanh ra vốn chỉ một&nbsp;thần thức&nbsp;ấy&nbsp;cho đến&nbsp;lúc già chết, rồi sau lại hướng đến&nbsp;một đời&nbsp;sống khác.&nbsp;Tiếp nối&nbsp;mà thay đổi như vậy, nên&nbsp;thật không&nbsp;phải, mà cũng không lìa cái&nbsp;thần thức&nbsp;trước đó. Người&nbsp;sau khi chết&nbsp;rồi,&nbsp;thần thức&nbsp;đều phải hướng đến&nbsp;một đời&nbsp;sống mới.</p>



<p>“Ví như dùng sữa mà làm ra bơ, phó-mát,&nbsp;đề hồ&#8230; Có thể nào lấy những đề-hồ, phó-mát, bơ&#8230; ấy&nbsp;trở lại&nbsp;gọi là sữa chăng? Có người nói như vậy, có đúng chăng?”</p>



<p>Vua đáp: “Lời nói như vậy không đúng.”</p>



<p>Na-tiên nói: “Thần thức&nbsp;con người&nbsp;cũng như sữa kia vậy. Từ sữa mà làm ra bơ, phó-mát, đề-hồ&#8230;&nbsp;Thần thức&nbsp;con người&nbsp;cũng như vậy.&nbsp;Do nơi&nbsp;thần thức&nbsp;mà thọ sanh, từ sanh ra&nbsp;cho đến&nbsp;khôn lớn, già chết.&nbsp;Sau khi chết&nbsp;rồi lại&nbsp;tái sanh. Thân này vừa mất liền thọ thân khác,&nbsp;ví như&nbsp;hai vị chúa tể, lại tương quan&nbsp;với nhau&nbsp;như một.”</p>



<p>Vua khen rằng: “Hay thay! Hay thay!”</p>



<p>11. KHÔNG CÒN&nbsp;TÁI SANH</p>



<p>Vua lại hỏi Na-tiên: “Như có người không phải&nbsp;tái sanh&nbsp;ở&nbsp;đời sau, người ấy có thể tự biết việc ấy chăng?”</p>



<p>Na-tiên đáp: “Tất nhiên. Người ấy có thể tự biết được.”</p>



<p>Vua hỏi: “Nhờ đâu mà biết?”</p>



<p>Na-tiên đáp: “Người ấy tự&nbsp;biết mình&nbsp;không còn&nbsp;ân tình&nbsp;ái luyến, không còn&nbsp;tham dục, không còn các điều ác trong tâm. Vì thế tự biết không còn phải&nbsp;tái sanh&nbsp;đời sau&nbsp;nữa.”</p>



<p>Na-tiên lại hỏi vua: “Như nhà nông kia cày ruộng, gieo giống, đến khi thu hoạch vào chứa trong kho. Vụ mùa năm sau người ấy không cày ruộng, không gieo giống, chỉ dùng thóc chứa trong kho. Người nhà nông ấy có mong gì được thu hoạch thóc mới chăng?”&nbsp;</p>



<p>Vua nói: “Nhà nông ấy&nbsp;thật không&nbsp;thể mong như vậy được.”</p>



<p>Na-tiên hỏi: “Nhà nông ấy do đâu mà biết sẽ không có thu hoạch thóc mới?”</p>



<p>Vua đáp: “Vì nhà nông ấy không cày ruộng, không gieo giống&nbsp;trở lại, nên biết không thể mong gì có thu hoạch thóc mới.”</p>



<p>Na-tiên nói: “Người&nbsp;tu hành&nbsp;đắc đạo&nbsp;cũng giống như vậy. Tự&nbsp;biết mình&nbsp;đã dứt bỏ&nbsp;ân tình,&nbsp;ái luyến, vui khổ; không còn tâm&nbsp;tham muốn,&nbsp;vì vậy&nbsp;tự biết là&nbsp;đời sau&nbsp;không còn phải&nbsp;tái sanh&nbsp;nữa.”</p>



<p>12.&nbsp;TRÍ TUỆ&nbsp;CỦA NGƯỜI&nbsp;ĐẮC ĐẠO</p>



<p>Vua lại hỏi: “Người đã&nbsp;chấm dứt&nbsp;được sự&nbsp;tái sanh, ngay&nbsp;trong đời&nbsp;này có được&nbsp;trí tuệ&nbsp;khác người thường chăng?”</p>



<p>Na-tiên đáp: “Tất nhiên. Người ấy có&nbsp;trí tuệ&nbsp;khác người thường.”</p>



<p>Vua lại hỏi: “Người ấy có thể&nbsp;sáng suốt&nbsp;hiểu rõ&nbsp;chăng?”</p>



<p>Na-tiên đáp: “Tất nhiên, người ấy có thể&nbsp;sáng suốt&nbsp;hiểu rõ.”</p>



<p>Vua hỏi: “Có&nbsp;trí tuệ&nbsp;và&nbsp;sáng suốt&nbsp;hiểu rõ, hai việc ấy có khác nhau hay chăng?”</p>



<p>Na-tiên đáp: “Hai việc ấy đều như nhau.”</p>



<p>Vua hỏi: “Người có&nbsp;trí tuệ sáng suốt&nbsp;hiểu rõ, có thể&nbsp;hiểu biết&nbsp;hết thảy&nbsp;mọi việc&nbsp;chăng? Có những việc gì không thể hiểu thấu chăng?”</p>



<p>Na-tiên đáp: “Có điều hiểu thấu, có điều không hiểu thấu.”</p>



<p>Vua hỏi: “Những gì hiểu thấu? Những gì không hiểu thấu?”</p>



<p>Na-tiên đáp: “Những gì trước đây chưa từng học đến, không thể hiểu thấu. Những gì đã có học qua, có thể hiểu thấu. Nhưng người có trí đều hiểu thấu được rằng&nbsp;vạn vật&nbsp;thảy đều&nbsp;trôi qua&nbsp;đến chỗ&nbsp;không không, chẳng&nbsp;tùy theo&nbsp;ý mình; lòng người tham đắm sự vui thảy đều là gieo lấy nhân của sự khổ, dẫn đến sự khổ. Người có&nbsp;trí tuệ&nbsp;biết rõ lý&nbsp;thành bại&nbsp;không thường tồn của sự vật,&nbsp;vì vậy&nbsp;mà khác với kẻ tầm thường.”</p>



<p>Vua hỏi: “Như người có&nbsp;trí tuệ, sự&nbsp;ngu si&nbsp;khi ấy ở đâu?”</p>



<p>Na-tiên đáp: “Người có&nbsp;trí tuệ, những điều&nbsp;ngu si&nbsp;tự nhiên&nbsp;diệt mất.&nbsp;Ví như&nbsp;người cầm đèn sáng&nbsp;đi vào&nbsp;nhà tối, trong nhà liền được chiếu sáng, bóng tối&nbsp;tức thời&nbsp;diệt mất.&nbsp;Trí tuệ&nbsp;cũng như đèn sáng,&nbsp;ngu si&nbsp;như bóng tối. Người có&nbsp;trí tuệ, hết thảy các điều&nbsp;ngu si&nbsp;tất phải bị&nbsp;tiêu diệt.”</p>



<p>Vua lại hỏi: “Diệt hết&nbsp;ngu si&nbsp;rồi, khi ấy&nbsp;trí tuệ&nbsp;ở đâu?”</p>



<p>Na-tiên đáp: “Người sau khi đã dùng&nbsp;trí tuệ&nbsp;mà diệt hết&nbsp;ngu si, thì&nbsp;trí tuệ&nbsp;ấy cũng tự mất. Nhưng những gì mà&nbsp;trí tuệ&nbsp;tạo ra vẫn còn&nbsp;tồn tại.</p>



<p>“Ví như người&nbsp;đang đêm&nbsp;thắp đèn để viết thư. Đèn tắt rồi nhưng lá thư vẫn còn&nbsp;tồn tại.&nbsp;Trí tuệ&nbsp;cũng như vậy. Đã&nbsp;thành tựu&nbsp;được cho người rồi,&nbsp;trí tuệ&nbsp;liền mất, nhưng những điều đã có được vẫn còn&nbsp;tồn tại.”</p>



<p>Vua nói: “Đại&nbsp;đức bảo&nbsp;rằng&nbsp;trí tuệ&nbsp;thành tựu&nbsp;cho người rồi tự mất. Xin nói rõ thêm về lời ấy.”</p>



<p>Na-tiên đáp: “Ví như người muốn phòng hỏa hoạn, nên chuẩn bị sẵn 5 thùng nước lớn. Khi có hỏa hoạn, liền dùng nước trong 5 thùng ấy mà&nbsp;dập tắt&nbsp;lửa. Lửa đã tắt rồi, người ấy còn có&nbsp;ý muốn&nbsp;dùng mấy cái thùng nữa hay chăng?”</p>



<p>Vua đáp: “Người ấy tất không còn muốn dùng mấy cái thùng nữa. Lửa đã tắt, dùng mấy cái thùng ấy mà làm chi?”</p>



<p>Na-tiên nói: “Người&nbsp;tu học&nbsp;dùng năm tâm lành diệt hết các điều ác, cũng giống như những thùng nước kia&nbsp;dập tắt&nbsp;lửa.”</p>



<p>13. NĂM TÂM LÀNH</p>



<p>Vua hỏi: “Những gì là năm tâm lành?”</p>



<p>Na-tiên đáp: “Một là tin vào điều thiện, điều ác. Hai là không hủy báng&nbsp;kinh điển,&nbsp;giới luật. Ba là&nbsp;tinh tấn. Bốn là&nbsp;ân cần&nbsp;nhớ nghĩ các điều lành. Năm là một lòng nhớ nghĩ đến&nbsp;đạo pháp. Đó là năm điều lành. Người có thể làm theo năm điều lành ấy, liền được&nbsp;trí tuệ sáng suốt,&nbsp;hiểu rõ&nbsp;được&nbsp;thân mạng&nbsp;này cũng như&nbsp;vạn vật&nbsp;đều không thường tồn, hiểu được lẽ&nbsp;khổ não, rằng&nbsp;mọi việc&nbsp;đều không&nbsp;theo như&nbsp;ý muốn, hiểu được lẽ không có gì là&nbsp;sở hữu&nbsp;cả.</p>



<p>“Ví như vị thầy thuốc mang năm loại thuốc đến nhà người bệnh. Lấy năm thứ thuốc ấy cho bệnh nhân uống, được khỏi bệnh. Sau đó, thầy thuốc có còn muốn dùng&nbsp;các loại&nbsp;thuốc ấy nữa chăng?”</p>



<p>Vua đáp: “Bệnh đã khỏi, tất&nbsp;nhiên không&nbsp;còn muốn dùng&nbsp;các loại&nbsp;thuốc ấy nữa.”</p>



<p>Na-tiên nói: “Năm loại thuốc ấy,&nbsp;ví như&nbsp;năm điều lành, như&nbsp;trí tuệ. Người thầy thuốc ấy cũng như người&nbsp;học đạo. Bệnh ấy&nbsp;ví như&nbsp;các điều ác.&nbsp;Ngu si&nbsp;ví như&nbsp;bệnh nhân. Hiểu đạo rồi,&nbsp;xa lìa&nbsp;cõi thế, như bệnh nhân được khỏi.&nbsp;Trí tuệ&nbsp;đã&nbsp;thành tựu, người&nbsp;học đạo&nbsp;đã vượt ra khỏi&nbsp;thế tục,&nbsp;chứng đắc&nbsp;đạo pháp,&nbsp;trí tuệ&nbsp;liền tự diệt mất.&nbsp;Ví như&nbsp;người&nbsp;dũng sĩ&nbsp;chiến đấu, nhắm vào kẻ địch mà bắn ra năm mũi tên, được&nbsp;đắc thắng. Đã chiến thắng rồi, người ấy còn có muốn được lại năm mũi tên ấy chăng?”</p>



<p>Vua đáp: “Không, không thể muốn được lại năm mũi tên ấy.”</p>



<p>Na-tiên nói: “Năm mũi tên như năm điều&nbsp;sáng suốt&nbsp;của người. Người trí nhờ trí mà được đạo, như&nbsp;dũng sĩ&nbsp;kia chiến thắng kẻ địch. Các điều ác cũng như kẻ địch. Người tu giữ lấy năm điều lành, diệt hết các điều ác. Các điều ác đã diệt,&nbsp;trí tuệ&nbsp;lành tất sanh. Người tu nhờ nơi&nbsp;trí tuệ&nbsp;lành mà được&nbsp;độ thoát.&nbsp;</p>



<p><strong>KINH TỲ-KHEO NA-TIÊN</strong><br>Đoàn Trung Còn &#8211; Nguyễn Minh Tiến dịch và&nbsp;chú giải<br>Nguyễn&nbsp;Minh Hiển&nbsp;hiệu đính<br>Nhà xuất&nbsp;bản Tôn&nbsp;Giáo Hà Nội 2009<br><br><br></p>



<p><strong>QUYỂN TRUNG</strong></p>



<p><strong>I.&nbsp;CÁC&nbsp;VẤN ĐỀ&nbsp;VỀ&nbsp;TÂM THỨC</strong></p>



<p><strong>1.&nbsp;CẢM XÚC&nbsp;VÀ SỰ KHỔ, VUI</strong></p>



<p>Vua hỏi: “Bạch&nbsp;đại đức, người ta thấy vui trong lòng, điều ấy là thiện hay bất thiện? Người ta thấy khổ trong lòng, điều ấy là thiện hay bất thiện? Phật có thuyết các&nbsp;pháp vui&nbsp;hoặc khổ chăng? Như khiến cho các&nbsp;pháp hữu vi&nbsp;không phải khổ.”</p>



<p>Na-tiên liền hỏi vua: “Này&nbsp;đại vương, như có người đốt hòn sắt nóng đỏ, nắm trong lòng bàn tay, hòn sắt có làm người ấy rất khó chịu chăng? Lại trong lòng bàn tay kia&nbsp;nắm chặt&nbsp;một cục băng, cục băng có làm người ấy rất khó chịu chăng?”</p>



<p>Vua đáp: “Tất nhiên, cả hai đều có sức gây khó chịu như nhau.”</p>



<p>Na-tiên hỏi vua: “Như vậy, vật trong hai tay người ấy, có phải đều nóng cả chăng?”</p>



<p>“Không phải đều nóng cả.”</p>



<p>“Hay là đều lạnh cả chăng?”</p>



<p>“Cũng không phải đều lạnh cả.”</p>



<p>Na-tiên nói: “Cả hai vật ấy đều gây khó chịu.&nbsp;Bần tăng&nbsp;đã hai lần hỏi&nbsp;đại vương. Nếu cả hai đều nóng, nên nói là đều nóng; nếu cả hai đều lạnh, nên nói là đều lạnh. Nay vì sao một lạnh, một nóng, lại có thể nói là đều gây khó chịu cho người?”</p>



<p>Vua nói: “Trẫm không đủ&nbsp;trí tuệ&nbsp;hiểu rõ&nbsp;việc này. Xin&nbsp;đại đức&nbsp;vì trẫm&nbsp;giảng giải.”</p>



<p>Na-tiên đáp: “Kinh Phật nói rằng: Có sáu việc khiến cho người ta đắm vào sự vui, có sáu việc khiến người ta đắm vào sự buồn, lại có sáu việc khiến người ta&nbsp;không vui, có sáu việc khiến người ta&nbsp;không vui&nbsp;cũng không buồn.&nbsp;</p>



<p>“Còn có sáu việc giúp người ta thoát ra khỏi sự vui, sáu việc giúp người ta thoát ra khỏi sự buồn.”</p>



<p>Vua hỏi: “Những gì là sáu việc khiến người ta&nbsp;chìm đắm&nbsp;vào sự vui?”</p>



<p>Na-tiên đáp: “Một là mắt nhìn thấy, trong lòng&nbsp;mong mỏi&nbsp;có được mãi, vì thế nên vui. Hai là tai nghe&nbsp;âm thanh&nbsp;dễ chịu, trong lòng&nbsp;mong mỏi&nbsp;có được mãi, vì thế nên vui. Ba là mũi ngửi hương thơm, trong lòng&nbsp;mong mỏi&nbsp;có được mãi, vì thế nên vui. Bốn là lưỡi nếm vị ngon, trong lòng&nbsp;mong mỏi&nbsp;có được mãi, vì thế nên vui. Năm là thân xúc chạm&nbsp;êm ái, trong lòng&nbsp;mong mỏi&nbsp;có được mãi, vì thế nên vui. Sáu là trong ý được vui, trong lòng&nbsp;mong mỏi&nbsp;có được mãi, vì thế nên vui. Như vậy là sáu việc khiến người ta&nbsp;chìm đắm&nbsp;vào sự vui.”</p>



<p>Vua lại hỏi: “Những gì là sáu việc giúp người ta thoát ra khỏi sự vui?”</p>



<p>Na-tiên đáp: “Một là mắt thấy sắc đẹp, lòng nghĩ nhớ rằng chẳng thể được như vậy mãi, liền sanh tâm dứt bỏ, tự&nbsp;suy nghĩ&nbsp;hiểu thấu lẽ&nbsp;vô thường, nhờ vậy thoát ra khỏi sự vui.&nbsp;</p>



<p>“Hai là tai nghe&nbsp;âm thanh&nbsp;dễ chịu, lòng nghĩ nhớ rằng chẳng thể được như vậy mãi, liền sanh tâm dứt bỏ, nhờ vậy thoát ra khỏi sự vui.&nbsp;</p>



<p>“Ba là mũi ngửi hương thơm, lòng nghĩ nhớ rằng chẳng thể được như vậy mãi, liền sanh tâm dứt bỏ, nhờ vậy thoát ra khỏi sự vui.&nbsp;</p>



<p>“Bốn là lưỡi nếm vị ngon, lòng nghĩ nhớ rằng chẳng thể được như vậy mãi, liền sanh tâm dứt bỏ, nhờ vậy thoát ra khỏi sự vui.&nbsp;</p>



<p>“Năm là thân xúc chạm&nbsp;êm ái, lòng nghĩ nhớ rằng chẳng thể được như vậy mãi, liền sanh tâm dứt bỏ, nhờ vậy thoát ra khỏi sự vui.&nbsp;</p>



<p>“Sáu là&nbsp;ý nghĩ&nbsp;đến&nbsp;ái dục, lòng nghĩ nhớ rằng chẳng thể được như vậy mãi, liền sanh tâm dứt bỏ, nhờ vậy nên thoát ra khỏi sự vui.&nbsp;</p>



<p>“Như vậy là sáu việc giúp người ta thoát ra khỏi sự vui.”</p>



<p>Vua hỏi: “Những gì là sáu việc khiến người ta&nbsp;chìm đắm&nbsp;vào sự buồn?”</p>



<p>Na-tiên đáp: “Một là những điều mắt không&nbsp;ưa thích&nbsp;mà phải nhìn thấy, nên sanh tâm buồn. Hai là những điều tai không muốn nghe mà phải nghe, nên sanh tâm buồn. Ba là những mùi mũi không ưa ngửi mà phải ngửi, nên sanh tâm buồn. Bốn là những vị lưỡi không ưa nếm mà phải nếm, nên sanh tâm buồn. Năm là những điều thân không&nbsp;ưa thích&nbsp;mà phải xúc chạm, nên sanh tâm buồn. Sáu là những&nbsp;điều ý&nbsp;không&nbsp;ưa thích&nbsp;mà phải&nbsp;nghĩ tưởng, nên sanh tâm buồn. Như vậy là sáu việc khiến người ta&nbsp;chìm đắm&nbsp;vào sự buồn.”&nbsp;</p>



<p>Vua hỏi: “Những gì là sáu việc khiến người ta không vui?”</p>



<p>Na-tiên đáp: “Một là mắt thấy những&nbsp;hình sắc&nbsp;xấu xí, khiến người&nbsp;không vui. Hai là tai nghe những&nbsp;âm thanh&nbsp;khó chịu, khiến người&nbsp;không vui. Ba là mũi ngửi những&nbsp;mùi hôi&nbsp;thối, khiến người&nbsp;không vui. Bốn là lưỡi nếm những vị&nbsp;cay đắng, khiến người&nbsp;không vui. Năm là thân xúc chạm những vật thô nhám, khiến người&nbsp;không vui. Sáu là trong ý ôm ấp những sự oán ghét, khiến người&nbsp;không vui. Như vậy là sáu việc khiến người ta&nbsp;không vui.”</p>



<p>Vua lại hỏi: “Những gì là sáu việc khiến người ta không buồn cũng không vui?”</p>



<p>Na-tiên đáp: “Một là mắt thấy&nbsp;hình sắc, lòng không buồn, cũng&nbsp;không vui. Hai là tai nghe&nbsp;âm thanh, lòng không buồn, cũng&nbsp;không vui. Ba là mũi ngửi hương thơm, lòng không buồn, cũng&nbsp;không vui. Bốn là lưỡi nếm&nbsp;mùi vị, lòng không buồn, cũng&nbsp;không vui. Năm là thân có xúc chạm, lòng không buồn, cũng&nbsp;không vui. Sáu là ý có&nbsp;suy nghĩ, lòng không buồn, cũng&nbsp;không vui. Như vậy là sáu việc khiến người ta không buồn cũng&nbsp;không vui.”</p>



<p>Vua lại hỏi: “Những gì là sáu việc giúp người ta thoát ra khỏi sự buồn rầu?”</p>



<p>Na-tiên đáp: “Một là mắt nhìn thấy sự chết, nhân đó suy ngẫm rằng thân mình với&nbsp;vạn vật&nbsp;đều&nbsp;vô thường. Người ấy tự nghĩ rằng: Ta đã có được&nbsp;ý nghĩ&nbsp;này, làm sao lại không đắc đạo? Như vậy thoát ra khỏi sự&nbsp;buồn rầu.&nbsp;</p>



<p>“Hai là tai không&nbsp;ưa thích&nbsp;những&nbsp;âm thanh hay&nbsp;lạ. Người ấy tự nghĩ rằng: Ta đã có được&nbsp;ý nghĩ&nbsp;này, làm sao lại không đắc đạo? Như vậy thoát ra khỏi sự&nbsp;buồn rầu.&nbsp;</p>



<p>“Ba là mũi không&nbsp;ưa thích&nbsp;mùi hương thơm. Người ấy tự nghĩ rằng: Ta đã có được&nbsp;ý nghĩ&nbsp;này, làm sao lại không đắc đạo? Như vậy thoát ra khỏi sự&nbsp;buồn rầu.&nbsp;</p>



<p>“Bốn là lưỡi không sợ những vị nhạt đắng. Người ấy tự nghĩ rằng: Ta đã có được&nbsp;ý nghĩ&nbsp;này, làm sao lại không đắc đạo? Như vậy thoát ra khỏi sự&nbsp;buồn rầu.&nbsp;</p>



<p>“Năm là thân không ưa những sự xúc chạm mềm mại. Người ấy tự nghĩ rằng: Ta đã có được&nbsp;ý nghĩ&nbsp;này, làm sao lại không đắc đạo? Như vậy thoát ra khỏi sự&nbsp;buồn rầu.&nbsp;</p>



<p>“Sáu là ý không&nbsp;ưa thích&nbsp;sự&nbsp;ái dục. Người ấy tự nghĩ rằng: Ta đã có được&nbsp;ý nghĩ&nbsp;này, làm sao lại không đắc đạo? Như vậy thoát ra khỏi sự&nbsp;buồn rầu.&nbsp;</p>



<p>“Như vậy là sáu việc giúp người ta thoát ra khỏi sự&nbsp;buồn rầu.”</p>



<p>Vua&nbsp;tán thán&nbsp;rằng: “Hay thay! Hay thay!”</p>



<p><strong>2.&nbsp;SAU KHI CHẾT</strong></p>



<p>Vua hỏi: “Người ta&nbsp;sau khi chết&nbsp;đi rồi, những gì sẽ sanh&nbsp;trở lại&nbsp;ở đời sau?”</p>



<p>Na-tiên đáp: “Là danh và thân sanh&nbsp;trở lại&nbsp;ở&nbsp;đời sau.”</p>



<p>Vua hỏi: “Có phải là danh và thân của đời này sanh&nbsp;trở lại&nbsp;chăng?”</p>



<p>Na-tiên đáp: “Không phải! Không phải danh, cũng không phải thân của đời này sanh&nbsp;trở lại. Nhưng&nbsp;do nơi&nbsp;danh và thân của đời này tạo tác các&nbsp;việc thiện&nbsp;ác, nên&nbsp;đời sau&nbsp;mới có danh và thân theo đó sanh ra.”</p>



<p>Vua hỏi: “Như nói rằng danh và thân của đời này làm các&nbsp;việc thiện&nbsp;hoặc ác,&nbsp;đời sau&nbsp;danh thân&nbsp;ấy lại chẳng sanh ra, vậy người có làm những điều cực ác,&nbsp;cuối cùng&nbsp;cũng có thể được&nbsp;thoát khỏi, không phải chịu lấy những điều khổ hay sao?”</p>



<p>Na-tiên đáp: “Như người đời nay làm&nbsp;việc thiện, sau không sanh ra nữa, cũng nói là được&nbsp;thoát khỏi&nbsp;sao? Người tạo tác các&nbsp;việc thiện&nbsp;ác không dừng nghỉ, vậy nên không thể thoát được&nbsp;nghiệp quả.</p>



<p>“Ví như có người hái trộm quả xoài của người khác. Người chủ bắt được, giải đến trước vua khiếu nại rằng: Người này hái trộm xoài của tôi.</p>



<p>“Người hái trộm xoài liền nói: Tôi không có hái trộm xoài của ông này. Ông này ngày trước chỉ có trồng cây xoài con, vốn không có trồng quả xoài. Nay tôi tự tay hái được quả xoài, sao gọi là trộm? Tôi không có hái xoài của ông ta, nên không có tội.”</p>



<p>Na-tiên hỏi vua: “Này&nbsp;đại vương, hai người tranh nhau như thế, ai đúng ai sai?”</p>



<p>Vua đáp: “Người trồng cây xoài con là đúng.&nbsp;Kẻ trộm&nbsp;kia&nbsp;không có lý, tất phải chịu&nbsp;buộc tội.”</p>



<p>Na-tiên hỏi: “Kẻ trộm vì sao có tội?”</p>



<p>Vua đáp: “Sở dĩ nói kẻ ấy có tội, là vì nhân có người trồng cây xoài con&nbsp;ngày xưa, mới thành cây cao lớn, có quả như ngày nay.”</p>



<p>Na-tiên nói: “Việc sanh ra của&nbsp;con người&nbsp;cũng giống như vậy. Đời này, với danh và thân này tạo tác các&nbsp;việc thiện&nbsp;ác,&nbsp;tùy theo&nbsp;đó mà thọ sanh ở&nbsp;đời sau. Tạo các&nbsp;việc thiện&nbsp;ác&nbsp;trong đời&nbsp;này là gốc vậy.</p>



<p>“Ví như có người gặt trộm lúa người khác. Chủ ruộng bắt được nói rằng: Ông gặt trộm lúa của tôi.&nbsp;</p>



<p>“Người ấy nói: Tôi không có trộm lúa của ông. Ông gieo mạ xuống ruộng, tôi tự cắt lúa mà lấy, làm sao gọi tôi là trộm?</p>



<p>“Hai bên tranh cãi, cùng đưa nhau đến chỗ vua, trình bày lại sự việc. Như vậy, ai đúng ai sai?”</p>



<p>Vua đáp: “Người đã gieo mạ là đúng, người gặt trộm lúa là không đúng?”</p>



<p>Na-tiên hỏi: “Vì sao biết kẻ gặt trộm lúa là không đúng?”</p>



<p>Vua nói: “Vì việc gieo mạ là&nbsp;nguyên nhân,&nbsp;như không&nbsp;có người gieo mạ, làm sao có được bông lúa?”</p>



<p>Na-tiên nói: “Việc sanh ra của&nbsp;con người&nbsp;cũng giống như vậy. Đời này, với danh và thân này tạo tác các&nbsp;việc thiện&nbsp;ác,&nbsp;tùy theo&nbsp;đó mà thọ sanh ở&nbsp;đời sau. Tạo các&nbsp;việc thiện&nbsp;ác&nbsp;trong đời&nbsp;này là gốc vậy.</p>



<p>“Ví như ngày đông giá rét, có người nhóm lửa trong nhà để sưởi ấm. Người ấy lại để lửa như&nbsp;vậy mà&nbsp;bỏ đi,&nbsp;dần dần&nbsp;lửa bén ra vách nhà, làm cháy nhà, lây sang đến các nhà gần đó. Chủ nhà bị hại bắt người ấy đưa đến chỗ vua, tâu rằng: Người này nhóm lửa, làm cháy nhà tôi.</p>



<p>“Người ấy nói: Tôi chỉ nhóm một đống lửa nhỏ để sưởi ấm mà thôi. Tôi không có đốt nhà.”</p>



<p>Na-tiên hỏi vua: “Như vậy ai đúng, ai sai?”</p>



<p>Vua đáp: “Người nhóm lửa ấy sai rồi. Vì chính do lửa ấy mà sanh ra đám cháy.”</p>



<p>Na-tiên nói: “Việc sanh ra của&nbsp;con người&nbsp;cũng giống như vậy. Đời này, với danh và thân này tạo tác các&nbsp;việc thiện&nbsp;ác,&nbsp;tùy theo&nbsp;đó mà thọ sanh ở&nbsp;đời sau. Tạo các&nbsp;việc thiện&nbsp;ác&nbsp;trong đời&nbsp;này là gốc vậy.</p>



<p>“Ví như có người&nbsp;đang đêm&nbsp;đốt đuốc cắm trên tường để&nbsp;soi sáng&nbsp;mà ăn cơm. Đuốc cháy rơi tàn, bén lửa ra vách, rồi thiêu cháy cả nhà người ấy, lại lan ra cháy cả thành lớn.&nbsp;Nhân dân&nbsp;trong thành cùng đến hỏi người ấy rằng: Vì sao ông đốt lửa thiêu cháy cả thành này?</p>



<p>“Người ấy đáp: Tôi chỉ đốt lên một cây đuốc nhỏ để chiếu sáng khi ăn cơm. Ngọn lửa lớn thiêu đốt cả thành này không phải lửa của tôi.</p>



<p>“Cứ như vậy, đôi bên tranh cãi&nbsp;với nhau, cùng lôi kéo đến trước vua trình bày&nbsp;mọi việc.”</p>



<p>Đại đức&nbsp;Na-tiên hỏi vua rằng: “Như trong chuyện này, ai đúng ai sai?”</p>



<p>Vua đáp: “Người đốt lửa không đúng.”</p>



<p>Na-tiên hỏi: “Làm sao biết?”</p>



<p>Vua đáp: “Vì chính là&nbsp;do nơi&nbsp;lửa của người ấy sanh ra đám cháy. Người ăn cơm xong không chịu&nbsp;dập tắt&nbsp;lửa, để cho lửa ấy lan ra làm cháy cả thành.”</p>



<p>Na-tiên nói: “Việc sanh ra của&nbsp;con người&nbsp;cũng giống như vậy. Đời này, với danh và thân này tạo tác các&nbsp;việc thiện&nbsp;ác,&nbsp;tùy theo&nbsp;đó mà thọ sanh ở&nbsp;đời sau. Tạo các&nbsp;việc thiện&nbsp;ác&nbsp;trong đời&nbsp;này là gốc vậy.&nbsp;</p>



<p>“Người ta vì&nbsp;si mê&nbsp;không biết, tạo tác các&nbsp;việc thiện&nbsp;ác, nên không thể được&nbsp;thoát khỏi&nbsp;sanh tử.</p>



<p>“Ví như có người mang sính lễ đến đính hôn với một cô gái còn nhỏ tuổi. Sau cô gái ấy lớn lên, lại có người khác mang lễ đến cưới về làm vợ. Người đã đính hôn khi trước liền tìm đến nói rằng: Sao ông cưới vợ của tôi?</p>



<p>“Người kia đáp: Ông trước kia đính hôn với một cô gái còn nhỏ tuổi, còn tôi nay cưới một&nbsp;thiếu nữ&nbsp;đã khôn lớn về làm vợ. Vậy sao nói là tôi cưới vợ của ông?</p>



<p>“Hai người tranh nhau, cùng đưa đến chỗ vua xin phán xét.”</p>



<p>Na-tiên hỏi: “Này&nbsp;đại vương, chuyện là như vậy, ai đúng ai sai?”&nbsp;</p>



<p>Vua đáp: “Người mang sính lễ đính hôn trước là đúng.”</p>



<p>Na-tiên hỏi: “Làm sao&nbsp;đại vương&nbsp;biết là đúng?”</p>



<p>Vua đáp: “Chính là cô gái nhỏ tuổi ngày trước, nay lớn lên cũng chỉ là một người ấy mà thôi. Vậy nên biết kẻ mang sính lễ đến trước là đúng, vì cô gái&nbsp;xem như&nbsp;đã là vợ người ấy.”</p>



<p>Na-tiên nói: “Việc sanh ra của&nbsp;con người&nbsp;cũng giống như vậy. Đời này, với danh và thân này tạo tác các&nbsp;việc thiện&nbsp;ác,&nbsp;tùy theo&nbsp;đó mà thọ sanh ở&nbsp;đời sau. Tạo các&nbsp;việc thiện&nbsp;ác&nbsp;trong đời&nbsp;này là gốc vậy.</p>



<p>“Ví như có người mang bình đến nhà người nuôi bò để mua sữa. Mua sữa rồi đi về, gởi bình sữa lại mà nói với người chủ rằng: Để tôi&nbsp;trở lại&nbsp;lấy sau.</p>



<p>“Đi về rồi, chẳng bao lâu&nbsp;trở lại. Khi ấy sữa đã chuyển thành sữa chua. Người ấy nói với chủ bò rằng: Tôi đem bình sữa tươi gởi cho ông, sao nay ông lại lấy bình sữa chua đưa cho tôi?</p>



<p>“Người bán sữa nói: Ấy chính là sữa của ông, tự nó chuyển thành sữa chua đó thôi.</p>



<p>“Hai người tranh nhau chẳng ai nhường ai, cùng đưa đến chỗ vua nhờ phân xử.”</p>



<p>Na-tiên hỏi vua: “Trong chuyện này,&nbsp;đại vương&nbsp;xử ai đúng, ai sai?”</p>



<p>Vua đáp: “Người bán sữa là đúng.”</p>



<p>Na-tiên hỏi: “Vì sao&nbsp;đại vương&nbsp;biết như vậy?”</p>



<p>Vua đáp: “Người mua sữa rồi để lại, tự nó&nbsp;hóa thành&nbsp;sữa chua. Người bán sữa đâu có lỗi gì?”</p>



<p>Na-tiên nói: “Việc sanh ra của&nbsp;con người&nbsp;cũng giống như vậy. Đời này, với danh và thân này tạo tác các&nbsp;việc thiện&nbsp;ác,&nbsp;tùy theo&nbsp;đó mà thọ sanh ở&nbsp;đời sau. Tạo các&nbsp;việc thiện&nbsp;ác&nbsp;trong đời&nbsp;này là gốc vậy.</p>



<p><strong>3.&nbsp;NGUYÊN NHÂN&nbsp;TÁI SANH</strong></p>



<p>Vua lại hỏi: “Như&nbsp;đại đức&nbsp;có còn phải sanh ra ở&nbsp;đời sau&nbsp;nữa hay chăng?”</p>



<p>Na-tiên đáp: “Đại vương hỏi lại điều&nbsp;bần tăng&nbsp;đã&nbsp;nói trước&nbsp;đây rồi vậy. Như&nbsp;bần tăng&nbsp;còn có&nbsp;ân tình&nbsp;ái luyến,&nbsp;đời sau&nbsp;ắt phải&nbsp;tái sanh. Như dứt sạch được&nbsp;ân tình&nbsp;ái luyến,&nbsp;đời sau&nbsp;không phải&nbsp;tái sanh.</p>



<p>“Ví như có người mang&nbsp;hết sức&nbsp;lực&nbsp;phụng sự&nbsp;cho vua. Vua hiểu việc ấy, nên đem rất nhiều tài vật&nbsp;ban thưởng&nbsp;cho. Người ấy được thưởng hậu, các món&nbsp;ăn uống,&nbsp;y phục&nbsp;đều đầy đủ, sống đời&nbsp;vui vẻ. Gặp khi&nbsp;bàn luận&nbsp;chuyện trò, người ấy nói rằng: Ta vốn có công với vua, vua lại chưa từng&nbsp;ban thưởng&nbsp;cho ta.”</p>



<p>Na-tiên hỏi vua: “Như người kia, đã được&nbsp;ban thưởng, sau lại nói ngược lại rằng chưa từng được thưởng.&nbsp;Lời nói&nbsp;của người ấy có đúng hay chăng?”</p>



<p>Vua đáp: “Lời nói kẻ ấy&nbsp;thật không&nbsp;đúng.”</p>



<p>Na-tiên nói: “Vì vậy,&nbsp;bần tăng&nbsp;nói với&nbsp;đại vương&nbsp;rằng: Như&nbsp;bần tăng&nbsp;còn có&nbsp;ân tình&nbsp;ái luyến,&nbsp;đời sau&nbsp;ắt phải&nbsp;tái sanh. Như dứt sạch được&nbsp;ân tình&nbsp;ái luyến,&nbsp;đời sau&nbsp;không phải&nbsp;tái sanh.”</p>



<p>Vua&nbsp;tán thán&nbsp;rằng: “Hay thay! Hay thay!”</p>



<p><strong>4. DANH VÀ THÂN</strong></p>



<p>Vua lại hỏi: “Vừa rồi&nbsp;đại đức&nbsp;có dạy về danh và thân của&nbsp;con người. Chẳng hay những gì là danh? Những gì là thân?”</p>



<p>Na-tiên đáp: “Những gì&nbsp;đại vương&nbsp;hiện nhìn thấy&nbsp;tồn tại&nbsp;đây là thân, những gì trong tâm nghĩ biết là danh.”</p>



<p>Vua lại hỏi: “Vì sao danh có thể sanh ra ở&nbsp;đời sau&nbsp;mà thân thì lại không?”</p>



<p>Na-tiên đáp: “Thân với danh trước sau đều có tương quan&nbsp;với nhau.&nbsp;Ví như&nbsp;phôi gà trong trứng, phải có lòng trắng và vỏ trứng bao quanh thì sau mới có thể nở thành con gà con. Danh và thân của người ta tương quan&nbsp;với nhau&nbsp;cũng giống như vậy, không thể chia tách ra được.”</p>



<p>Vua&nbsp;tán thán&nbsp;rằng: “Hay thay! Hay thay!”</p>



<p><strong>5. VÒNG TRÒN&nbsp;SANH TỬ</strong></p>



<p>Vua lại hỏi Na-tiên: “Những gì là lâu dài?”</p>



<p>Na-tiên đáp: “Việc&nbsp;quá khứ&nbsp;là lâu, việc tương lai cũng là lâu. Những gì đang nhìn thấy trong&nbsp;hiện tại&nbsp;không lâu.”</p>



<p>Vua nói: “Hay thay!”</p>



<p>Vua lại hỏi: “Thật ra, có thật có sự&nbsp;lâu dài&nbsp;hay chăng?”</p>



<p>Na-tiên đáp: “Sự&nbsp;lâu dài&nbsp;ấy, hoặc có, hoặc không.”</p>



<p>Vua hỏi: “Sao gọi là có? Sao gọi là không?”</p>



<p>Na-tiên đáp: “Những người đã&nbsp;đắc nhập&nbsp;Niết-bàn, không còn có sự&nbsp;lâu dài&nbsp;nữa. Đối với những ai chưa&nbsp;đắc đạo, còn&nbsp;lưu chuyển&nbsp;trong vòng&nbsp;sanh tử, tất nhiên còn có sự&nbsp;lâu dài. Trong sự&nbsp;luân chuyển&nbsp;lâu dài&nbsp;ấy, những ai đời này hay làm việc&nbsp;bố thí,&nbsp;hiếu thuận&nbsp;với&nbsp;cha mẹ,&nbsp;đời sau&nbsp;chắc chắn&nbsp;sẽ được hưởng&nbsp;phước báo.”</p>



<p>Vua khen rằng: “Hay thay! Hay thay!”</p>



<p>Vua lại hỏi: “Như trong các việc&nbsp;quá khứ, tương lai và&nbsp;hiện tại, ba việc ấy lấy gì làm gốc?”</p>



<p>Na-tiên đáp: “Như xét cả ba việc&nbsp;quá khứ, tương lai và&nbsp;hiện tại, sự&nbsp;ngu si&nbsp;chính là gốc rễ.&nbsp;Ngu si&nbsp;sanh ra, tức sanh&nbsp;thần thức.&nbsp;Thần thức&nbsp;sanh tức có sanh ra thân. Thân sanh ra danh, danh sanh ra sắc. Sắc sanh ra sáu sự&nbsp;nhận biết. Sáu sự&nbsp;nhận biết&nbsp;ấy là mắt&nbsp;nhận biết, tai&nbsp;nhận biết, mũi&nbsp;nhận biết, lưỡi&nbsp;nhận biết, thân&nbsp;nhận biết&nbsp;và ý&nbsp;nhận biết. Sáu sự&nbsp;nhận biết&nbsp;này đều hướng ra bên ngoài.&nbsp;</p>



<p>“Thế nào là hướng theo bên ngoài? Mắt hướng theo&nbsp;hình sắc, tai hướng theo&nbsp;âm thanh, mũi hướng theo hương thơm, lưỡi hướng theo&nbsp;mùi vị, thân hướng theo xúc chạm,&nbsp;ý hướng&nbsp;theo&nbsp;tham dục. Đó là sáu sự hướng theo bên ngoài, gọi là&nbsp;sáu nhập. Nhập là hiệp lại, là biết khổ, biết vui. Từ khổ vui mà sanh ra&nbsp;ân ái, lại theo nơi&nbsp;ân ái&nbsp;mà sanh ra&nbsp;tham dục, từ&nbsp;tham dục&nbsp;sanh ra&nbsp;chấp hữu, liền làm nhân sanh ra sự già yếu. Già yếu là nhân sanh ra&nbsp;bệnh khổ.&nbsp;Bệnh khổ&nbsp;là nhân sanh ra sự chết. Do sự chết sanh ra buồn đau&nbsp;sầu khổ&nbsp;trong tâm.</p>



<p>“Vậy nên sự hiệp lại ấy đều là&nbsp;khổ não, do hiệp lại mà giả tạm gọi là người. Người do đây mà&nbsp;luân chuyển&nbsp;mãi trong&nbsp;sanh tử, không có lúc dừng. Muốn tìm lại cái thân trước đây thật là không thể được.</p>



<p>“Ví như người trồng lúa, gieo hạt xuống, sanh lên thành cây, ra lá, đơm bông, ngậm hạt,&nbsp;cho đến&nbsp;khi có lúa gặt về. Năm sau lại gieo trồng nữa, lại được nhiều lúa nữa.”</p>



<p>Na-tiên hỏi: “Như người trồng lúa ấy, năm nào cũng gieo trồng, vậy có khi nào dứt đoạn không có lúa chăng?”</p>



<p>Vua đáp: “Nếu như năm nào cũng gieo trồng, tất không có khi nào dứt đoạn không có lúa.”</p>



<p>Na-tiên nói: “Con người cũng vậy.&nbsp;Luân chuyển&nbsp;nối tiếp mà sanh ra, không có lúc nào&nbsp;gián đoạn.</p>



<p>“Ví như con gà sanh ra cái trứng, cái trứng nở ra con gà&#8230; nối tiếp mà sanh mãi. Việc&nbsp;sanh tử&nbsp;của&nbsp;con người&nbsp;cũng vậy, nên không có khi nào&nbsp;gián đoạn.”</p>



<p>Đại đức&nbsp;Na-tiên nhân đó cúi xuống vẽ một bánh xe tròn trên mặt đất, hỏi vua rằng: “Này&nbsp;đại vương, như trong cái bánh xe này, có chỗ nào là góc cạnh chăng?”</p>



<p>Vua đáp: “Là hình tròn, nên không có góc cạnh.”</p>



<p>Na-tiên nói: “Kinh Phật dạy rằng, việc&nbsp;sanh tử&nbsp;của người ta cũng như cái bánh xe tròn này,&nbsp;liên tục&nbsp;xoay vòng, không có lúc nào&nbsp;chấm dứt.</p>



<p>“Người ta&nbsp;do nơi&nbsp;mắt, thấy được cảnh sắc&nbsp;vạn vật, nhân đó&nbsp;nhận biết. Như vậy là ba việc cùng hiệp lại. Do sự hiệp lại ấy sanh ra sự khổ hoặc vui. Do khổ vui mà sanh&nbsp;ân ái, do&nbsp;ân ái&nbsp;sanh ra&nbsp;tham dục. Do&nbsp;tham dục&nbsp;sanh ra&nbsp;nguyên nhân&nbsp;của&nbsp;chấp hữu.&nbsp;Do nơi&nbsp;chấp hữu&nbsp;mà có sanh mạng. Do sanh mạng mà tạo tác các&nbsp;việc thiện&nbsp;ác. Do tạo tác các&nbsp;việc thiện&nbsp;ác nên phải chịu&nbsp;tái sanh.</p>



<p>“Do nơi tai,&nbsp;nghe được&nbsp;âm thanh, nhân đó&nbsp;nhận biết. Như vậy là ba việc cùng hiệp lại. Do sự hiệp lại ấy sanh ra sự khổ hoặc vui. Do khổ vui mà sanh&nbsp;ân ái, do&nbsp;ân ái&nbsp;sanh ra&nbsp;tham dục. Do&nbsp;tham dục&nbsp;sanh ra&nbsp;nguyên nhân&nbsp;của&nbsp;chấp hữu.&nbsp;Do nơi&nbsp;chấp hữu&nbsp;mà có sanh mạng. Do sanh mạng mà tạo tác các&nbsp;việc thiện&nbsp;ác. Do tạo tác các&nbsp;việc thiện&nbsp;ác nên phải chịu&nbsp;tái sanh.</p>



<p>“Do nơi mũi, ngửi được mùi hương, nhân đó&nbsp;nhận biết. Như vậy là ba việc cùng hiệp lại. Do sự hiệp lại ấy sanh ra sự khổ hoặc vui. Do khổ vui mà sanh&nbsp;ân ái, do&nbsp;ân ái&nbsp;sanh ra&nbsp;tham dục. Do&nbsp;tham dục&nbsp;sanh ra&nbsp;nguyên nhân&nbsp;của&nbsp;chấp hữu. Do nhân nơi&nbsp;chấp hữu&nbsp;mà có sanh mạng. Do sanh mạng mà tạo tác các&nbsp;việc thiện&nbsp;ác. Do tạo tác các&nbsp;việc thiện&nbsp;ác nên phải chịu&nbsp;tái sanh.</p>



<p>“Do nơi lưỡi, nếm được&nbsp;mùi vị, nhân đó&nbsp;nhận biết. Như vậy là ba việc cùng hiệp lại. Do sự hiệp lại ấy sanh ra sự khổ hoặc vui. Do khổ vui mà sanh&nbsp;ân ái, do&nbsp;ân ái&nbsp;sanh ra&nbsp;tham dục. Do&nbsp;tham dục&nbsp;sanh ra&nbsp;nguyên nhân&nbsp;của&nbsp;chấp hữu.&nbsp;Do nơi&nbsp;chấp hữu&nbsp;mà có sanh mạng. Do sanh mạng mà tạo tác các&nbsp;việc thiện&nbsp;ác. Do tạo tác các&nbsp;việc thiện&nbsp;ác nên phải chịu&nbsp;tái sanh.</p>



<p>“Do nơi thân, xúc chạm các thứ mềm mại hoặc thô nhám, nhân đó&nbsp;nhận biết. Như vậy là ba việc cùng hiệp lại. Do sự hiệp lại ấy sanh ra sự khổ hoặc vui. Do khổ vui mà sanh&nbsp;ân ái, do&nbsp;ân ái&nbsp;sanh ra&nbsp;tham dục. Do&nbsp;tham dục&nbsp;sanh ra&nbsp;nguyên nhân&nbsp;của&nbsp;chấp hữu.&nbsp;Do nơi&nbsp;chấp hữu&nbsp;mà có sanh mạng. Do sanh mạng mà tạo tác các&nbsp;việc thiện&nbsp;ác. Do tạo tác các&nbsp;việc thiện&nbsp;ác nên phải chịu&nbsp;tái sanh.</p>



<p>“Do nơi ý,&nbsp;suy nghĩ&nbsp;các việc, nhân đó&nbsp;nhận biết. Như vậy là ba việc cùng hiệp lại. Do sự hiệp lại ấy sanh ra sự khổ hoặc vui. Do khổ vui mà sanh&nbsp;ân ái, do&nbsp;ân ái&nbsp;sanh ra&nbsp;tham dục. Do&nbsp;tham dục&nbsp;sanh ra&nbsp;nguyên nhân&nbsp;của&nbsp;chấp hữu.&nbsp;Do nơi&nbsp;chấp hữu&nbsp;mà có sanh mạng. Do sanh mạng mà tạo tác các&nbsp;việc thiện&nbsp;ác. Do tạo tác các&nbsp;việc thiện&nbsp;ác nên phải chịu&nbsp;tái sanh.</p>



<p>“Người ta cứ như vậy, nối tiếp&nbsp;tương tục&nbsp;mà sanh ra, không có lúc dừng lại.”</p>



<p>Vua&nbsp;tán thán&nbsp;rằng: “Hay thay!”</p>



<p><strong>6. CỘI NGUỒN&nbsp;SANH TỬ</strong></p>



<p>Vua lại hỏi Na-tiên: “Đại đức có dạy rằng việc&nbsp;sanh tử&nbsp;của&nbsp;con người&nbsp;không thể tìm đến chỗ khởi điểm. Không thể tìm được, là ý thế nào?”</p>



<p>Na-tiên đáp: “Như có chỗ khởi điểm, tất không còn phải sanh ra&nbsp;trở lại&nbsp;nữa. Lại như có chỗ khởi điểm, tất phải nằm trong&nbsp;quá khứ&nbsp;rồi.”</p>



<p>Vua nói: “Trẫm cho rằng không có chỗ khởi điểm, tất không sanh ra&nbsp;trở lại. Như thấy có chỗ khởi điểm, tất ở trong&nbsp;quá khứ. Như vậy, chỗ khởi điểm ấy là không dứt chăng?”</p>



<p>Na-tiên đáp: “Đúng vậy, tất cả đều là&nbsp;quá khứ.”</p>



<p>Vua lại hỏi Na-tiên: “Người ta trong chỗ&nbsp;sanh tử, có thể nhờ nơi những gì ở bên ngoài mà được tăng thêm&nbsp;ích lợi&nbsp;chăng?”</p>



<p>Na-tiên hỏi lại vua: “Người và hết thảy các&nbsp;động vật&nbsp;lớn nhỏ trong&nbsp;thế gian, có thể nhờ nơi những gì ở bên ngoài mà được tăng thêm&nbsp;ích lợi&nbsp;chăng?”</p>



<p>Vua nói: “Trẫm không hỏi ngài về người và hết thảy các&nbsp;động vật&nbsp;lớn nhỏ trong&nbsp;thế gian. Trẫm chỉ muốn hỏi ngài về chỗ&nbsp;căn bản&nbsp;sanh tử&nbsp;của&nbsp;con người&nbsp;mà thôi.”</p>



<p>Na-tiên nói: “Cây cối sanh ra, do cây non làm&nbsp;căn bản.&nbsp;Các loại&nbsp;ngũ cốc&nbsp;sanh ra, do&nbsp;hạt giống&nbsp;làm&nbsp;căn bản. Trong trời đất&nbsp;vạn vật&nbsp;lớn nhỏ đều&nbsp;tùy theo&nbsp;chủng loại mà có&nbsp;căn bản&nbsp;sanh ra. Đối với&nbsp;con người&nbsp;thì có sáu mối tình&nbsp;ân ái&nbsp;làm&nbsp;căn bản.</p>



<p>“Người có mắt, có thấy&nbsp;hình sắc, có&nbsp;nhận biết; có tai, có nghe&nbsp;âm thanh, có&nbsp;nhận biết; có mũi, có ngửi hương, có&nbsp;nhận biết; có lưỡi, có nếm vị, có&nbsp;nhận biết; có thân, có xúc chạm, có&nbsp;nhận biết; có ý, có các pháp, có&nbsp;nhận biết.&nbsp;Do nơi&nbsp;mười&nbsp;tám pháp&nbsp;ấy mà sanh ra sự khổ, vui. Do khổ, vui sanh ra&nbsp;ân ái. Do&nbsp;ân ái&nbsp;mà sanh&nbsp;tham dục. Do&nbsp;tham dục&nbsp;mà sanh xúc hiệp.</p>



<p>“Các mối khổ ấy ấy hợp thành&nbsp;con người. Mắt, tai, mũi, lưỡi, thân và ý khiến cho có sự&nbsp;chấp hữu&nbsp;nơi&nbsp;sáu trần, cùng với sự xúc hiệp mà thành&nbsp;sáu nhập. Do&nbsp;sáu nhập&nbsp;ấy mà thành biết khổ, biết vui. Từ khổ vui mà sanh ra&nbsp;ân ái, lại theo nơi&nbsp;ân ái&nbsp;mà sanh ra&nbsp;tham dục, từ&nbsp;tham dục&nbsp;sanh ra&nbsp;chấp hữu, liền làm nhân sanh ra sự già yếu. Già yếu là nhân sanh ra&nbsp;bệnh khổ.&nbsp;Bệnh khổ&nbsp;là nhân sanh ra sự chết. Do sự chết sanh ra buồn đau&nbsp;sầu khổ&nbsp;trong tâm. Sự sống&nbsp;con người&nbsp;là như vậy.</p>



<p>“Như không có mắt tức không thấy cảnh sắc, không&nbsp;nhận biết. Không&nbsp;nhận biết&nbsp;nên không có xúc hiệp. Không xúc hiệp thì không có khổ, vui. Không có khổ vui nên không sanh&nbsp;ân ái. Không&nbsp;ân ái&nbsp;thì không có&nbsp;tham dục. Không&nbsp;tham dục&nbsp;thì không có sự&nbsp;chấp hữu.&nbsp;Không chấp&nbsp;hữu thì không có già, bệnh, chết, cũng không có buồn đau&nbsp;sầu khổ&nbsp;trong tâm, liền thoát hết các sự&nbsp;khổ não&nbsp;mà&nbsp;đắc nhập&nbsp;cảnh giới&nbsp;Niết-bàn.</p>



<p>“Như không có tai tức không nghe&nbsp;âm thanh, không có mũi tức không ngửi mùi hương, không có lưỡi tức không nếm được vị, không có thân tức không có sự xúc chạm, không có ý tức không sanh các&nbsp;ý nghĩ, không có sự xúc nhập. Không có xúc nhập thì không có khổ, vui. Không có khổ vui nên không sanh&nbsp;ân ái. Không&nbsp;ân ái&nbsp;thì không có&nbsp;tham dục. Không&nbsp;tham dục&nbsp;thì không có&nbsp;bào thai. Không có&nbsp;bào thai&nbsp;thì không có chỗ sanh ra, không có già, bệnh, chết, cũng không có buồn đau&nbsp;sầu khổ&nbsp;trong tâm. Dứt hết được các sự&nbsp;khổ não, liền&nbsp;đắc nhập&nbsp;cảnh giới&nbsp;Niết-bàn.”</p>



<p>Vua&nbsp;tán thán&nbsp;rằng: “Hay thay!”</p>



<p><strong>7.&nbsp;NHÂN DUYÊN SANH</strong></p>



<p>Vua lại hỏi&nbsp;đại đức&nbsp;Na-tiên rằng: “Trong&nbsp;thế gian, có vật gì&nbsp;tự nhiên&nbsp;mà sanh ra chăng?”</p>



<p>Na-tiên đáp: “Không có vật gì&nbsp;tự nhiên&nbsp;sanh ra cả. Thảy đều phải có&nbsp;nguyên nhân.”</p>



<p>Liền đó, Na-tiên hỏi vua: “Như cung điện mà vua đang ngự đây, có phải do sức người làm ra chăng? Hay&nbsp;tự nhiên&nbsp;sanh ra?”&nbsp;</p>



<p>Vua đáp: “Ấy là do nhân công làm ra, cây cối lấy từ trong rừng, gạch xây tường lấy đất làm ra.”</p>



<p>Na-tiên nói: “Con người cũng như vậy. Do&nbsp;mười tám giới&nbsp;hòa hiệp lại mà thành&nbsp;con người. Vậy nên nói là không có vật gì&nbsp;tự nhiên&nbsp;sanh ra, thảy đều phải có&nbsp;nguyên nhân.&nbsp;Ví như&nbsp;người thợ đồ gốm làm ra các món đồ, phải lấy bùn đất hòa với nước, nhồi nặn, nung ra mà thành. Bùn đất kia không thể&nbsp;tự nhiên&nbsp;mà thành đồ vật, phải hội đủ công sức của người, lại có lửa nung chín mới thành món đồ. Vậy nên nói là không có vật gì&nbsp;tự nhiên&nbsp;sanh ra, thảy đều phải có&nbsp;nguyên nhân.”</p>



<p>Na-tiên lại hỏi vua: “Như cây đàn kia không có dây, không có phím, không có người gẩy, có thành&nbsp;âm thanh&nbsp;chăng?”</p>



<p>Vua đáp: “Không, không thể&nbsp;tự nhiên&nbsp;mà thành&nbsp;âm thanh&nbsp;được.”</p>



<p>Na-tiên hỏi: “Như đàn có dây, có phím, có người gẩy đàn, có thành&nbsp;âm thanh&nbsp;chăng?”</p>



<p>Vua đáp: “Bạch&nbsp;đại đức, có.”</p>



<p>Na-tiên nói: “Như vậy đó. Cho nên trong&nbsp;thiên hạ&nbsp;không có vật gì&nbsp;tự nhiên&nbsp;sanh ra, hết thảy đều phải có&nbsp;nguyên nhân.”</p>



<p>Na-tiên lại hỏi vua “Như việc xát cây lấy lửa,&nbsp;như không&nbsp;có hai thanh gỗ, không có người xát gỗ, có thể có lửa chăng?”</p>



<p>Vua đáp: “Không thể có lửa được.”</p>



<p>Na-tiên hỏi: “Như có đủ hai thanh gỗ, có người xát vào nhau, có sanh ra lửa chăng?”</p>



<p>Vua đáp: “Tất nhiên, như vậy phải sanh ra lửa.”</p>



<p>Na-tiên nói: “Như vậy đó. Cho nên trong&nbsp;thiên hạ&nbsp;không có vật gì&nbsp;tự nhiên&nbsp;sanh ra, hết thảy đều phải có&nbsp;nguyên nhân.”</p>



<p>Na-tiên lại hỏi: “Như tấm kính lấy lửa, không có người cầm giữ, lại không có&nbsp;mặt trời&nbsp;đốt nóng, có thể có lửa chăng?”</p>



<p>Vua đáp: “Không thể có lửa được.”</p>



<p>Na tiên&nbsp;hỏi: “Như có người cầm giữ tấm kính ấy, lại có&nbsp;mặt trời&nbsp;đốt nóng, có thể có lửa chăng?”</p>



<p>Vua đáp: “Tất nhiên, như vậy phải sanh ra lửa.”</p>



<p>Na-tiên nói: “Như vậy đó. Cho nên trong&nbsp;thiên hạ&nbsp;không có vật gì&nbsp;tự nhiên&nbsp;sanh ra, hết thảy đều phải có&nbsp;nguyên nhân.”</p>



<p>Na-tiên lại hỏi vua: “Như người kia không có gương soi, gặp lúc không có ánh sáng, lại muốn soi mình, có thể tự thấy được mình chăng?”</p>



<p>Vua đáp: “Không thể tự thấy được.”</p>



<p>Na-tiên hỏi: “Như có gương soi, có ánh sáng, có người tự soi mình, có thể nhìn thấy mình chăng?”</p>



<p>Vua đáp: “Tất nhiên, có thể tự nhìn thấy được.”</p>



<p>Na-tiên nói: “Như vậy đó. Cho nên trong&nbsp;thiên hạ&nbsp;không có vật gì&nbsp;tự nhiên&nbsp;sanh ra, hết thảy đều phải có&nbsp;nguyên nhân.”</p>



<p>Vua&nbsp;tán thán&nbsp;rằng: “Hay thay!”</p>



<p><strong>8.&nbsp;BẢN NGÃ</strong></p>



<p>Vua lại hỏi Na-tiên: “Người&nbsp;thế gian&nbsp;có thật có cái&nbsp;bản ngã&nbsp;hay chăng?”</p>



<p>Na-tiên đáp: “Thế gian không thể xác định rõ được có&nbsp;bản ngã&nbsp;hay không. Thật ra, theo&nbsp;đại vương&nbsp;thì cái gì là bản ngã?”</p>



<p>Vua hỏi: “Thân thể này với mạng sống có phải là&nbsp;bản ngã&nbsp;chăng?”</p>



<p>Na-tiên hỏi lại vua: “Thân thể&nbsp;con người&nbsp;với mạng sống có thể dùng mắt để nhìn thấy&nbsp;hình sắc&nbsp;chăng? Có thể dùng tai để nghe&nbsp;âm thanh&nbsp;chăng? Có thể dùng mũi để ngửi mùi hương chăng? Có thể dùng lưỡi để nếm vị chăng? Có thể dùng thân để biết sự xúc chạm chăng? Có thể dùng ý để nghĩ biết chăng?”</p>



<p>Vua đáp: “Có thể.”</p>



<p>Na-tiên hỏi: “Hiện giờ&nbsp;bần tăng&nbsp;và&nbsp;đại vương&nbsp;cùng ở trong điện này, bốn phía đều có cửa sổ. Như người&nbsp;tùy ý&nbsp;muốn nhìn bên ngoài, theo những cửa sổ ấy mà nhìn ra có được không?”</p>



<p>Vua đáp: “Được.”</p>



<p>Na-tiên lại hỏi: “Như nói&nbsp;bản ngã&nbsp;ở trong&nbsp;thân thể&nbsp;này, tất phải&nbsp;tùy ý&nbsp;do nơi&nbsp;các cửa thông ra bên ngoài mà thấy biết, như có thể dùng mắt để nhìn thấy&nbsp;hình sắc. Vậy có thể dùng tai mà nhìn&nbsp;hình sắc&nbsp;được chăng? Có thể dùng mũi mà nhìn&nbsp;hình sắc&nbsp;được chăng? Có thể dùng lưỡi mà nhìn&nbsp;hình sắc&nbsp;được chăng? Có thể dùng thân mà nhìn&nbsp;hình sắc&nbsp;được chăng? Có thể dùng ý mà nhìn&nbsp;hình sắc&nbsp;được chăng?”&nbsp;</p>



<p>Vua đáp: “Không thể được.”</p>



<p>Na-tiên lại nói: “Như nói&nbsp;bản ngã&nbsp;ở nơi tai, nên có thể dùng tai để nghe&nbsp;âm thanh. Vậy có dùng tai để thấy chăng? Có thể dùng tai để ngửi hương được chăng? Có thể dùng tai để nếm vị chăng? Có thể dùng tai để xúc chạm chăng? Có thể dùng tai để&nbsp;suy nghĩ&nbsp;chăng?”</p>



<p>Vua đáp: “Không thể được.”</p>



<p>Na-tiên lại nói: “Như nói&nbsp;bản ngã&nbsp;ở nơi mũi, nên có thể dùng mũi để ngửi hương. Vậy có dùng mũi để nghe&nbsp;âm thanh&nbsp;chăng? Có thể dùng mũi để nếm vị được chăng? Có thể dùng mũi để xúc chạm chăng? Có thể dùng mũi để&nbsp;suy nghĩ&nbsp;chăng?”</p>



<p>Vua đáp: “Không thể được.”</p>



<p>Na-tiên lại nói: “Như nói&nbsp;bản ngã&nbsp;ở nơi lưỡi, nên có thể dùng lưỡi để biết vị. Vậy có dùng lưỡi để nghe&nbsp;âm thanh&nbsp;được chăng? Có thể dùng lưỡi để ngửi hương được chăng? Có thể dùng lưỡi để xúc chạm chăng? Có thể dùng lưỡi để&nbsp;suy nghĩ&nbsp;chăng?”</p>



<p>Vua đáp: “Không thể được.”</p>



<p>Na-tiên lại nói: “Như nói&nbsp;bản ngã&nbsp;ở nơi thân, nên có thể dùng thân để biết xúc chạm mềm mại hoặc thô nhám. Vậy có dùng thân để thấy chăng? Có thể dùng thân để nghe&nbsp;âm thanh&nbsp;chăng? Có thể dùng thân để ngửi hương được chăng? Có thể dùng thân để nếm vị chăng? Có thể dùng thân để&nbsp;suy nghĩ&nbsp;chăng?”</p>



<p>Vua đáp: “Không thể được.”</p>



<p>Na-tiên lại nói: “Như nói&nbsp;bản ngã&nbsp;ở nơi ý, nên có thể dùng ý để&nbsp;suy nghĩ. Vậy có thể dùng ý để nghe&nbsp;âm thanh&nbsp;chăng? Có thể dùng ý để ngửi hương được chăng? Có thể dùng ý để nếm vị được chăng? Có thể dùng ý để xúc chạm chăng?”</p>



<p>Vua đáp: “Đều không thể được.”</p>



<p>Na-tiên nói: “Lời của&nbsp;đại vương&nbsp;như vậy trước sau không hợp nhau vậy.</p>



<p>“Như&nbsp;bần tăng&nbsp;cùng với&nbsp;đại vương&nbsp;ngồi trong điện này, nay phá bỏ hết bốn cửa sổ đi, tầm nhìn có xa rộng hơn không?”</p>



<p>Vua đáp: “Tất nhiên là phải xa rộng hơn.”</p>



<p>Na-tiên nói: “Như nói cái&nbsp;bản ngã&nbsp;ở tại trong thân, nay hủy con mắt đi, tầm nhìn có thể xa rộng hơn chăng? Hủy lỗ tai đi, có thể nghe&nbsp;xa hơn&nbsp;chăng? Hủy lỗ mũi đi, có thể ngửi được&nbsp;xa hơn&nbsp;chăng? Hủy cái lưỡi đi, có thể nếm được nhiều vị hơn chăng? Lột hết da đi,&nbsp;cảm giác&nbsp;xúc chạm của thân có thể nhiều hơn chăng? Hủy tâm ý đi, có thể nhờ đó&nbsp;suy nghĩ&nbsp;rộng hơn chăng?”</p>



<p>Vua đáp: “Bạch&nbsp;đại đức, đều là không thể được.”</p>



<p>Na-tiên nói: “Như vậy đó,&nbsp;lời nói&nbsp;của&nbsp;đại vương&nbsp;trước sau không hợp nhất rồi.”</p>



<p>Na-tiên lại hỏi vua: “Này&nbsp;đại vương, như có người giữ kho đến đứng chầu&nbsp;trước mặt&nbsp;đại vương,&nbsp;đại vương&nbsp;có biết là người ấy đang đứng chầu&nbsp;trước mặt&nbsp;không?”</p>



<p>Vua đáp: “Biết.”</p>



<p>Na-tiên lại hỏi: “Người ấy lại&nbsp;đi vào&nbsp;phòng của&nbsp;đại vương, vậy có biết là người ấy vào phòng chăng?”</p>



<p>Vua đáp: “Biết.”</p>



<p>Na-tiên nói: “Như bảo rằng cái&nbsp;bản ngã&nbsp;vốn ở trong&nbsp;thân thể, vậy người ta để các món ăn vào lưỡi, có thể biết các vị nhạt, mặn, ngọt, chua, cay, đắng&#8230; hay chăng?”</p>



<p>Vua nói: “Đúng vậy, có thể biết.”</p>



<p>Na-tiên nói: “Như vậy đó,&nbsp;lời nói&nbsp;của&nbsp;đại vương&nbsp;trước sau không hợp nhất rồi.</p>



<p>“Như có người lấy rượu ngon đổ vào trong bồn lớn, lại thả một người vào trong bồn ấy, nhưng rượu không lên tới miệng. Người ấy có biết rượu ngon chăng?”</p>



<p>Vua đáp: “Không thể biết.”</p>



<p>Na-tiên hỏi: “Vì sao không biết?”</p>



<p>Vua đáp: “Vì rượu không vào trong miệng, chẳng chạm đến lưỡi nên không thể biết rượu ngon dở.”</p>



<p>Na-tiên nói: “Như vậy đó,&nbsp;lời nói&nbsp;của&nbsp;đại vương&nbsp;trước sau không hợp nhất rồi.”</p>



<p>Vua nói: “Trẫm&nbsp;quả thật&nbsp;ngu si&nbsp;trí cạn, không&nbsp;luận giải&nbsp;nổi việc này. Kính mong&nbsp;đại đức&nbsp;giảng rõ cho.”</p>



<p>Na-tiên nói: “Người ta&nbsp;do nơi&nbsp;mắt mà thấy&nbsp;hình sắc, tâm liền&nbsp;cảm thọ.&nbsp;Cảm thọ&nbsp;tức sanh các điều khổ vui, trong tâm liền duyên theo. Đối với tai, mũi, lưỡi, thân, ý cũng đều như thế, khi&nbsp;tiếp xúc&nbsp;với&nbsp;ngoại trần&nbsp;đều khiến tâm sanh&nbsp;cảm thọ.&nbsp;Cảm thọ&nbsp;tức sanh các điều khổ vui, nhân đó ý sanh niệm tưởng. Niệm tưởng như thế&nbsp;tiếp nối&nbsp;nhau mà sanh ra, tạo thành dòng&nbsp;luân chuyển&nbsp;mãi mãi.&nbsp;Thật không&nbsp;hề có một cái&nbsp;bản ngã&nbsp;thường làm chủ như&nbsp;đại vương&nbsp;nghĩ.”</p>



<p>Vua&nbsp;tán thán&nbsp;rằng: “Hay thay!”</p>



<p><strong>9. CĂN VÀ THỨC</strong></p>



<p>Vua lại hỏi: “Bạch&nbsp;đại đức, như khi người ta sanh ra, có phải con mắt với tâm&nbsp;cùng lúc&nbsp;sanh ra chăng?”</p>



<p>Na-tiên đáp: “Đúng vậy, chúng&nbsp;đồng thời&nbsp;sanh ra.”</p>



<p>Vua lại hỏi: “Con mắt sanh ra ở phía trước? Hay tâm sanh ra ở phía trước?”</p>



<p>Na-tiên đáp: “Con mắt sanh ở phía trước, tâm sanh ở phía sau.”</p>



<p>Vua hỏi: “Vậy con mắt có nói với tâm rằng: Theo chỗ tôi sanh ra, anh hãy tùy đó mà sanh phía sau. Hoặc là tâm có nói với con mắt như vậy chăng?</p>



<p>“Hoặc tâm có nói với con mắt rằng: Theo chỗ anh sanh ra, tôi sẽ tùy đó mà sanh phía sau. Hoặc là con mắt có nói với tâm như vậy chăng?”</p>



<p>Na-tiên đáp: “Hai bên chẳng hề&nbsp;trao đổi&nbsp;với nhau&nbsp;như thế.”</p>



<p>Vua hỏi: “Chẳng phải&nbsp;đại đức&nbsp;đã nói là chúng&nbsp;đồng thời&nbsp;sanh ra đó sao? Vậy vì sao lại không có&nbsp;trao đổi&nbsp;trước như thế với nhau?”</p>



<p>Na-tiên đáp: “Có bốn&nbsp;trường hợp&nbsp;cùng làm theo nhau mà không cần&nbsp;trao đổi, giao hẹn trước. Những gì là bốn? Một là&nbsp;thuận theo&nbsp;chiều&nbsp;đi xuống, hai là&nbsp;thuận theo&nbsp;một cửa&nbsp;duy nhất, ba là&nbsp;thuận theo&nbsp;dấu vết đã có trước, bốn là&nbsp;thuận theo&nbsp;kinh nghiệm&nbsp;đã&nbsp;trải qua&nbsp;nhiều lần. Bốn&nbsp;trường hợp&nbsp;như&nbsp;vậy thì&nbsp;có thể cùng làm đúng theo nhau mà không&nbsp;cần phải&nbsp;giao hẹn trước.”&nbsp;</p>



<p>Vua hỏi: “Thế nào là&nbsp;thuận theo&nbsp;chiều đi xuống?”</p>



<p>Na-tiên hỏi vua: “Như trời mưa trên núi cao, nước chảy thế nào?”</p>



<p>Vua đáp: “Nước sẽ chảy theo chiều từ trên cao xuống thấp.”</p>



<p>Na-tiên lại hỏi: “Như có mưa lần sau nữa, nước chảy thế nào?”</p>



<p>Vua đáp: “Vì theo chiều từ cao xuống thấp, nên cũng theo đúng những đường chảy trước kia.”</p>



<p>Na-tiên hỏi vua: “Vậy nước chảy trước có nói với nước chảy sau rằng: Anh nên theo đường tôi đã chảy. Hoặc nước chảy sau có nói với nước chảy trước rằng: Tôi sẽ chảy theo đường anh đã chảy. Hai bên có&nbsp;trao đổi, giao hẹn trước&nbsp;với nhau&nbsp;như thế chăng?”</p>



<p>Vua đáp: “Nước chảy trước, chảy sau đều&nbsp;tự nhiên&nbsp;mà chảy, không có&nbsp;trao đổi&nbsp;với nhau&nbsp;như thế.”</p>



<p>Na-tiên nói: “Con mắt cũng vậy, chẳng hề&nbsp;nói trước&nbsp;với tâm rằng: ‘Anh nên tùy chỗ tôi sanh mà sanh ở phía sau.’ Tâm cũng không nói với con mắt rằng: ‘Tôi sẽ tùy chỗ anh sanh ra mà sanh ở phía sau. Mắt và&nbsp;tâm không&nbsp;giao hẹn trước&nbsp;với nhau,&nbsp;tự nhiên&nbsp;mà sanh ở nơi&nbsp;thích hợp, gọi là&nbsp;thuận theo&nbsp;chiều&nbsp;đi xuống. Tai, mũi, lưỡi, thân, ý cũng đều giống như vậy.”</p>



<p>Vua lại hỏi: “Còn thế nào gọi là&nbsp;thuận theo&nbsp;một cửa duy nhất?”&nbsp;</p>



<p>Na-tiên hỏi vua: “Như trong thành lớn chỉ có một cửa ra. Trong thành có một người muốn ra, sẽ&nbsp;đi theo&nbsp;hướng nào?”</p>



<p>Vua đáp: “Tất nhiên hướng về phía cửa ấy mà ra.”</p>



<p>Na-tiên hỏi: “Sau lại cũng có người muốn ra nữa, sẽ&nbsp;đi theo&nbsp;hướng nào?”</p>



<p>Vua đáp: “Tất nhiên lại theo đường ra cửa như người trước.”</p>



<p>Na-tiên hỏi vua: “Người ra trước có nói với người ra sau: ‘Anh nên theo đường tôi đã ra mà đi.’ Hoặc người ra sau có nói với người ra trước: ‘Tôi sẽ theo đường anh đã ra mà đi.’ Hai người có&nbsp;trao đổi, giao hẹn trước&nbsp;với nhau&nbsp;như vậy chăng?”</p>



<p>Vua đáp: “Người trước, người sau,&nbsp;thật không&nbsp;có&nbsp;trao đổi, giao hẹn&nbsp;với nhau&nbsp;gì cả.”</p>



<p>Na-tiên nói: “Con mắt cũng vậy, chẳng hề&nbsp;nói trước&nbsp;với tâm rằng: ‘Anh nên tùy chỗ tôi sanh mà sanh ở phía sau.’ Tâm cũng không nói với con mắt rằng: ‘Tôi sẽ tùy chỗ anh sanh ra mà sanh ở phía sau.’ Mắt và&nbsp;tâm không&nbsp;giao hẹn trước&nbsp;với nhau,&nbsp;tự nhiên&nbsp;mà sanh ở nơi&nbsp;thích hợp, gọi là&nbsp;thuận theo&nbsp;một cửa&nbsp;duy nhất. Tai, mũi, lưỡi, thân, ý cũng đều giống như vậy.”</p>



<p>Vua lại hỏi: “Còn thế nào là&nbsp;thuận theo&nbsp;dấu vết đã có trước?”</p>



<p>Na-tiên hỏi vua: “Như xe&nbsp;đi trước&nbsp;để lại dấu vết, xe đi sau sẽ đi thế nào?”</p>



<p>Vua đáp: “Theo vết xe trước mà đi.”</p>



<p>Na-tiên hỏi: “Vậy xe trước có nói với xe sau rằng: ‘Anh nên theo đường tôi đã&nbsp;đi trước.’ Hoặc xe sau có nói với xe trước: ‘Tôi sẽ theo đường anh đã đi.’ Hai bên có&nbsp;trao đổi, giao hẹn trước&nbsp;với nhau&nbsp;như vậy chăng?”</p>



<p>Vua đáp: “Đều không có nói&nbsp;với nhau&nbsp;như thế.”</p>



<p>Na-tiên nói: “Con người cũng như vậy. Con mắt chẳng hề&nbsp;nói trước&nbsp;với tâm rằng: ‘Anh nên tùy chỗ tôi sanh mà sanh ở phía sau.’ Tâm cũng không nói với con mắt rằng: ‘Tôi sẽ tùy chỗ anh sanh ra mà sanh ở phía sau.’ Mắt và&nbsp;tâm không&nbsp;giao hẹn trước&nbsp;với nhau,&nbsp;tự nhiên&nbsp;mà sanh ở nơi&nbsp;thích hợp, gọi là&nbsp;thuận theo&nbsp;một cửa&nbsp;duy nhất. Tai, mũi, lưỡi, thân, ý cũng đều giống như vậy.”</p>



<p>Vua lại hỏi Na-tiên: “Còn thế nào là&nbsp;thuận theo&nbsp;kinh nghiệm&nbsp;đã&nbsp;trải qua&nbsp;nhiều lần?”</p>



<p>Na-tiên đáp: “Kinh nghiệm đã&nbsp;trải qua, đó là sự bắt chước theo&nbsp;việc đã làm&nbsp;trước đây.&nbsp;Như học&nbsp;hỏi, viết lách đều là nhờ&nbsp;kinh nghiệm&nbsp;đã qua.</p>



<p>“Mắt, tai, mũi, lưỡi, thân, ý cũng vậy, là do&nbsp;huân tập&nbsp;dần dần&nbsp;từ&nbsp;lâu đời&nbsp;nên nay mới như vậy.</p>



<p>“Sáu thức đều góp phần vào sự&nbsp;nhận biết&nbsp;của&nbsp;con người, không phải&nbsp;do nơi&nbsp;một trong sáu thức ấy mà thành&nbsp;nhận biết&nbsp;được.”</p>



<p>Vua&nbsp;tán thán: “Hay thay!”</p>



<p><strong>10. XÚC NHẬP</strong></p>



<p>Vua lại hỏi: “Khi người ta sanh, con mắt với sự vui khổ có&nbsp;đồng thời&nbsp;sanh ra chăng?”</p>



<p>Na-tiên đáp: “Con mắt với sự vui khổ cùng sanh ra. Các căn đều là theo nơi chỗ hiệp lại mà sanh.”</p>



<p>Vua hỏi: “Thế nào là chỗ hiệp lại?”</p>



<p>Na-tiên đáp: “Hai bên cùng xúc chạm nhau gọi là hiệp,&nbsp;ví như&nbsp;hai con dê húc lẫn nhau. Một con dụ cho mắt, một con dụ cho&nbsp;hình sắc, hai bên hiệp nhau mà thành chỗ nhập. Cũng&nbsp;ví như&nbsp;một bàn tay là mắt, bàn tay kia là&nbsp;hình sắc, hai bàn tay hiệp lại thành chỗ nhập.</p>



<p>“Lại&nbsp;ví như&nbsp;hai viên đá, một là mắt, một là&nbsp;hình sắc, hai viên đá hiệp lại thành chỗ nhập.&nbsp;</p>



<p>“Mắt, tai, mũi, lưỡi, thân, ý đều là căn, theo nơi các trần là&nbsp;hình sắc,&nbsp;âm thanh, hương thơm,&nbsp;mùi vị, xúc chạm,&nbsp;pháp trần&nbsp;mà hiệp lại thành&nbsp;sáu chỗ&nbsp;nhập.&nbsp;Cho đến&nbsp;như ý&nbsp;và&nbsp;tư tưởng&nbsp;cũng vậy.&nbsp;Ví như&nbsp;hai viên đá, một viên là ý, một viên là&nbsp;tư tưởng, hai viên hiệp lại thành chỗ nhập. Ý và&nbsp;tư tưởng&nbsp;hiệp lại như&nbsp;vậy mà&nbsp;thành chỗ nhập.”</p>



<p>Vua&nbsp;tán thán&nbsp;rằng: “Hay thay!”</p>



<p><strong>11.&nbsp;LẠC THỌ</strong></p>



<p>Vua lại hỏi: “Còn như về sự vui thì hiểu thế nào?”</p>



<p>Na-tiên đáp: “Tự mình&nbsp;nhận biết,&nbsp;hiểu rõ, đó là vui.&nbsp;Ví như&nbsp;có người&nbsp;phụng sự&nbsp;nhà vua. Người ấy&nbsp;hiền đức, vua liền khen thưởng các món tài vật. Người ấy được thưởng rồi, dùng các món ấy tự lấy làm khoái chí,&nbsp;vui vẻ. Trong khi&nbsp;vui vẻ&nbsp;như vậy, người ấy tự nghĩ: ‘Ta&nbsp;phụng sự&nbsp;nhà vua, được&nbsp;ban thưởng&nbsp;nên nay mới&nbsp;vui vẻ&nbsp;như thế này.’</p>



<p>“Hoặc như người tâm nghĩ điều lành, thân làm điều lành, miệng nói lời lành. Nhờ vậy&nbsp;sau khi chết&nbsp;được sanh lên&nbsp;cõi trời. Người ấy sanh nơi&nbsp;cõi trời&nbsp;được hưởng đủ các điều khoái lạc, trong lòng&nbsp;hết sức&nbsp;khoan khoái&nbsp;vui vẻ, tự nghĩ rằng: ‘Ta lúc còn ở chốn&nbsp;thế gian, tâm nghĩ điều lành, thân làm điều lành, miệng nói lời lành. Nhờ vậy nay được sanh nơi đây, được sự&nbsp;vui vẻ&nbsp;cực kỳ vậy.’ Như vậy gọi là&nbsp;nhận biết.”</p>



<p>Vua&nbsp;tán thán&nbsp;rằng: “Hay thay!”</p>



<p><strong>12.&nbsp;HIỂU RÕ&nbsp;VÀ&nbsp;NHẬN BIẾT&nbsp;</strong></p>



<p>Vua lại hỏi: “Thế nào gọi là người nhận biết?”</p>



<p>Na-tiên đáp: “Do&nbsp;hiểu rõ&nbsp;mà có thể&nbsp;nhận biết.&nbsp;Ví như&nbsp;đại vương&nbsp;có người giữ kho, vào trong kho chứa liền tự&nbsp;xem xét&nbsp;khắp các nơi trong ấy, rồi&nbsp;hiểu rõ&nbsp;có bao nhiêu các món tiền bạc, vàng ngọc,&nbsp;châu báu, vải vóc&#8230;&nbsp;cho đến&nbsp;màu sắc thế nào, nằm ở những&nbsp;vị trí&nbsp;nào. Như vậy gọi là&nbsp;hiểu rõ,&nbsp;nhận biết.”</p>



<p>Vua nói: “Hay thay!”</p>



<p><strong>13.&nbsp;TƯ TƯỞNG</strong></p>



<p>Vua lại hỏi: “Bạch&nbsp;đại đức, còn như chỗ&nbsp;suy nghĩ&nbsp;của người ta thì thế nào?”</p>



<p>Na-tiên đáp: “Chỗ&nbsp;suy nghĩ&nbsp;của người ta, đó là chỗ dẫn đến&nbsp;việc làm.&nbsp;</p>



<p>“Ví như người pha thuốc độc để uống, lại còn khiến cho người khác uống theo. Thân đã chịu khổ, còn gây khổ cho người khác nữa.</p>



<p>“Cũng giống như kẻ làm ác,&nbsp;sau khi chết&nbsp;phải đọa vào&nbsp;địa ngục. Những người học theo&nbsp;tư tưởng&nbsp;của kẻ ấy, cũng đều phải đọa&nbsp;địa ngục. Người&nbsp;độc ác&nbsp;có chỗ&nbsp;suy nghĩ&nbsp;ác, dẫn đến&nbsp;việc làm&nbsp;ác là như vậy.”</p>



<p>Vua nói: “Hay thay!”</p>



<p><strong>14. SỰ&nbsp;RUNG ĐỘNG&nbsp;TRONG LÒNG</strong></p>



<p>Vua lại hỏi: “Còn thế nào là sự&nbsp;rung động&nbsp;trong lòng?”</p>



<p>Na-tiên đáp: “Trong tâm khởi&nbsp;ý nghĩ&nbsp;liền có sự&nbsp;rung động&nbsp;trong lòng.”</p>



<p>Vua hỏi: “Rung động trong lòng và hành động quan hệ thế nào?”</p>



<p>Na-tiên đáp: “Ví như cái nồi đồng, có người đến đốt lửa nấu, nước sôi sủi bọt kêu thành tiếng. Khi ngưng nấu rồi mà tiếng kêu vẫn còn một lúc nữa. Chỗ hành động là như vậy, do sự&nbsp;rung động&nbsp;trong lòng trước đó mà có.</p>



<p>“Khi đốt lửa nấu sôi, ấy là lúc&nbsp;rung động. Khi không nấu mà còn tiếng kêu một lúc sau, ấy là lúc hành động.”</p>



<p>Vua&nbsp;tán thán&nbsp;rằng: “Hay thay!”</p>



<p><strong>15.&nbsp;PHÂN BIỆT</strong></p>



<p>Vua hỏi Na-tiên: “Có thể nào&nbsp;phân biệt&nbsp;được những gì đã&nbsp;hợp lại&nbsp;trong&nbsp;tâm thức&nbsp;hay chăng? Chẳng hạn như chỉ rõ ra được đâu là chỗ nhập? Đâu là chỗ hiểu biết? Đâu là chỗ suy nghĩ? Đâu là ý? Đâu là sự rung động?”</p>



<p>Na-tiên đáp: “Nếu như đã&nbsp;hợp lại, không thể&nbsp;phân biệt&nbsp;ra được nữa.</p>



<p>“Ví như người đầu bếp nấu món&nbsp;ăn ngon, trong ấy có nước, có thịt, có gia vị hành, tỏi, gừng, dưa muối, bột gạo&#8230;&nbsp;Đại vương&nbsp;bảo người đầu bếp ấy rằng: Ngươi nấu món ăn này như thế nào, hãy mang từng món đến đây cho trẫm, trước hãy mang nước đến&#8230;, sau nữa là hành, sau nữa là gừng, sau nữa là dưa muối, sau nữa là bột gạo&#8230;&nbsp;</p>



<p>“Món ăn đã nấu rồi, người ấy có thể mang riêng từng vị trong ấy đến cho&nbsp;đại vương&nbsp;như vậy được chăng?”</p>



<p>Vua đáp: “Món ăn đã nấu thành rồi, không thể&nbsp;phân biệt&nbsp;các vị trong ấy ra được nữa.”</p>



<p>Na-tiên nói: “Những việc ta đang bàn đây cũng lại như vậy. Một khi đã&nbsp;hợp lại&nbsp;thì không còn có thể&nbsp;phân biệt&nbsp;ra được nữa. Không thể chỉ ra đây là sự khổ vui, đây là sự&nbsp;hiểu biết, đây là sự&nbsp;rung động, đây là sự&nbsp;suy nghĩ&#8230;”</p>



<p>Vua&nbsp;tán thán&nbsp;rằng: “Hay thay! Hay thay!”</p>



<p>Vua lại hỏi Na-tiên: “Người ta lấy mắt nhìn có thể&nbsp;phân biệt&nbsp;được vị mặn của muối chăng?”</p>



<p>Na-tiên hỏi lại: “Chỗ biết của&nbsp;đại vương&nbsp;có như vậy chăng? Có thể lấy mắt nhìn được vị mặn của muối chăng?”</p>



<p>Vua đáp: “Mắt không nhìn được vị mặn.”</p>



<p>Na-tiên nói: “Người ta chỉ có thể dùng lưỡi mà biết vị mặn của muối, không thể dùng mắt mà biết được.”</p>



<p>Vua lại hỏi: “Có phải&nbsp;mọi người&nbsp;đều dùng lưỡi để biết các&nbsp;mùi vị&nbsp;chăng?”</p>



<p>Na-tiên đáp: “Đúng vậy,&nbsp;mọi người&nbsp;ai cũng dùng lưỡi để&nbsp;phân biệt&nbsp;mùi vị.”</p>



<p>Vua lại hỏi: “Như xe chở muối, trâu kéo muối, xe với trâu có&nbsp;phân biệt&nbsp;được vị của muối chăng?”</p>



<p>Na-tiên đáp: “Xe với trâu không thể&nbsp;phân biệt&nbsp;biết được vị của muối.”</p>



<p>Vua hỏi: “Như vị mặn của muối có thể cân lường được chăng?”</p>



<p>Na-tiên đáp: “Chỉ lấy trí&nbsp;hiểu biết&nbsp;của&nbsp;đại vương&nbsp;mới có thể&nbsp;ước lượng&nbsp;được vị mặn của muối. Vị mặn của muối không thể cân lường được. Chỉ sự nặng nhẹ mới có thể cân lường được thôi.”</p>



<p>Vua nói: “Hay thay!”</p>



<p><strong>16. CĂN VÀ TRẦN</strong></p>



<p>Vua lại hỏi: “Bạch&nbsp;đại đức, trong thân người có năm sự&nbsp;nhận biết,&nbsp;do nơi&nbsp;nhiều việc mà biết, hay chỉ&nbsp;do nơi&nbsp;một việc mà biết?”</p>



<p>Na-tiên đáp: “Do nhiều việc mà biết, không phải chỉ do một việc mà biết.&nbsp;Ví như&nbsp;trên một chỗ đất,&nbsp;các loại&nbsp;ngũ cốc&nbsp;mọc lên, mỗi thứ đều&nbsp;tùy theo&nbsp;giống loại của mình.&nbsp;</p>



<p>“Năm sự&nbsp;rung động&nbsp;khác nhau trong thân người đều&nbsp;do nơi&nbsp;nhiều việc,&nbsp;tùy theo&nbsp;công năng&nbsp;của mình mà sanh ra sự&nbsp;nhận biết.”</p>



<p>Vua&nbsp;tán thán&nbsp;rằng: “Hay thay! Hay thay!”</p>



<p><strong>II.&nbsp;SANH TỬ&nbsp;VÀ&nbsp;NIẾT BÀN</strong></p>



<p><strong>1.&nbsp;NGHIỆP QUẢ&nbsp;SAI BIỆT</strong></p>



<p>Vua lại hỏi Na-tiên: “Bạch&nbsp;đại đức, người&nbsp;thế gian&nbsp;sanh ra vốn dĩ&nbsp;thân thể&nbsp;đều đầy đủ như nhau, tại sao lại có người được sống lâu, có người&nbsp;chết yểu; có người lắm&nbsp;bệnh khổ, có người được ít bệnh; có người&nbsp;giàu sang, có người nghèo hèn; có bậc&nbsp;đại sĩ, có kẻ&nbsp;tiểu nhân; có người&nbsp;hình dung&nbsp;xinh đẹp, có kẻ&nbsp;xấu xí&nbsp;khó coi; có người nói ra được người khác&nbsp;tin cậy, có người luôn bị&nbsp;nghi ngờ; có người&nbsp;sáng suốt&nbsp;hiếu thuận, có người&nbsp;ngu si&nbsp;thiển trí&#8230; Vì sao có những sự bất đồng như vậy?”</p>



<p>Na-tiên nói: “Cũng giống như&nbsp;các loại&nbsp;cây trái, trong đó có loại chua, lại có loại đắng, có loại cay, cũng có loại ngọt. Này&nbsp;đại vương,&nbsp;các loại&nbsp;cây sao lại sanh ra trái chẳng giống như nhau?”</p>



<p>Vua đáp: “Cây trái&nbsp;sở dĩ&nbsp;không giống nhau, là vì giống loại của chúng khác nhau.”</p>



<p>Na-tiên nói: “Người ta cũng vậy. Chỗ sở niệm trong tâm đều không giống nhau, vì thế mà người&nbsp;thế gian&nbsp;chẳng thể đồng như nhau. Có người được sống lâu, có người&nbsp;chết yểu; có người lắm&nbsp;bệnh khổ, có người được ít bệnh; có người&nbsp;giàu sang, có người nghèo hèn; có bậc&nbsp;đại sĩ, có kẻ&nbsp;tiểu nhân; có người&nbsp;hình dung&nbsp;xinh đẹp, có kẻ&nbsp;xấu xí&nbsp;khó coi; có người nói ra được người khác&nbsp;tin cậy, có người luôn bị&nbsp;nghi ngờ; có người&nbsp;sáng suốt&nbsp;hiếu thuận, có người&nbsp;ngu si&nbsp;thiển trí&#8230;</p>



<p>“Vì thế, Phật có dạy rằng: ‘Tùy nơi&nbsp;việc làm&nbsp;thiện hoặc ác mà người ta phải tự nhận lãnh lấy&nbsp;nghiệp quả.’ Có người&nbsp;giàu sang&nbsp;phú quý, có người&nbsp;nghèo khổ&nbsp;bần cùng&#8230; thảy đều&nbsp;do nơi&nbsp;những điều&nbsp;thiện ác&nbsp;đã làm từ đời trước. Cho nên mỗi người đều tùy nơi&nbsp;phước đức&nbsp;của mình mà nhận lãnh.”</p>



<p>Vua&nbsp;tán thán: “Lành thay! Lành thay!”</p>



<p><strong>2. NÊN SỚM LÀM&nbsp;VIỆC THIỆN</strong></p>



<p>Vua lại hỏi: “Bạch&nbsp;đại đức, như người muốn làm&nbsp;việc thiện, nên làm trước hay đợi về sau sẽ làm?”</p>



<p>Na-tiên đáp: “Nên sớm làm điều lành từ trước. Đợi về sau mới làm không thể được phần&nbsp;lợi ích. Nếu sớm làm từ trước mới được&nbsp;lợi ích&nbsp;lớn.</p>



<p>“Như&nbsp;đại vương&nbsp;đến lúc khát nước, sai người đào giếng, có thể giúp giải cơn khát ấy chăng?”</p>



<p>Vua đáp: “Không thể khỏi khát.&nbsp;Cần phải&nbsp;đào giếng từ trước mới được.”</p>



<p>Na-tiên nói: “Người ta làm thiện cũng vậy. Nên làm từ trước. Đợi sau&nbsp;muộn màng&nbsp;mới làm là&nbsp;vô ích.</p>



<p>“Như&nbsp;đại vương&nbsp;đến lúc đói, sai người cày ruộng gieo giống, có kịp cơm ăn chăng? Hay phải có gạo trữ từ trước?”</p>



<p>Vua đáp: “Tất phải có gạo trữ từ trước.”</p>



<p>Na-tiên nói: “Người ta làm thiện cũng vậy. Phải nên làm từ trước. Đợi khi thúc bách mới làm, chẳng có ích gì cho thân mình.</p>



<p>“Như&nbsp;đại vương&nbsp;có&nbsp;thù oán, khi cần chiến đấu mới sai người luyện tập quân mã, có nên vậy chăng?”</p>



<p>Vua đáp: “Không được.&nbsp;Cần phải&nbsp;rèn luyện&nbsp;trước, lúc cần là sẵn sàng chiến đấu. Như đợi lúc cần mới luyện quân mã, chỉ là&nbsp;vô ích&nbsp;thôi.”</p>



<p>Na-tiên nói: “Kinh Phật dạy rằng: Người ta nên nhớ nghĩ làm&nbsp;việc thiện&nbsp;từ trước, chờ đến sau này mới làm&nbsp;vô ích.</p>



<p>“Đại vương chớ nên&nbsp;bỏ đạo&nbsp;lớn mà học theo&nbsp;tà đạo, đừng bắt chước kẻ&nbsp;ngu si&nbsp;mà bỏ thiện làm ác, sau này có than khóc cũng chỉ là&nbsp;vô ích. Người nào bỏ nẻo chánh mà theo điều&nbsp;bất chánh, đến khi sắp chết dù&nbsp;hối hận&nbsp;cũng không còn kịp nữa.”</p>



<p>Vua&nbsp;tán thán&nbsp;rằng: “Hay thay! Hay thay!”</p>



<p><strong>3.&nbsp;ĐỊA NGỤC</strong></p>



<p>Vua hỏi Na-tiên: “Trẫm nghe các vị sa-môn dạy rằng: Lửa ở chốn&nbsp;địa ngục&nbsp;không giống như lửa ở&nbsp;thế gian&nbsp;này. Như lấy một viên đá nhỏ mà đốt trong lửa từ sáng đến tối ở&nbsp;thế gian&nbsp;này, cũng chẳng hề tiêu mất. Nhưng lấy một hòn đá lớn mà thả vào lửa&nbsp;địa ngục&nbsp;liền tức thì tiêu mất. Nói như vậy, trẫm không tin được.</p>



<p>“Các vị sa-môn lại dạy rằng: Người làm việc ác, đọa vào chốn&nbsp;địa ngục,&nbsp;trải qua&nbsp;cả ngàn vạn năm thọ khổ cũng không tiêu mất, cũng không chết đi. Như vậy trẫm càng không thể tin được!”</p>



<p>Na-tiên hỏi vua: “Này&nbsp;đại vương,&nbsp;dưới nước&nbsp;có các loài rắn biển, rồng, rùa, cua&#8230;, khi con cái có thai thường ăn cả cát, sỏi vào bụng.&nbsp;Đại vương&nbsp;có từng nghe nói đến việc ấy chăng?”</p>



<p>Vua đáp: “Trẫm có nghe nói, các loài ấy lấy những thứ đó làm&nbsp;thức ăn.”</p>



<p>Na-tiên hỏi: “Vậy những thứ cát, sỏi ấy vào trong bụng chúng có tiêu được không?”</p>



<p>Vua đáp: “Tất nhiên là chúng đều được&nbsp;tiêu hóa&nbsp;hết.”</p>



<p>Na-tiên hỏi: “Còn cái thai trong bụng chúng có tiêu mất chăng?”</p>



<p>Vua đáp: “Không, không thể tiêu được.”</p>



<p>Na-tiên hỏi: “Vì sao không tiêu được?”</p>



<p>Vua đáp: “Vì là tương đồng, cùng loại của chúng nên tất nhiên là không thể tiêu mất được.”</p>



<p>Na-tiên nói: “Người đọa vào&nbsp;địa ngục&nbsp;cũng giống như vậy.&nbsp;Trải qua&nbsp;ngàn vạn năm vẫn không tiêu, không chết. Do những việc&nbsp;tội lỗi&nbsp;mà người ấy đã tạo ra chưa được&nbsp;giải trừ&nbsp;hết, nên không thể tiêu mất, không thể chết đi.</p>



<p>“Này&nbsp;đại vương, như những loài&nbsp;sư tử, cọp, chó, mèo, khi con cái có thai đều ăn xương thịt của các con mồi. Vậy xương thịt ấy vào bụng chúng có tiêu đi không?”</p>



<p>Vua đáp: “Đều&nbsp;tiêu hóa&nbsp;hết.”</p>



<p>Na-tiên hỏi: “Còn cái thai trong bụng chúng có tiêu mất chăng?”</p>



<p>Vua đáp: “Không, không thể tiêu được.”</p>



<p>Na-tiên hỏi: “Vì sao không tiêu được?”</p>



<p>Vua đáp: “Vì là tương đồng, cùng loại của chúng nên tất nhiên là không thể tiêu mất được.”</p>



<p>Na-tiên nói: “Người đọa vào&nbsp;địa ngục&nbsp;cũng giống như vậy.&nbsp;Trải qua&nbsp;ngàn vạn năm vẫn không tiêu, không chết. Do những việc ác mà người ấy đã tạo ra chưa được&nbsp;giải trừ&nbsp;hết, nên không thể tiêu mất, không thể chết đi.</p>



<p>“Này&nbsp;đại vương, như những loài trâu, ngựa, lừa, nai, khi con cái có thai đều ăn&nbsp;các loại&nbsp;cỏ khô. Vậy cỏ khô ấy vào bụng chúng có tiêu đi không?”&nbsp;</p>



<p>Vua đáp: “Đều&nbsp;tiêu hóa&nbsp;hết.”&nbsp;</p>



<p>Na-tiên hỏi: “Còn cái thai trong bụng chúng có tiêu mất chăng?”</p>



<p>Vua đáp: “Không, không thể tiêu được.”</p>



<p>Na-tiên hỏi: “Vì sao không tiêu được?”</p>



<p>Vua đáp: “Vì là tương đồng, cùng loại của chúng nên tất nhiên là không thể tiêu mất được.”</p>



<p>Na-tiên nói: “Người đọa vào&nbsp;địa ngục&nbsp;cũng giống như vậy. Do&nbsp;tội lỗi&nbsp;đã làm chưa được&nbsp;giải trừ&nbsp;hết, nên không thể tiêu mất, không thể chết đi.</p>



<p>“Này&nbsp;đại vương, như những hàng&nbsp;phụ nữ&nbsp;giàu có&nbsp;trong&nbsp;xã hội, mỗi khi có thai thường&nbsp;tùy ý&nbsp;ăn rất nhiều món ngon. Vậy những món ngon ấy vào bụng họ có tiêu đi không?”</p>



<p>Vua đáp: “Đều&nbsp;tiêu hóa&nbsp;hết.”</p>



<p>Na-tiên hỏi: “Còn cái thai trong bụng họ có tiêu mất chăng?”</p>



<p>Vua đáp: “Không, không thể tiêu được.”</p>



<p>Na-tiên hỏi: “Vì sao không tiêu được?”</p>



<p>Vua đáp: “Vì là tương đồng, cùng loại nên tất nhiên là không thể tiêu mất được.”</p>



<p>Na-tiên nói: “Người đọa vào&nbsp;địa ngục&nbsp;cũng giống như vậy.&nbsp;Sở dĩ&nbsp;trải qua&nbsp;ngàn năm vẫn không tiêu, không chết, là do những việc ác đời trước tạo ra chưa được&nbsp;giải trừ&nbsp;hết, nên không thể tiêu mất, không thể chết đi.</p>



<p>“Họ sanh ra trong&nbsp;địa ngục, lớn lên trong&nbsp;địa ngục,&nbsp;cho đến&nbsp;già đi là lúc&nbsp;tội lỗi&nbsp;trừ hết thì sẽ chết.”</p>



<p>Vua&nbsp;tán thán: “Hay thay! Hay thay!”</p>



<p><strong>4. NIẾT-BÀN</strong></p>



<p>Vua hỏi: “Bạch&nbsp;đại đức, có phải người ta nhập Niết-bàn rồi thì những gì trong&nbsp;quá khứ&nbsp;không bao giờ còn&nbsp;sanh khởi&nbsp;trở lại&nbsp;nữa chăng?”&nbsp;</p>



<p>Na-tiên đáp: “Đúng vậy! Nhập Niết-bàn rồi không còn&nbsp;sanh khởi&nbsp;lại các pháp.</p>



<p>“Kẻ&nbsp;ngu si&nbsp;tham cầu những sự&nbsp;ái luyến&nbsp;trong thân, ngoài thân, nên&nbsp;mãi mãi&nbsp;không thể được thoát ra khỏi già, bệnh, chết.</p>



<p>“Người có trí&nbsp;tu học&nbsp;theo đạo, dù trong thân, ngoài thân đều không tham đắm. Người như vậy không có&nbsp;ân tình&nbsp;ái luyến. Không có&nbsp;ân tình&nbsp;ái luyến, nên không có&nbsp;tham dục. Không có&nbsp;tham dục&nbsp;thì không sanh vào&nbsp;bào thai. Không phải sanh vào&nbsp;bào thai&nbsp;nên không có sanh, già, bệnh, chết. Như vậy không có&nbsp;sầu não&nbsp;đau khổ. Trong lòng không có&nbsp;khổ não, liền&nbsp;đắc nhập&nbsp;Niết-bàn.”</p>



<p>Vua&nbsp;tán thán&nbsp;rằng: “Hay thay!”&nbsp;</p>



<p><strong>5. AI NHẬP NIẾT-BÀN</strong></p>



<p>Vua lại hỏi: “Hết thảy những người&nbsp;học đạo, có thể sẽ được nhập Niết-bàn cả hay không?”</p>



<p>Na-tiên đáp: “Không. Không phải tất cả đều được nhập Niết-bàn. Chỉ những người chân chánh hướng theo đường lành,&nbsp;học hỏi&nbsp;những điều chân chánh, làm được những điều nên làm, tránh xa được những điều không nên làm, nhớ nghĩ những điều nên nhớ nghĩ,&nbsp;từ bỏ&nbsp;hết trong tâm những điều không nên nhớ nghĩ, mới có thể&nbsp;đắc nhập&nbsp;Niết-bàn.”</p>



<p>Vua&nbsp;tán thán: “Hay thay!”</p>



<p><strong>6. VÌ SAO BIẾT NIẾT-BÀN LÀ VUI?</strong></p>



<p>Vua lại hỏi: “Như người chưa nhập Niết-bàn, có thể biết được Niết-bàn là khoái lạc hay chăng?”</p>



<p>Na-tiên đáp: “Tất nhiên, tuy chưa được&nbsp;đắc nhập&nbsp;Niết-bàn, có thể biết được Niết-bàn là khoái lạc.”</p>



<p>Vua hỏi: “Chưa nhập Niết-bàn, vậy làm sao biết được Niết-bàn là khoái lạc?”</p>



<p>Na-tiên hỏi vua: “Người ta chưa từng bị chặt tay chân, có thể biết rằng khi bị chặt tay chân là&nbsp;đau đớn&nbsp;lắm chăng?”</p>



<p>Vua đáp: “Tuy chưa từng bị chặt tay chân, có thể biết bị chặt tay chân là&nbsp;đau đớn&nbsp;lắm.”</p>



<p>Na-tiên hỏi: “Vì sao mà biết?”</p>



<p>Vua đáp: “Vì đã từng thấy những kẻ bị chặt tay chân kêu khóc&nbsp;đau đớn, nên biết như vậy.”</p>



<p>Na-tiên nói: “Cũng như vậy đó. Những người đã&nbsp;đắc nhập&nbsp;Niết-bàn truyền lại&nbsp;cho biết&nbsp;rằng nhập Niết-bàn là khoái lạc. Vì thế nên&nbsp;tin theo&nbsp;mà biết.”</p>



<p>Vua nói: “Hay thay!”</p>



<p><strong>7. VÌ SAO BIẾT CÓ PHẬT?</strong></p>



<p>Vua hỏi: “Bạch&nbsp;đại đức, ngài đã từng được thấy Phật hay chưa?”</p>



<p>Na-tiên đáp: “Chưa từng thấy.”</p>



<p>Vua lại hỏi: “Bạch&nbsp;đại đức, như các vị thầy trước ngài, đã từng thấy Phật hay chưa?”</p>



<p>Na-tiên đáp: “Các vị ấy cũng chưa từng thấy Phật.”</p>



<p>Vua nói: “Như&nbsp;đại đức&nbsp;và các vị thầy trước đây đều chưa từng thấy Phật, vậy trẫm nghĩ&nbsp;chắc chắn&nbsp;là không có Phật.”</p>



<p>Na-tiên hỏi vua: “Đại vương đã từng được thấy chỗ hội tụ của 500 dòng nước chăng?”</p>



<p>Vua đáp: “Trẫm chưa từng được thấy.”</p>



<p>Na-tiên lại hỏi: “Vậy như phụ vương của ngài,&nbsp;cho đến&nbsp;tổ phụ, đã từng được thấy chưa?”</p>



<p>Vua đáp: “Đều chưa từng được thấy.”</p>



<p>Na-tiên nói: “Như&nbsp;đại vương, phụ vương và&nbsp;tổ phụ&nbsp;của ngài đều chưa từng được thấy chỗ hội tụ của 500 dòng nước ấy, vậy trong&nbsp;thiên hạ&nbsp;chắc chắn&nbsp;là không có chỗ hội tụ của 500 dòng nước ấy chăng?”</p>



<p>Vua nói: “Không phải vậy. Tuy rằng trẫm và phụ vương,&nbsp;tổ phụ&nbsp;đều chưa từng nhìn thấy, nhưng thật có những dòng nước ấy.”</p>



<p>Na-tiên nói: “Cũng vậy đó. Tuy&nbsp;bần tăng&nbsp;đây và các vị&nbsp;tôn sư&nbsp;đều chưa từng thấy Phật, nhưng&nbsp;quả thật&nbsp;là có Phật và&nbsp;giáo pháp&nbsp;của ngài truyền lại ở cõi thế này.”</p>



<p>Vua nói: “Hay thay! Hay thay!”</p>



<p><strong>8. NGƯỜI&nbsp;ĐẮC ĐẠO&nbsp;CÓ KHỔ HAY KHÔNG?</strong></p>



<p>Vua lại hỏi: “Như người đã&nbsp;đắc đạo,&nbsp;đời sau&nbsp;không còn phải sanh ra nữa. Người như vậy có còn chịu khổ hay chăng?”</p>



<p>Na-tiên đáp: “Cũng có khổ, cũng không khổ.”</p>



<p>Vua hỏi: “Sao gọi là cũng có khổ, cũng không khổ?”</p>



<p>Na-tiên đáp: “Thân còn chịu khổ,&nbsp;tâm không&nbsp;còn chịu khổ.”</p>



<p>Vua hỏi: “Như vậy nghĩa là thế nào?”</p>



<p>Na-tiên đáp: “Thân&nbsp;sở dĩ&nbsp;có khổ, là vì thân này còn&nbsp;đang tồn tại&nbsp;cho nên phải có khổ. Tâm đã trừ bỏ các điều ác, dứt sạch&nbsp;tham dục&nbsp;nên không còn phải khổ.”</p>



<p><strong>9.&nbsp;ĐẮC ĐẠO&nbsp;VÀ&nbsp;NHẬP NIẾT BÀN</strong></p>



<p>Vua hỏi: “Giả sử như người&nbsp;đắc đạo&nbsp;mà vẫn không dứt được nỗi khổ của thân, vậy là chưa được Niết-bàn chăng?”</p>



<p>Na-tiên đáp: “Người đã&nbsp;đắc đạo&nbsp;không còn&nbsp;ân tình&nbsp;ái luyến, thân tuy khổ nhưng tâm ý an vui. Như vậy còn mong cầu được đạo gì nữa?”</p>



<p>Vua nói: “Nếu như người đã&nbsp;đắc đạo&nbsp;rồi, vậy còn lưu lại cõi thế làm chi?”&nbsp;</p>



<p>Na-tiên đáp: “Ví như quả cây chưa chín, không thể ép được. Như khi đã chín, tất không&nbsp;cần phải&nbsp;chờ đợi nữa.&nbsp;Bần tăng&nbsp;nay chẳng cầu sống, cũng chẳng cầu chết, chỉ&nbsp;đợi thời&nbsp;điểm đến thì ra đi thôi.”&nbsp;</p>



<p><strong>KINH TỲ-KHEO NA-TIÊN</strong><br>Đoàn Trung Còn &#8211; Nguyễn Minh Tiến dịch và&nbsp;chú giải<br>Nguyễn&nbsp;Minh Hiển&nbsp;hiệu đính<br>Nhà xuất&nbsp;bản Tôn&nbsp;Giáo Hà Nội 2009<br><br><br></p>



<p><strong>QUYỂN HẠ</strong></p>



<p><strong>I.&nbsp;VIỆC LÀM&nbsp;VÀ&nbsp;NHÂN QUẢ</strong></p>



<p><strong>1. KHÔNG AI HƠN PHẬT</strong></p>



<p>Vua hỏi Na-tiên: “Có thật là không ai hơn được&nbsp;đức Phật&nbsp;chăng?”</p>



<p>Na-tiên đáp: “Đúng vậy, không ai hơn được&nbsp;đức Phật.”</p>



<p>Vua lại hỏi: “Làm sao biết là không có ai hơn được đức Phật?”</p>



<p>Na-tiên liền hỏi vua: “Này&nbsp;đại vương, như người chưa từng đi biển, có thể biết là biển rộng lớn. Vì có năm dòng sông lớn, mỗi dòng có 500 sông nhỏ chảy vào. Một là&nbsp;sông Hằng, hai là sông Tín-tha, ba là sông Tể-xoa, bốn là sông Tư-tha, năm là sông Thi-phi-di. Năm dòng sông ấy ngày đêm&nbsp;liên tục&nbsp;chảy vào biển, mà nước biển vẫn không dâng thêm chút nào. Có thể nhờ&nbsp;vậy mà&nbsp;biết là biển rộng lớn lắm chăng?”</p>



<p>Vua đáp: “Quả thật có thể biết được.”</p>



<p>Na-tiên nói: “Cũng giống như vậy. Vì có những bậc&nbsp;đắc đạo&nbsp;cùng nhau&nbsp;luận đàm, mà không ai hơn được Phật. Vì thế&nbsp;bần tăng&nbsp;tin là Phật cao trổi hơn hết.”</p>



<p>Vua hỏi: “Làm sao biết được là không có ai&nbsp;luận đàm&nbsp;hơn được Phật?”</p>



<p>Na-tiên hỏi: “Đại vương có biết ai là người chế ra&nbsp;chữ viết&nbsp;chăng?”</p>



<p>Vua đáp: “Người chế ra&nbsp;chữ viết&nbsp;trước đây tên là Chất.”</p>



<p>Na-tiên hỏi: “Đại vương đã từng gặp người ấy chưa?”</p>



<p>Vua đáp: “Người đã chết từ lâu rồi, trẫm chưa từng được gặp.”</p>



<p>Na-tiên hỏi: “Vua chưa từng được gặp ông ấy, sao biết ông là người chế ra chữ viết?”</p>



<p>Vua đáp: “Từ xưa&nbsp;đến nay&nbsp;truyền nối nhau mà bảo rằng ông Chất tạo ra&nbsp;chữ viết, nên trẫm biết được như vậy.”</p>



<p>Na-tiên nói: “Cũng như vậy đó.&nbsp;Bần tăng&nbsp;đã từng được thấy&nbsp;kinh điển,&nbsp;giới luật&nbsp;của Phật truyền lại, cũng như thấy Phật không khác.&nbsp;Kinh điển&nbsp;do&nbsp;Phật thuyết&nbsp;dạy rất&nbsp;sâu xa,&nbsp;vi diệu, mang lại sự&nbsp;an lạc. Những người đã được học biết&nbsp;kinh điển,&nbsp;giới luật&nbsp;của Phật nối tiếp nhau truyền dạy lại cho&nbsp;đời sau. Do đó mà&nbsp;bần tăng&nbsp;biết là không ai hơn được Phật.”</p>



<p><strong>2. LÀM THEO KINH PHẬT</strong></p>



<p>Vua lại hỏi: “Như được gặp&nbsp;kinh điển&nbsp;của Phật, có thể học làm theo&nbsp;lâu dài&nbsp;chăng?”</p>



<p>Na-tiên đáp: “Những&nbsp;kinh điển,&nbsp;giới luật&nbsp;do Phật truyền dạy rất&nbsp;thâm sâu,&nbsp;thích đáng, có thể học làm theo&nbsp;suốt đời.”</p>



<p>Vua&nbsp;tán thán&nbsp;rằng: “Hay thay!”</p>



<p><strong>3.&nbsp;SAU KHI CHẾT</strong></p>



<p>Vua lại hỏi: “Người ta&nbsp;sau khi chết, thân này không&nbsp;tái sanh&nbsp;trở lại&nbsp;hay sao?”</p>



<p>Na-tiên đáp: “Người ta&nbsp;sau khi chết&nbsp;sẽ thọ sanh với một&nbsp;thân thể&nbsp;mới, còn thân này không sanh theo qua&nbsp;đời sống&nbsp;khác.</p>



<p>“Ví như bấc đèn, khi cháy hết lại thêm bấc khác vào, nên&nbsp;tiếp nối&nbsp;nhau, lửa cháy bằng bấc mới. Thân người cũng như vậy. Khi thân cũ&nbsp;không tồn tại&nbsp;nữa, lại thọ nhận một&nbsp;thân thể&nbsp;mới.”</p>



<p>Na-tiên hỏi vua: “Khi&nbsp;đại vương&nbsp;còn nhỏ tuổi, có theo thầy học&nbsp;các loại&nbsp;kinh sách chăng?”</p>



<p>Vua đáp: “Tất nhiên là có. Đến giờ trẫm vẫn còn nhớ.”</p>



<p>Na-tiên hỏi vua: “Đại vương&nbsp;do nơi&nbsp;thầy mà học kinh sách, nhưng vị thầy ấy có tự biết được nguồn gốc của kinh sách chăng, hay&nbsp;do nơi&nbsp;người xưa mà biết?”</p>



<p>Vua đáp: “Thật không tự biết. Do nối&nbsp;tiếp theo&nbsp;người xưa mà biết.”</p>



<p>Na-tiên nói: “Thân người cũng như vậy. Khi hoại thân cũ thì nối tiếp mà thọ thân mới.”</p>



<p>Vua&nbsp;tán thán: “Hay thay!”</p>



<p><strong>4.&nbsp;NHÂN QUẢ&nbsp;NỐI TIẾP</strong></p>



<p>Vua lại hỏi: “Khi thọ thân mới như vậy, tự người ta có nhớ biết chăng?”</p>



<p>Na-tiên đáp: “Không biết.”</p>



<p>Na-tiên lại hỏi vua: “Ví như có người hái trộm quả xoài của người khác, người ấy có tội chăng?”</p>



<p>Vua đáp: “Có tội.”</p>



<p>Na-tiên hỏi: “Như khi mới trồng cây xoài con,&nbsp;thật không&nbsp;có quả xoài. Vậy sao nói người trộm xoài có tội?”</p>



<p>Vua nói: “Như không có trồng cây xoài con, làm sao ngày nay có quả xoài?&nbsp;Vì vậy&nbsp;nói người hái trộm xoài là có tội, không thể chối cãi.”</p>



<p>Na-tiên nói: “Người ta cũng như vậy. Đời này tạo tác các&nbsp;việc thiện&nbsp;ác, sanh qua&nbsp;đời sau&nbsp;phải&nbsp;thọ lãnh&nbsp;với&nbsp;thân mạng&nbsp;mới.”</p>



<p>Vua lại hỏi: “Người ta dùng thân này mà tạo tác các&nbsp;việc thiện&nbsp;ác, khi thọ thân mới rồi,&nbsp;thiện ác&nbsp;khi ấy ở đâu?”</p>



<p>Na-tiên đáp: “Những điều&nbsp;thiện ác&nbsp;đã làm sẽ theo người ta như bóng theo hình. Dù khi chết đi, chỉ hoại mất thân này chứ&nbsp;việc đã làm&nbsp;thật không&nbsp;hề mất.&nbsp;Ví như&nbsp;người ban đêm thắp đèn viết thư, sau tắt đèn rồi, lá thư vẫn còn đó. Khi thắp đèn lên lại liền nhìn thấy. Đời nay làm&nbsp;việc thiện&nbsp;ác,&nbsp;đời sau&nbsp;thọ lãnh&nbsp;cũng giống như vậy.”</p>



<p>Vua&nbsp;tán thán&nbsp;rằng: “Hay thay!”</p>



<p><strong>5. DỰ TRI&nbsp;NHÂN QUẢ</strong></p>



<p>Vua lại hỏi Na-tiên: “Có thể&nbsp;phân biệt&nbsp;biết rõ các&nbsp;việc thiện&nbsp;ác đã làm sẽ kết quả ra sao ngày sau chăng?”</p>



<p>Na-tiên đáp: “Không thể biết được.”</p>



<p>Na-tiên hỏi vua: “Ví như cây trái chưa kết&nbsp;thành quả, có thể&nbsp;phân biệt&nbsp;chỉ rõ quả cây đang ở chỗ nào trong cây chăng?”</p>



<p>Vua đáp: “Không thể biết được.”</p>



<p>Na-tiên nói: “Cũng vậy đó. Người chưa&nbsp;đắc đạo&nbsp;thì không thể nào biết được những&nbsp;việc thiện&nbsp;ác sẽ kết quả&nbsp;chính xác&nbsp;ở đâu, lúc nào được.”</p>



<p>Vua&nbsp;tán thán: “Hay thay!”</p>



<p>Vua lại hỏi: “Như người còn phải thọ sanh&nbsp;đời sau&nbsp;nữa, có thể tự&nbsp;biết điều&nbsp;ấy chăng?”</p>



<p>Na-tiên đáp: “Có thể tự biết.”</p>



<p>Vua hỏi: “Làm sao biết được?”&nbsp;</p>



<p>Na-tiên hỏi lại: “Ví như người làm ruộng cày bừa, gieo giống, mưa nắng&nbsp;thuận thời, có thể&nbsp;biết trước&nbsp;là sẽ có thu hoạch chăng?”</p>



<p>Vua đáp: “Tất nhiên là biết. Do đã đầy đủ các&nbsp;điều kiện, có thể&nbsp;đoán trước&nbsp;được sẽ có thu hoạch.”</p>



<p>Na-tiên nói: “Người ta cũng như vậy. Như phải thọ sanh&nbsp;đời sau&nbsp;nữa, có thể&nbsp;biết trước&nbsp;được.”</p>



<p>Vua&nbsp;tán thán&nbsp;rằng: “Hay thay!”</p>



<p><strong>II. PHẬT VÀ&nbsp;ĐỆ TỬ</strong></p>



<p><strong>1. PHẬT ĐANG Ở ĐÂU?</strong></p>



<p>Vua lại hỏi: “Thật có Niết-bàn hay chăng?”</p>



<p>Na-tiên đáp: “Quả thật có.”</p>



<p>Vua hỏi: “Vậy có thể chỉ rõ Phật đang ở tại chỗ nào chăng?”</p>



<p>Na-tiên đáp: “Không thể được. Không thể chỉ rõ Phật đang ở tại nơi nào, vì Phật đã nhập Niết-bàn từ lâu rồi.</p>



<p>“Ví như có người đốt lửa. Sau tắt lửa đi rồi, có thể chỉ được ánh sáng của lửa đang ở đâu chăng?”</p>



<p>Vua nói: “Không thể chỉ được.”</p>



<p>Na-tiên nói: “Cũng vậy đó. Phật đã nhập Niết-bàn từ lâu, không thể biết được chỗ trụ xứ của ngài.”</p>



<p>Vua&nbsp;tán thán: “Hay thay!”</p>



<p><strong>2. TỰ YÊU MẾN&nbsp;THÂN THỂ</strong></p>



<p>Vua lại hỏi: “Các vị sa-môn có tự yêu mến thân mình hay không?”</p>



<p>Na-tiên đáp: “Không, sa-môn không tự yêu mến thân mình.”</p>



<p>Vua hỏi: “Như nói rằng sa-môn không tự yêu mến thân mình, vì sao chỗ nằm phải lo cho êm ấm, miếng ăn phải chọn những thứ ngon bổ. Như vậy là nghĩa thế nào?”</p>



<p>Na-tiên hỏi vua: “Đại vương đã từng ra trận chiến đấu chưa?”</p>



<p>Vua đáp: “Có, trẫm đã từng ra trận chiến đấu.”</p>



<p>Na-tiên hỏi: “Khi ra trận,&nbsp;đại vương&nbsp;có từng bị gươm đao hoặc tên địch bắn trúng chăng?”</p>



<p>Vua đáp: “Có. Trẫm đã từng bị đao chém trúng.”</p>



<p>Na-tiên hỏi: “Khi&nbsp;bị thương,&nbsp;đại vương&nbsp;làm thế nào?”</p>



<p>Vua đáp: “Dùng thuốc đắp lên, lấy vải băng kỹ lại.”</p>



<p>Na-tiên hỏi: “Đại vương vì yêu mến vết thương ấy mà&nbsp;săn sóc&nbsp;kỹ như vậy chăng?”</p>



<p>Vua đáp: “Không phải. Trẫm không có yêu mến vết thương ấy.”</p>



<p>Na-tiên hỏi: “Đã không yêu mến, tại sao lại dùng thuốc đắp lên, dùng vải băng kỹ lại?”</p>



<p>Vua đáp: “Trẫm chỉ muốn cho mau&nbsp;bình phục,&nbsp;thật không&nbsp;phải yêu mến gì vết thương ấy.”</p>



<p>Na-tiên nói: “Các vị sa-môn cũng như vậy. Không yêu mến gì&nbsp;bản thân&nbsp;mình. Tuy&nbsp;thọ dụng&nbsp;việc&nbsp;ăn uống, nhưng&nbsp;tâm không&nbsp;tham đắm vui theo vị ngon, không muốn ăn những món ngon lạ, nhưng cũng không để cho thân&nbsp;đói khát, vì chỉ muốn giữ lấy&nbsp;thân thể&nbsp;này để làm theo&nbsp;kinh điển,&nbsp;giới pháp&nbsp;của Phật mà thôi.</p>



<p>“Kinh Phật có dạy rằng:&nbsp;Thân thể&nbsp;người ta có&nbsp;chín lỗ&nbsp;thông ra bên ngoài, như chín cái ung nhọt, thảy đều là những chỗ&nbsp;bất tịnh.”</p>



<p>Vua&nbsp;tán thán&nbsp;rằng: “Hay thay! Hay thay!”</p>



<p><strong>3. PHẬT KHÔNG GIỐNG&nbsp;THẾ GIAN</strong></p>



<p>Vua lại hỏi: “Bạch&nbsp;đại đức, có thật là&nbsp;đức Phật&nbsp;đủ&nbsp;ba mươi hai tướng tốt, tám mươi vẻ đẹp, thân có sắc&nbsp;vàng ròng,&nbsp;hào quang&nbsp;chiếu sáng hay chăng?”</p>



<p>Na-tiên đáp: “Đúng vậy.&nbsp;Đức Phật&nbsp;đủ&nbsp;ba mươi hai tướng tốt, tám mươi vẻ đẹp, thân có sắc&nbsp;vàng ròng,&nbsp;hào quang&nbsp;chiếu sáng quanh thân.”</p>



<p>Vua hỏi: “Như&nbsp;cha mẹ&nbsp;của&nbsp;đức Phật&nbsp;có đủ&nbsp;ba mươi hai tướng tốt, tám mươi vẻ đẹp, thân có sắc&nbsp;vàng ròng,&nbsp;hào quang&nbsp;chiếu sáng hay chăng?”</p>



<p>Na-tiên đáp: “Không,&nbsp;cha mẹ&nbsp;của&nbsp;đức Phật&nbsp;không có các tướng tốt như thế.”</p>



<p>Vua nói: “Như&nbsp;cha mẹ&nbsp;đã không có, vậy chắc là Phật cũng không thể có các tướng như thế. Như trong các loài, sanh ra đều&nbsp;tùy theo&nbsp;chủng loại của mình.&nbsp;Cha mẹ&nbsp;của Phật đã không có các tướng ấy, vậy&nbsp;chắc chắn&nbsp;là Phật cũng không thể có được.”</p>



<p>Na-tiên nói: “Cha mẹ của Phật tuy không có&nbsp;ba mươi hai tướng tốt, tám mươi vẻ đẹp, thân có sắc&nbsp;vàng ròng,&nbsp;hào quang&nbsp;chiếu sáng, nhưng&nbsp;Phật quả&nbsp;thật có các tướng ấy.”</p>



<p>Na-tiên hỏi vua: “Đại vương đã từng thấy&nbsp;hoa sen&nbsp;chưa?”</p>



<p>Vua đáp: “Trẫm đã từng thấy.”</p>



<p>Na-tiên hỏi: “Như&nbsp;hoa sen&nbsp;ấy, sanh ra trong lòng đất, lớn lên trong bùn nước. Màu sắc và hương thơm đều&nbsp;tuyệt hảo, như vậy có giống cùng loại theo với đất bùn và nước hay chăng?”</p>



<p>Vua đáp: “Không giống.”</p>



<p>Na-tiên nói: “Tuy&nbsp;cha mẹ&nbsp;của&nbsp;đức Phật&nbsp;không có các tướng tốt, nhưng&nbsp;Phật quả&nbsp;thật có các tướng ấy. Phật sanh ra nơi&nbsp;thế gian, lớn lên nơi&nbsp;thế gian, nhưng không giống theo các việc của&nbsp;thế gian&nbsp;vậy.”</p>



<p>Vua&nbsp;tán thán: “Hay thay!”</p>



<p><strong>4.&nbsp;NGỤY BIỆN</strong></p>



<p>Vua lại hỏi: “Có thật là&nbsp;đức Phật&nbsp;giữ&nbsp;tịnh hạnh&nbsp;như&nbsp;Phạm thiên vương&nbsp;ở&nbsp;cõi trời&nbsp;thứ bảy hay chăng?”</p>



<p>Na-tiên đáp: “Đúng vậy,&nbsp;quả thật&nbsp;ngài giữ&nbsp;tịnh hạnh&nbsp;tinh khiết, không hề có tỳ vết.”</p>



<p>Vua nói: “Như nói rằng Phật giữ&nbsp;tịnh hạnh&nbsp;giống như&nbsp;Phạm thiên vương&nbsp;ở&nbsp;cõi trời&nbsp;thứ bảy, như&nbsp;vậy thì&nbsp;Phật là&nbsp;đệ tử&nbsp;của vị ấy rồi.”</p>



<p>Na-tiên hỏi vua: “Này&nbsp;đại vương,&nbsp;Phạm thiên vương&nbsp;ở&nbsp;cõi trời&nbsp;ấy có&nbsp;ý niệm&nbsp;hay không có ý niệm?”</p>



<p>Vua đáp: “Có&nbsp;ý niệm.”</p>



<p>Na-tiên nói: “Như&nbsp;vậy thì&nbsp;Phạm thiên vương&nbsp;và&nbsp;chư thiên&nbsp;cõi ấy hẳn đều là&nbsp;đệ tử&nbsp;của Phật rồi.”</p>



<p>Na-tiên lại hỏi vua: “Này&nbsp;đại vương, tiếng chim kêu giống tiếng gì?”</p>



<p>Vua đáp: “Giống tiếng nhạn.”</p>



<p>Na-tiên nói: “Đại vương vừa nói tiếng chim kêu giống nhạn, vậy tất cả các loài chim đều là&nbsp;đệ tử&nbsp;của nhạn cả chăng?&nbsp;</p>



<p>“Nếu không phải vậy, thì Phật cũng như vậy đó, không thể nói là&nbsp;đệ tử&nbsp;của&nbsp;Phạm thiên vương&nbsp;được.”</p>



<p>Vua&nbsp;tán thán: “Hay thay!”</p>



<p><strong>5. AI LÀ THẦY CỦA PHẬT</strong></p>



<p>Vua hỏi Na-tiên: “Bạch&nbsp;đại đức,&nbsp;đức Phật&nbsp;tất cũng phải học biết&nbsp;kinh điển,&nbsp;giới luật, rồi mới có thể làm theo được?”</p>



<p>Na-tiên đáp: “Tất nhiên là vậy.”</p>



<p>Vua hỏi: “Như vậy, Phật&nbsp;do nơi&nbsp;vị thầy nào mà học biết&nbsp;kinh điển, giới luật?”</p>



<p>Na-tiên đáp: “Phật không có thầy. Khi&nbsp;đức Phật&nbsp;chứng đắc&nbsp;đạo quả, liền tự mình rõ biết tất cả&nbsp;kinh điển. Không giống như các&nbsp;đệ tử&nbsp;của Phật, đều phải học theo&nbsp;lời Phật dạy.&nbsp;Vì vậy,&nbsp;đệ tử&nbsp;Phật đã được học biết&nbsp;kinh điển,&nbsp;giới luật&nbsp;thì phải&nbsp;suốt đời&nbsp;vâng làm theo.”</p>



<p>Vua&nbsp;tán thán: “Hay thay!”</p>



<p><strong>III.&nbsp;TU TẬP&nbsp;VÀ&nbsp;GIẢI THOÁT&nbsp;</strong></p>



<p><strong>1. HAI GIỌT LỆ</strong></p>



<p>Vua lại hỏi: “Khi&nbsp;cha mẹ&nbsp;chết đi, người ta buồn đau nhỏ lệ. Khi được nghe kinh Phật, người ta cũng&nbsp;cảm động&nbsp;mà nhỏ lệ. Hai&nbsp;trường hợp&nbsp;rơi lệ&nbsp;ấy có gì khác nhau không?”</p>



<p>Na-tiên đáp: “Khi&nbsp;cha mẹ&nbsp;chết, người ta đau buồn mà nhỏ lệ, đó là&nbsp;xuất phát&nbsp;từ&nbsp;cảm xúc&nbsp;ân tình,&nbsp;ái luyến, buồn khổ&nbsp;đau đớn&nbsp;của&nbsp;thế gian, ấy là giọt lệ&nbsp;ngu si&nbsp;vậy.</p>



<p>“Khi được nghe kinh Phật, người ta&nbsp;cảm động&nbsp;mà nhỏ lệ, đó là&nbsp;xuất phát&nbsp;từ&nbsp;lòng từ&nbsp;bi,&nbsp;ai mẫn,&nbsp;thương xót&nbsp;những nỗi khổ của&nbsp;thế gian, ấy là giọt lệ sanh ra&nbsp;phước đức&nbsp;lớn lắm vậy.”</p>



<p>Vua&nbsp;tán thán: “Hay thay!”</p>



<p><strong>2. NGƯỜI&nbsp;ĐƯỢC GIẢI THOÁT&nbsp;</strong></p>



<p>Vua lại hỏi: “Người đã&nbsp;được giải thoát, với người chưa&nbsp;được giải thoát, có gì khác biệt nhau?”</p>



<p>Na-tiên đáp: “Người chưa&nbsp;giải thoát&nbsp;trong tâm có&nbsp;tham dục. Người đã&nbsp;giải thoát&nbsp;rồi trong&nbsp;tâm không&nbsp;có&nbsp;tham dục,&nbsp;cho đến&nbsp;việc&nbsp;ăn uống&nbsp;cũng chỉ nhằm để nuôi&nbsp;thân mạng&nbsp;mà thôi.”</p>



<p>Vua nói: “Trẫm nhìn trong&nbsp;thế gian&nbsp;này, chỉ thấy người ta ai ai cũng muốn được sướng thân, muốn được&nbsp;ăn ngon, chẳng lúc nào thấy đủ.”</p>



<p>Na-tiên nói: “Người ta chưa&nbsp;được giải thoát, khi được&nbsp;ăn ngon&nbsp;đều lấy làm khoái trá,&nbsp;vui mừng. Người đã&nbsp;giải thoát&nbsp;rồi, tuy có&nbsp;ăn uống, chẳng lấy đó làm vui, chẳng lấy làm thích, chỉ là vì để nuôi sống&nbsp;thân mạng&nbsp;mà thôi.”</p>



<p>Vua&nbsp;tán thán: “Hay thay!”</p>



<p><strong>3.&nbsp;TRÍ NHỚ</strong></p>



<p>Vua lại hỏi: “Những việc người ta đã từng làm, lâu xa về sau có thể nhớ lại chăng?”</p>



<p>Na-tiên đáp: “Có. Nhất là khi người ta có chuyện buồn lo, thường nhớ lại những việc xa xưa.”</p>



<p>Vua hỏi: “Người ta dùng cái gì để nhớ lại như thế? Dùng&nbsp;ý chí&nbsp;mà nhớ chăng? Dùng niệm tưởng mà nhớ chăng?”</p>



<p>Na-tiên hỏi vua: “Đại vương đã từng học qua nhiều điều, về sau có nhớ biết hết chăng?”</p>



<p>Vua đáp: “Tất nhiên. Nhưng trong những chỗ đã học qua, cũng có điều bỗng nhiên quên đi mất.”</p>



<p>Na-tiên hỏi: “Đại vương lúc trước không có quên? Vì sao sau lại quên?”</p>



<p>Vua nói: “Trẫm&nbsp;lúc ấy&nbsp;do có nhiều&nbsp;vọng niệm.”</p>



<p>Na-tiên nói: “Vậy không đúng với điều&nbsp;đại vương&nbsp;đã nghĩ.”</p>



<p>Vua lại hỏi Na-tiên: “Những việc người ta đã từng làm đều có thể nhớ lại như lúc mới làm chăng? Ngày nay thấy những điều&nbsp;trước mắt, có phải đều dùng&nbsp;trí nhớ&nbsp;mà biết chăng?”</p>



<p>Na-tiên đáp: “Những việc đã qua, đều nhờ&nbsp;trí nhớ&nbsp;mà biết. Những việc hiện nay, cũng nhờ&nbsp;trí nhớ&nbsp;mà biết.”</p>



<p>Vua nói: “Như&nbsp;vậy thì&nbsp;lẽ ra người ta chỉ có thể nhớ việc&nbsp;quá khứ, không thể nói là nhớ cả việc&nbsp;mới đây.”</p>



<p>Na-tiên đáp: “Giả như nói là mới, có&nbsp;việc đã làm&nbsp;mà không thể nhớ được thì có khác gì&nbsp;quá khứ.”</p>



<p>Vua nói: “Vậy như người học vẽ, học viết, học các môn kỹ xảo, có&nbsp;uổng công&nbsp;chăng?”</p>



<p>Na-tiên đáp: “Người học viết, học vẽ đều có ghi nhớ, do đó mới có thể dạy lại cho&nbsp;đệ tử&nbsp;sau này. Vậy nên biết là có&nbsp;trí nhớ.”</p>



<p>Vua&nbsp;tán thán: “Hay thay!”</p>



<p>4<strong>.&nbsp;PHÁT KHỞI&nbsp;TRÍ NHỚ</strong></p>



<p>Vua lại hỏi Na-tiên: “Bạch&nbsp;đại đức, người ta&nbsp;do nơi&nbsp;những việc gì mà gợi nên trí nhớ?”</p>



<p>Na-tiên đáp: “Người ta có mười sáu&nbsp;việc làm&nbsp;cho nhớ lại việc đã qua. Một là nhớ được những điều đã làm từ rất lâu xa. Hai là thấy người mới học nên nhớ. Ba là nhớ đến những việc lớn quan trọng. Bốn là nhờ nghĩ điều lành nên nhớ. Năm là nhớ đến những điều khổ sở. Sáu là thường&nbsp;suy nghĩ&nbsp;đến nên nhớ. Bảy là những điều thường làm khác nhau đều nhớ biết. Tám là nhờ người khác nhắc nhở mà nhớ. Chín là nhớ những việc&nbsp;tương tự, gần giống. Mười là nhớ những điều mình đã từng hay quên. Mười một là nhớ những điều mình&nbsp;hiểu rõ. Mười hai là nhớ những điều mình đã tính toán, học làm theo. Mười ba là&nbsp;mắc nợ&nbsp;nần nên nhớ. Mười bốn là nhờ&nbsp;chuyên tâm&nbsp;không&nbsp;tán loạn&nbsp;cho nên nhớ. Mười lăm là nhớ những điều đọc thấy trong sách vở. Mười sáu là nơi mình đã từng sống, nay nhìn thấy lại nên nhớ.”</p>



<p>Vua hỏi: “Thế nào là nhớ lại những điều đã làm từ rất lâu xa?”</p>



<p>Na-tiên đáp: “Như ngài A-nan,&nbsp;đệ tử&nbsp;của Phật, và&nbsp;nữ cư sĩ&nbsp;Cưu-thù-đan-bãi, nhớ lại được những điều từ nhiều đời trước. Nhiều vị&nbsp;tu chứng&nbsp;khác nữa, cũng có khả năng nhớ lại được việc từ nhiều đời trước. Những người trong chúng&nbsp;tu học&nbsp;được như A-nan và vị&nbsp;nữ cư sĩ&nbsp;ấy nhiều lắm. Khi nhớ được điều này lại có thể nhân đó nhớ được điều khác nữa.”</p>



<p>Vua hỏi: “Thế nào là thấy người mới học nên nhớ?”&nbsp;</p>



<p>Na-tiên đáp: “Như người đã từng&nbsp;học hỏi, tính toán, làm được điều gì, sau quên mất. Nay nhìn thấy người khác&nbsp;học hỏi&nbsp;liền nhớ lại.”&nbsp;</p>



<p>Vua hỏi: “Thế nào là nhớ đến những việc lớn, quan trọng?”</p>



<p>Na-tiên đáp: “Ví dụ như vị&nbsp;thái tử&nbsp;được lập lên làm vua, cho đó là việc lớn quan trọng, vì giúp mình được&nbsp;trở nên cao quý. Nghĩ như vậy nên ghi nhớ.”&nbsp;</p>



<p>Vua hỏi: “Thế nào là nhờ nghĩ điều lành nên nhớ?”</p>



<p>Na-tiên đáp: “Ví dụ như người ta có ý tốt mời thỉnh người khác đến&nbsp;chiêu đãi, trong lòng tự nghĩ rằng: Ngày ấy, ta mời thỉnh người ấy với ý tốt muốn&nbsp;cung phụng, đãi ngộ. Do ý tốt ấy mà ghi nhớ.”</p>



<p>Vua hỏi: “Thế nào là nhớ đến những điều khổ sở?”</p>



<p>Na-tiên đáp: “Ví như người đã từng bị người khác&nbsp;giam hãm, tù đày khổ sở nên ghi nhớ.”&nbsp;</p>



<p>Vua hỏi: “Thế nào là thường nghĩ đến nên nhớ?”</p>



<p>Na-tiên đáp: “Ví dụ như những điều người ta thường trông thấy, như người, vật&nbsp;quen thuộc&nbsp;trong&nbsp;gia đình, thường nghĩ đến nên đều ghi nhớ.”</p>



<p>Vua hỏi: “Thế nào là những điều thường làm khác nhau đều nhớ biết?”</p>



<p>Na-tiên đáp: “Ví dụ như tên người, cảnh, vật khác biệt nhau, màu sắc, hương vị&#8230; mà người ta ghi nhớ.”</p>



<p>Vua hỏi: “Thế nào là nhờ người khác nhắc nhở mà nhớ?”</p>



<p>Na-tiên đáp: “Ví như người ta tính hay quên. Những người bên cạnh lại có kẻ nhớ, người quên. Người quên nhờ người nhớ nhắc cho nên nhớ lại.”&nbsp;</p>



<p>Vua hỏi: “Thế nào là nhớ những việc&nbsp;tương tự, gần giống?”</p>



<p>Na-tiên đáp: “Người ta&nbsp;cho đến&nbsp;trâu, ngựa&#8230; mỗi loài đều có những điểm giống nhau trong loài của mình. Người ta nhờ đó mà ghi nhớ.”&nbsp;</p>



<p>Vua hỏi: “Thế nào là nhớ những điều mình đã từng hay quên?”</p>



<p>Na-tiên đáp: “Ví như có những việc mình hay quên mất, nhiều lần được người khác nhắc nhở nên tự mình luôn&nbsp;tâm niệm&nbsp;về việc ấy, nhờ&nbsp;vậy mà&nbsp;ghi nhớ.”</p>



<p>Vua hỏi: “Thế nào là nhớ những điều mình hiểu rõ?”</p>



<p>Na-tiên đáp: “Ví như người học viết, chú ý&nbsp;tìm hiểu&nbsp;rõ về các con chữ nên ghi nhớ.”&nbsp;</p>



<p>Vua hỏi: “Thế nào là nhớ những điều mình đã tính toán, học làm theo?”</p>



<p>Na-tiên đáp: “Ví như người vừa tính toán việc gì, lại vừa tự mình học làm theo được&nbsp;hoàn tất, có thể&nbsp;phân biệt&nbsp;rất&nbsp;rõ ràng. Đó là nhờ có&nbsp;học hỏi, tính toán và làm theo mà nhớ.”</p>



<p>Vua hỏi: “Thế nào là&nbsp;mắc nợ&nbsp;nần nên nhớ?”</p>



<p>Na-tiên đáp: “Ví như người có món nợ, lúc nào cũng nhớ nghĩ đến. Như vậy gọi là&nbsp;mắc nợ&nbsp;nần cho nên nhớ.”</p>



<p>Vua hỏi: “Thế nào là nhờ&nbsp;chuyên tâm&nbsp;không&nbsp;tán loạn&nbsp;cho nên nhớ.”</p>



<p>Na-tiên đáp: “Ví như vị sa-môn nhờ&nbsp;tu tập&nbsp;có&nbsp;thể đạt&nbsp;đến chỗ&nbsp;nhất tâm, liền tự nhớ lại những việc từ ngàn vạn đời trước&nbsp;cho đến&nbsp;nay. Như vậy&nbsp;bần tăng&nbsp;gọi là nhờ&nbsp;chuyên tâm&nbsp;không&nbsp;tán loạn&nbsp;cho nên nhớ lại.”&nbsp;</p>



<p>Vua hỏi: “Thế nào là nhớ những điều đọc thấy trong sách vở?”</p>



<p>Na-tiên đáp: “Ví như các vị đế vương có những quyển sách rất cổ xưa. Nhờ đó biết được ngày trước có vị vua như thế, vào tháng năm như thế, đã ghi trong sách này&#8230; Như vậy là nhờ đọc sách mà nhớ biết việc trước kia.”&nbsp;</p>



<p>Vua hỏi: “Thế nào là nơi mình đã từng sống, nay nhìn thấy lại nên nhớ?”</p>



<p>Na-tiên đáp: “Như người có chỗ cư trú trước đây rất lâu xa, nay có dịp đến nhìn thấy lại liền nhớ biết.”</p>



<p>Vua&nbsp;tán thán: “Hay thay!&#8221;</p>



<p><strong>5.&nbsp;ĐỘ NGƯỜI&nbsp;CŨNG NHƯ TRỊ BỆNH</strong></p>



<p>Vua lại hỏi: “Bạch&nbsp;đại đức, có phải&nbsp;đức Phật&nbsp;rõ biết được hết các việc trong&nbsp;quá khứ&nbsp;cũng như trong tương lai?”&nbsp;</p>



<p>Na-tiên đáp: “Đúng vậy, Phật có thể rõ biết hết thảy.”</p>



<p>Vua hỏi: “Nếu như Phật đã rõ biết hết thảy&nbsp;mọi việc, tại sao không một lúc truyền dạy hết cho các vị&nbsp;đệ tử, lại phải&nbsp;tuần tự&nbsp;mà dạy mỗi khi một ít?”</p>



<p>Na-tiên hỏi vua: “Trong xứ bệ hạ có vị thầy thuốc nào chăng?”</p>



<p>Vua đáp: “Bạch&nbsp;đại đức, có.”</p>



<p>Na-tiên hỏi: “Vị thầy thuốc ấy có biết đủ các vị thuốc, bài thuốc chăng?”</p>



<p>Vua đáp: “Đã làm thầy thuốc trị bệnh, tất nhiên phải biết đủ.”</p>



<p>Na-tiên hỏi: “Vị thầy thuốc ấy khi trị bệnh, trong một lúc cho dùng tất cả các vị thuốc, bài thuốc, hay chỉ chờ&nbsp;đúng lúc&nbsp;mà dùng mỗi lần một ít?”</p>



<p>Vua đáp: “Như người chưa có bệnh, không thể cho thuốc. Đợi khi có bệnh, chọn thuốc mà cho.”</p>



<p>Na-tiên nói: “Đức Phật cũng như vậy. Tuy ngài biết đủ các việc trong&nbsp;quá khứ,&nbsp;hiện tại&nbsp;và tương lai, nhưng không thể trong một lúc dạy hết cho người trong&nbsp;thiên hạ. Phải chọn&nbsp;đúng lúc, đúng người mà&nbsp;tuần tự&nbsp;dạy dỗ&nbsp;kinh điển,&nbsp;giới luật, khiến cho có thể nhận lãnh mà vâng làm theo.”</p>



<p>Vua&nbsp;tán thán: “Hay thay!”</p>



<p><strong>6. THUYỀN CHỞ ĐÁ</strong></p>



<p>Vua lại hỏi: “Sa-môn các ngài dạy rằng: Người ta dù làm đủ các điều ác,&nbsp;cho đến&nbsp;khi trăm tuổi, lúc sắp chết quay lại&nbsp;niệm Phật. Như vậy&nbsp;sau khi chết&nbsp;liền được sanh lên&nbsp;cõi trời. Trẫm không tin điều ấy.</p>



<p>“Lại còn nói rằng: Chỉ cần giết hại một sanh mạng, khi chết phải đọa vào&nbsp;địa ngục. Trẫm lại càng không thể tin được!”</p>



<p>Na-tiên hỏi vua: “Này&nbsp;đại vương, như có người cầm hòn đá nhỏ ném xuống mặt nước. Đá ấy nổi hay chìm?”</p>



<p>Vua đáp: “Tất nhiên là chìm.”</p>



<p>Na-tiên lại hỏi: “Như có người lấy cả trăm hòn đá to mà xếp lên thuyền lớn, thuyền ấy có chìm không?”</p>



<p>Vua đáp: “Không chìm.”</p>



<p>Na-tiên nói: “Hàng trăm hòn đá to nhờ có chiếc thuyền nên không bị chìm. Người ta cũng vậy, tuy có làm các điều ác, nhưng nhờ biết&nbsp;hồi tâm&nbsp;niệm Phật, nên không bị đọa vào&nbsp;địa ngục.&nbsp;Sau khi chết&nbsp;được sanh lên&nbsp;cõi trời.&nbsp;</p>



<p>“Chỉ một hòn đá nhỏ rơi xuống nước tất phải chìm, cũng như người làm việc ác nhưng không được học biết kinh Phật.&nbsp;Sau khi chết&nbsp;nhất định&nbsp;phải đọa vào&nbsp;địa ngục.”</p>



<p>Vua&nbsp;tán thán: “Hay thay!”</p>



<p><strong>7. VÌ SAO PHẢI LO&nbsp;TU HÀNH</strong></p>



<p>Vua lại hỏi: “Sa-môn các ngài vì sao phải&nbsp;xuất gia&nbsp;lo việc&nbsp;tu hành, học đạo?”</p>



<p>Na-tiên đáp: “Chúng tôi vì thấy những sự&nbsp;khổ não&nbsp;trong&nbsp;quá khứ, trong&nbsp;hiện tại, biết là sẽ khổ trong tương lai, nên muốn dứt sạch các nỗi khổ đó, không muốn phải thọ nhận&nbsp;trở lại&nbsp;nữa.&nbsp;Vì vậy&nbsp;mà&nbsp;xuất gia&nbsp;tu hành&nbsp;học đạo.”</p>



<p>Vua lại hỏi: “Việc&nbsp;khổ não&nbsp;mà ngài nói đó là thuộc&nbsp;đời sau, vì sao đời này lại phải lo tu?”</p>



<p>Na-tiên hỏi: “Này&nbsp;đại vương, ngài có những&nbsp;kẻ thù&nbsp;địch nào thường muốn chờ dịp đến đánh phá chăng?”</p>



<p>Vua đáp: “Tất nhiên là có. Những nước đối nghịch với trẫm thường luôn chờ dịp&nbsp;thuận tiện&nbsp;để đem quân đánh phá.”</p>



<p>Na-tiên hỏi: “Vậy&nbsp;đại vương&nbsp;đợi quân địch đến, rồi mới lo chuẩn bị việc chống cự, hay phải lo&nbsp;dự phòng&nbsp;mọi việc&nbsp;từ trước?”</p>



<p>Vua đáp: “Phải lo&nbsp;dự phòng, chuẩn bị chờ sẵn.”</p>



<p>Na-tiên hỏi: “Vì sao phải lo&nbsp;dự phòng, chuẩn bị chờ sẵn?”</p>



<p>Vua đáp: “Vì không thể biết quân địch sẽ đến lúc nào.”</p>



<p>Na-tiên lại hỏi: “Này&nbsp;đại vương, có thể đợi khi đói mới đi cày ruộng, gieo giống; lúc khát mới đi đào giếng chăng?”</p>



<p>Vua đáp: “Không. Đều phải&nbsp;dự phòng, lo tính từ trước.”</p>



<p>Na-tiên nói: “Quân địch còn chưa đến, sao phải lo chuẩn bị? Chưa đến lúc&nbsp;đói khát, sao phải lo dự phòng?”</p>



<p>Vua&nbsp;tán thán: “Hay thay!”</p>



<p><strong>8. SỰ&nbsp;HÓA HIỆN&nbsp;CỦA&nbsp;TÂM THỨC</strong></p>



<p>Vua lại hỏi: “Bạch&nbsp;đại đức, như cõi&nbsp;Phạm thiên&nbsp;cách đây bao xa?”</p>



<p>Na-tiên đáp: “Rất xa.&nbsp;Giả như&nbsp;có khối đá lớn bằng cung điện của&nbsp;đại vương, từ&nbsp;cõi trời&nbsp;Phạm thiên&nbsp;mà rơi xuống, tảng đá ấy phải rơi trong sáu tháng mới đến được đây.”</p>



<p>Vua hỏi: “Sa-môn các ngài có dạy rằng: Người&nbsp;đắc quả&nbsp;A-la-hán, chỉ cần&nbsp;trong khoảng&nbsp;thời gian&nbsp;như người ta co duỗi cánh tay, có thể bay lên đến cõi&nbsp;Phạm thiên. Trẫm không tin điều ấy.&nbsp;Vượt qua&nbsp;đường dài cả ngàn vạn dặm, làm sao có thể nhanh như thế?”</p>



<p>Na-tiên hỏi vua: “Đại vương sanh ở xứ nào?”</p>



<p>Vua đáp: “Trẫm sanh ở xứ A-lệ-tán, nước&nbsp;Đại Tần.”</p>



<p>Na-tiên hỏi: “Từ xứ A-lệ-tán đến đây khoảng bao xa?”</p>



<p>Vua đáp: “Khoảng tám mươi ngàn dặm.”</p>



<p>Na-tiên hỏi: “Đại vương có bao giờ nhớ&nbsp;nghĩ lại&nbsp;những việc ở xứ ấy chăng?”</p>



<p>Vua đáp: “Có, trẫm vẫn thường nghĩ nhớ về những việc trước đây ở nơi ấy.”</p>



<p>Na-tiên nói: “Bây giờ&nbsp;đại vương&nbsp;thử nghĩ đến một việc gì đã làm ở xứ ấy được chăng?”</p>



<p>Vua đáp: “Được, trẫm đã nghĩ rồi.”</p>



<p>Na-tiên hỏi: “Đại vương đi về quãng đường tám mươi ngàn dặm sao nhanh vậy?”</p>



<p>Vua&nbsp;tán thán: “Hay thay!”</p>



<p>° ° °</p>



<p>Vua lại hỏi: “Bạch&nbsp;đại đức, như có hai người cùng chết một lúc. Một người sanh lên cõi&nbsp;Phạm thiên, một người sanh về xứ&nbsp;Kế Tân, cách đây 2.700 dặm. Trong hai người, ai sẽ đến trước?”</p>



<p>Na-tiên đáp: “Cùng đến một lúc.”</p>



<p>Vua hỏi: “Đường&nbsp;xa gần&nbsp;khác nhau nhiều lắm, sao lại đến nơi cùng lúc?”</p>



<p>Na-tiên bảo vua: “Đại vương thử nghĩ đến xứ A-lệ-tán được chăng?”</p>



<p>Vua đáp: “Trẫm đã nghĩ đến rồi.”</p>



<p>Na-tiên lại bảo: “Bây giờ nghĩ đến xứ&nbsp;Kế Tân&nbsp;được chăng?”</p>



<p>Vua lại đáp: “Trẫm đã nghĩ rồi.”</p>



<p>Na-tiên hỏi: “Đại vương nghĩ đến hai xứ ấy, nhanh chậm thế nào?”</p>



<p>Vua đáp: “Đều như nhau.”</p>



<p>Na-tiên nói: “Như hai người cùng chết một lúc. Một người sanh lên cõi&nbsp;Phạm thiên, một người sanh về xứ&nbsp;Kế Tân, cũng đều giống nhau như thế.”</p>



<p>Na-tiên lại hỏi vua: “Như có hai con chim đang bay, một con đậu xuống cây&nbsp;đại thọ&nbsp;cao lớn.&nbsp;Cùng lúc&nbsp;ấy, con chim kia đậu xuống một cây cành lá nhỏ bé. Hai con chim cùng đậu xuống, bóng con chim nào in&nbsp;lên mặt&nbsp;đất trước?”</p>



<p>Vua đáp: “Đều&nbsp;cùng lúc&nbsp;như nhau.”</p>



<p>Na-tiên nói: “Như hai người cùng chết một lúc. Một người sanh lên cõi&nbsp;Phạm thiên, một người sanh về xứ&nbsp;Kế Tân, cũng đều đến&nbsp;cùng lúc&nbsp;như nhau vậy.”</p>



<p>Vua&nbsp;tán thán: “Hay thay!”</p>



<p><strong>9.&nbsp;NHÂN DUYÊN&nbsp;HIỂU ĐẠO</strong></p>



<p>Vua lại hỏi Na-tiên: “Bạch&nbsp;đại đức, người ta nhờ vào những việc gì để có thể học hiểu đạo.”</p>



<p>Na-tiên đáp: “Nhờ vào bảy việc để có thể học hiểu đạo. Những gì là bảy việc? Một là nghĩ nhớ các điều thiện, ác. Hai là&nbsp;nỗ lực&nbsp;tinh tấn. Ba là vui với&nbsp;chánh đạo. Bốn là&nbsp;điều phục&nbsp;tâm ý làm theo điều lành. Năm là luôn nghĩ nhớ đến&nbsp;chánh đạo. Sáu là&nbsp;nhất tâm. Bảy là gặp việc không sanh lòng&nbsp;ưa thích&nbsp;hoặc ghét bỏ.”</p>



<p>Vua hỏi: “Người ta phải dùng đến cả bảy việc ấy mà học hiểu đạo sao?”</p>



<p>Na-tiên đáp: “Không&nbsp;cần phải&nbsp;dùng cả bảy việc ấy mới có thể học hiểu đạo. Như người có trí, dùng trí để&nbsp;phân biệt&nbsp;các&nbsp;việc thiện&nbsp;ác, ấy là chỉ&nbsp;cần dùng&nbsp;một việc mà&nbsp;phân biệt&nbsp;được vậy.”</p>



<p>Vua lại hỏi: “Như nói chỉ&nbsp;cần dùng&nbsp;một việc có thể biết như vậy, vì sao phải thuyết dạy đến bảy việc?”</p>



<p>Na-tiên hỏi: “Như người để con dao trong bao da, đứng&nbsp;dựa vào&nbsp;tường, dao ấy có tự cắt được vật gì chăng?”</p>



<p>Vua đáp: “Không.”</p>



<p>Na-tiên nói: “Tâm người cũng vậy, dù đã&nbsp;sáng tỏ, hiểu đạo, cũng phải nhờ&nbsp;thực hành&nbsp;đủ các việc khác mới có thể cắt đứt&nbsp;phiền não&nbsp;ái dục,&nbsp;thành tựu&nbsp;đạo&nbsp;giải thoát&nbsp;được.”</p>



<p>Vua&nbsp;tán thán: “Hay thay!”</p>



<p><strong>10.&nbsp;THIỆN ÁC&nbsp;VÀ TỘI PHƯỚC</strong></p>



<p>Vua lại hỏi: “Bạch&nbsp;đại đức, như người làm điều thiện nhỏ có thể được phước lớn chăng? Làm điều ác lớn có phải bao giờ cũng chịu họa lớn chăng?”</p>



<p>Na-tiên đáp: “Người làm điều thiện nhỏ có thể được phước lớn. Người làm điều ác lớn có thể chỉ chịu họa nhỏ. Đó là khi người làm điều ác ngày đêm&nbsp;hối lỗi, thì điều ác ấy cũng ngày đêm vơi bớt mà nhỏ đi. Người làm điều thiện ngày đêm nghĩ đến đều thấy&nbsp;hoan hỷ&nbsp;vui mừng, nên được phước rất lớn.</p>



<p>“Như lúc Phật còn&nbsp;tại thế, có người bị cụt tay chân,&nbsp;thành tâm&nbsp;dâng cúng cho Phật chỉ một cành&nbsp;hoa sen. Khi ấy Phật dạy chư tỳ-kheo rằng: ‘Người cụt tay chân này, từ nay về sau&nbsp;trải qua&nbsp;chín mươi mốt kiếp không bị đọa vào các đường dữ là&nbsp;địa ngục,&nbsp;súc sanh,&nbsp;ngạ quỷ, được sanh lên&nbsp;cõi trời. Sau khi mãn phước ở&nbsp;cõi trời&nbsp;rồi, được sanh&nbsp;trở lại&nbsp;làm người.’&nbsp;</p>



<p>“Do chuyện ấy,&nbsp;bần tăng&nbsp;biết là người làm điều thiện nhỏ có thể được phước lớn.”</p>



<p>Vua&nbsp;tán thán: “Hay thay!”</p>



<p>° ° °</p>



<p>Vua lại hỏi: “Bạch&nbsp;đại đức, như người trí làm ác và người ngu làm ác, người nào chịu họa lớn hơn?”</p>



<p>Na-tiên đáp: “Người ngu chịu họa lớn, người trí chịu họa nhỏ.”</p>



<p>Vua nói: “Không thể như lời&nbsp;đại đức&nbsp;nói được. Như theo phép trị nước của trẫm thì quan lớn có lỗi xem là tội nặng, người dân không biết mắc lỗi thì xem là&nbsp;tội nhẹ. Cứ như lý ấy mà xét, thì người trí làm ác phải chịu họa lớn, kẻ ngu làm ác phải chịu họa nhỏ vậy.”</p>



<p>Na-tiên hỏi: “Ví như có hòn sắt đốt nóng bỏ xuống đất. Có hai người, một người biết đó là hòn sắt nóng, một người không biết. Hai người đều buộc phải nắm lấy hòn sắt ấy, vậy người nào bị bỏng nặng hơn?”</p>



<p>Vua nói: “Người không biết phải bị bỏng nặng hơn.”</p>



<p>Na-tiên nói: “Cũng như vậy đó. Người ngu làm việc ác không biết để&nbsp;hối lỗi, nên thế nào cũng sẽ mắc họa lớn. Người trí như có lỡ làm việc ác, liền biết đó là việc không nên làm, ngày ngày thường&nbsp;hối lỗi,&nbsp;vì vậy&nbsp;mà sẽ mắc họa nhỏ thôi.”</p>



<p>Vua&nbsp;tán thán: “Hay thay!”</p>



<p><strong>11. NGƯỜI&nbsp;ĐẮC ĐẠO&nbsp;VÀ CÁC VIỆC LẠ</strong></p>



<p>Vua lại hỏi: “Người ta có thể nào dùng&nbsp;thân thể&nbsp;này mà bay trên&nbsp;hư không, lên đến cõi&nbsp;Phạm thiên, hoặc xuống thấp tận cõi Uất-đan-việt, hay là đến những nơi theo&nbsp;ý muốn&nbsp;được chăng?”</p>



<p>Na-tiên đáp: “Có thể được.”</p>



<p>Vua hỏi: “Làm sao có thể được như vậy?”</p>



<p>Na-tiên hỏi vua: “Đại vương nhớ lại lúc&nbsp;thiếu thời, có lúc nào chơi đùa nhảy cao khỏi mặt đất chừng một trượng chăng?”</p>



<p>Vua đáp: “Có. Khi chơi đùa, có lúc trẫm nhảy cao đến hơn một trượng.”</p>



<p>Na-tiên nói: “Người&nbsp;đắc đạo&nbsp;rồi, như trong&nbsp;ý muốn&nbsp;nhảy lên đến cõi&nbsp;Phạm thiên, hoặc xuống cõi Uất-đan-việt, cũng chỉ giống như vậy thôi.”</p>



<p>Vua&nbsp;tán thán: “Hay thay!”</p>



<p>° ° °</p>



<p>Vua lại hỏi: “Sa-môn các vị dạy rằng: Có lóng xương dài đến bốn ngàn dặm. Làm sao lại có lóng xương dài đến như thế?”</p>



<p>Na-tiên hỏi: “Đại vương có nghe nói ngoài biển lớn có giống cá gọi là cá chất, thân nó dài đến hai mươi tám ngàn dặm hay chăng?”</p>



<p>Vua đáp: “Đúng là có như vậy, trẫm đã từng nghe nói.”</p>



<p>Na-tiên nói: “Như con cá ấy, thân dài hai mươi tám ngàn dặm, vậy lóng xương hông chỉ dài bốn ngàn dặm, sao&nbsp;đại vương&nbsp;lại lấy làm lạ?”</p>



<p><strong>12. NGƯNG&nbsp;HƠI THỞ</strong></p>



<p>Vua hỏi: “Sa-môn các vị dạy rằng: Người&nbsp;tu hành&nbsp;có thể đoạn dứt cả&nbsp;hơi thở. Làm thế nào có thể đoạn dứt được hơi thở?”</p>



<p>Na-tiên hỏi: “Này&nbsp;đại vương,&nbsp;đại vương&nbsp;có từng nghe nói người có&nbsp;ý chí&nbsp;chăng?”</p>



<p>Vua đáp: “Trẫm có nghe.”</p>



<p>Na-tiên hỏi: “Vậy&nbsp;đại vương&nbsp;có nghĩ là&nbsp;ý chí&nbsp;ấy ở trong thân người chăng?”</p>



<p>Vua đáp: “Theo trẫm nghĩ thì đúng là&nbsp;ý chí&nbsp;ấy ở trong thân người.”</p>



<p>Na-tiên nói: “Này&nbsp;đại vương, như&nbsp;đại vương&nbsp;nói đó là đối với những người&nbsp;ngu si&nbsp;vô trí, không&nbsp;thể chế&nbsp;phục được thân và miệng, không thể&nbsp;thọ trì&nbsp;và làm theo&nbsp;kinh điển,&nbsp;giới luật&nbsp;của Phật. Những người như vậy,&nbsp;thân thể&nbsp;họ cũng không&nbsp;thể đạt&nbsp;đến sự an vui.</p>



<p>“Còn như người&nbsp;học đạo&nbsp;tu hành, có&nbsp;thể chế&nbsp;phục được thân và miệng, có thể&nbsp;thọ trì&nbsp;và làm theo&nbsp;kinh điển,&nbsp;giới luật&nbsp;của Phật, nên có&nbsp;thể đạt&nbsp;đến&nbsp;nhất tâm,&nbsp;chứng đắc&nbsp;tứ thiền, khi ấy có&nbsp;thể không&nbsp;cần phải&nbsp;giữ&nbsp;hơi thở&nbsp;như người thường.”</p>



<p>Vua&nbsp;tán thán: “Hay thay!”&nbsp;</p>



<p><strong>13.&nbsp;TRÍ TUỆ&nbsp;CỦA NGƯỜI&nbsp;ĐẮC ĐẠO</strong></p>



<p>Vua hỏi: “Bạch&nbsp;đại đức, như người ta gọi tên biển, vì sao gọi như vậy?&nbsp;Hoặc giả&nbsp;gọi nước là biển chăng? Hoặc do điều gì mà gọi tên là biển?”</p>



<p>Na-tiên đáp: “Gọi tên là biển, bởi vì trong nước biển có một nửa phần là muối.”</p>



<p>Vua lại hỏi: “Bạch&nbsp;đại đức, như người sau khi đã&nbsp;đắc đạo, có thể&nbsp;suy xét&nbsp;thấu đáo những việc&nbsp;huyền vi&nbsp;sâu xa&nbsp;hay chăng?”</p>



<p>Na-tiên đáp: “Tất nhiên là vậy. Người sau khi&nbsp;đắc đạo&nbsp;rồi có thể&nbsp;suy xét&nbsp;thấu đáo những việc&nbsp;huyền vi&nbsp;sâu xa. Như&nbsp;kinh điển&nbsp;của Phật truyền dạy chính là những việc&nbsp;huyền vi&nbsp;sâu xa&nbsp;nhất, không thể&nbsp;ước lượng&nbsp;hết, nhưng lấy cái trí của người sau khi&nbsp;đắc đạo&nbsp;thì đều có thể hiểu thấu được.”&nbsp;</p>



<p>Vua&nbsp;tán thán&nbsp;rằng: “Hay thay!”</p>



<p>Vua lại hỏi: “Bạch&nbsp;đại đức, như giữa thức, trí và tánh, ba điều ấy có giống nhau hay chăng? Hay khác biệt nhau?”</p>



<p>Na-tiên đáp: “Thức lấy sự&nbsp;nhận biết&nbsp;làm chính, trí có thể hiểu được đạo, còn tánh thì như&nbsp;hư không. Ba điều ấy không phải là&nbsp;bản ngã.”&nbsp;</p>



<p>Vua hỏi: “Vậy phải do đâu mà nhận được bản ngã? Mắt thấy&nbsp;hình sắc, tai nghe&nbsp;âm thanh, mũi ngửi hương, lưỡi biết vị, thân biết&nbsp;phân biệt&nbsp;mềm mại hay thô nhám, ý biết&nbsp;phân biệt&nbsp;các&nbsp;việc thiện&nbsp;ác. Trong những điều ấy nên nhận đâu là bản ngã?”</p>



<p>Na-tiên hỏi vua: “Như nói&nbsp;bản ngã&nbsp;ở trong thân, qua con mắt mà nhìn ra cảnh vật, vậy khoét bỏ con mắt đi, có thể nhìn thấy&nbsp;xa hơn&nbsp;chăng? Khoét rộng tai ra, có&nbsp;nghe được&nbsp;xa hơn&nbsp;chăng? Khoét mũi rộng ra, có thể ngửi được nhiều mùi hương hơn chăng? Mở miệng rộng hơn, có biết được nhiều vị hơn chăng? Cắt lột da ra, có&nbsp;nhận biết&nbsp;xúc chạm nhiều hơn chăng?&nbsp;Diệt bỏ&nbsp;ý chí, có làm cho&nbsp;tư tưởng&nbsp;mạnh mẽ hơn chăng?”</p>



<p>Vua đáp: “Đều không phải.”</p>



<p>Na-tiên nói: “Này đại vương!&nbsp;Đại vương&nbsp;nên biết rằng, việc Phật đã làm được là rất khó. Chỗ&nbsp;hiểu biết&nbsp;của Phật là rất&nbsp;thâm sâu,&nbsp;vi diệu.</p>



<p>“Lời Phật nói có thể thấu trong lòng người, mắt nhìn thấy sự việc đều có thể&nbsp;giải thích&nbsp;rõ. Chẳng những giải được những việc mắt thấy, cả những việc tai nghe, mũi ngửi, lưỡi nếm, thân chạm, đều có thể giải rõ. Ngài cũng có thể giải rõ các việc&nbsp;thành bại, trừ được các mối nghi, giải rõ các&nbsp;ý nghĩ, giải rõ cả những việc&nbsp;thần bí.</p>



<p>“Này đại vương! Như người ta ngậm một ngụm nước biển vào miệng, có thể&nbsp;phân biệt&nbsp;được trong ấy là bao nhiêu phần nước suối, hoặc nước của sông này, sông kia&#8230; đã chảy ra biển hay chăng?”</p>



<p>Vua nói: “Các dòng nước đều đã hợp nhất, không thể&nbsp;phân biệt&nbsp;được.”</p>



<p>Na-tiên nói: “Việc mà Phật làm được cũng khó khăn như&nbsp;phân biệt&nbsp;các vị nước khác nhau trong nước biển vậy. Nay việc nước biển là việc&nbsp;trước mắt&nbsp;mà&nbsp;đại vương&nbsp;còn không thể&nbsp;phân biệt&nbsp;biết rõ, huống chi&nbsp;thần thức&nbsp;không thể biết được trong&nbsp;thân thể, vốn có sáu việc không thể thấy?</p>



<p>“Sáu việc ấy,&nbsp;đức Phật&nbsp;đều đã giảng rõ là:&nbsp;từ tâm&nbsp;niệm đến chỗ mắt thấy,&nbsp;từ tâm&nbsp;niệm đến chỗ tai nghe,&nbsp;từ tâm&nbsp;niệm đến chỗ mũi ngửi,&nbsp;từ tâm&nbsp;niệm đến chỗ lưỡi nếm,&nbsp;từ tâm&nbsp;niệm đến chỗ thân xúc chạm&nbsp;phân biệt&nbsp;các sự khổ, vui, lạnh, nóng, thô, cứng.&nbsp;</p>



<p>“Tùy chỗ&nbsp;tâm niệm&nbsp;hướng đến, Phật đều có thể&nbsp;phân biệt&nbsp;giải rõ.”</p>



<p>Vua&nbsp;tán thán: “Hay thay! Hay thay!”</p>



<p><strong>IV.&nbsp;ĐOẠN KẾT</strong></p>



<p>Khi ấy,&nbsp;đại đức&nbsp;Na-tiên nói: “Đã quá nửa đêm rồi,&nbsp;bần tăng&nbsp;xin được cáo lui.”</p>



<p>Vua&nbsp;lập tức&nbsp;sai các quan cận thần lấy bốn tấm vải cuộn lại, tẩm dầu vào và đốt lên thành đuốc để đưa&nbsp;đại đức&nbsp;Na-tiên về. Vua bảo các cận thần rằng: “Các ngươi phải hầu hạ&nbsp;đại đức&nbsp;giống như hầu hạ trẫm.”</p>



<p>Các quan đều tuân mệnh.</p>



<p>Vua lại nói: “Nếu được bậc thầy như&nbsp;đại đức&nbsp;Na-tiên đây, lại được người&nbsp;đệ tử&nbsp;như ta, thì&nbsp;đạo pháp&nbsp;có thể nhanh chóng&nbsp;đạt đến&nbsp;vậy.”</p>



<p>Những điều vua hỏi đều được Na-tiên&nbsp;trả lời&nbsp;cặn kẽ, nên vua&nbsp;hết sức&nbsp;hoan hỷ,&nbsp;vui mừng.</p>



<p>Vua sai xuất kho&nbsp;lấy ra&nbsp;một tấm áo&nbsp;giá trị&nbsp;đến mười vạn quan tiền để dâng cúng cho&nbsp;đại đức&nbsp;Na-tiên. Vua lại nói: “Từ nay về sau, nguyện&nbsp;đại đức&nbsp;cùng với tám mươi vị sa-môn ngày ngày thọ nhận sự&nbsp;cúng dường&nbsp;của trẫm, từ sự&nbsp;ăn uống&nbsp;cho đến&nbsp;bất cứ những món gì mà các vị cần đến. Trẫm xin được&nbsp;cung cấp&nbsp;tất cả.”</p>



<p>Na-tiên nói: “Đại vương!&nbsp;Chúng tôi&nbsp;đều là những kẻ&nbsp;tu hành, không có&nbsp;tham muốn&nbsp;gì cả.”</p>



<p>Vua nói: “Tuy vậy,&nbsp;đại đức&nbsp;cũng nên tự giữ mình và&nbsp;giữ gìn&nbsp;giúp cho trẫm nữa.”&nbsp;</p>



<p>Na-tiên hỏi: “Thế nào là tự giữ mình, và&nbsp;giữ gìn&nbsp;cho đại vương?”</p>



<p>Vua nói: “Như&nbsp;đại đức&nbsp;không nhận sự&nbsp;cúng dường&nbsp;của trẫm, người đời sẽ&nbsp;bàn tán, dị nghị.&nbsp;</p>



<p>“Hoặc cho rằng trẫm&nbsp;tham tiếc, keo lận.&nbsp;Đại đức&nbsp;đã vì trẫm&nbsp;giải đáp&nbsp;hết thảy các điều&nbsp;nghi vấn, mà lại không có gì&nbsp;ban thưởng.&nbsp;</p>



<p>“Hoặc cũng có thể nói rằng:&nbsp;Đại đức&nbsp;Na-tiên&nbsp;không giải&nbsp;đáp được những điều&nbsp;hoài nghi&nbsp;của vua, nên không được&nbsp;ban thưởng.</p>



<p>“Như&nbsp;đại đức&nbsp;thọ nhận, sẽ giúp cho trẫm đây được phần&nbsp;phước đức, mà&nbsp;đại đức&nbsp;cũng giữ được&nbsp;danh thơm.”</p>



<p>Vua lại nói: “Bạch&nbsp;đại đức, như con&nbsp;sư tử&nbsp;bị nhốt ở trong lồng bằng vàng, trong lòng vẫn thường mong muốn được&nbsp;tự do. Trẫm ngày nay tuy làm vị&nbsp;quốc vương, ở trong cung điện này, nhưng lòng thật chẳng được vui, chỉ mong muốn được&nbsp;lìa bỏ&nbsp;việc nước để&nbsp;xuất gia&nbsp;học đạo.”</p>



<p>Vua nói xong, Na-tiên từ biệt&nbsp;trở về&nbsp;chùa.</p>



<p>° ° °</p>



<p>Na-tiên ra về rồi, vua&nbsp;một mình&nbsp;tự nghĩ: “Trẫm đã hỏi&nbsp;đại đức&nbsp;Na-tiên những việc gì? Na-tiên đã vì trẫm&nbsp;giảng giải&nbsp;những việc gì?”</p>



<p>Rồi vua tự nghĩ rằng: “Những gì trẫm đã hỏi, Na-tiên đã&nbsp;giải đáp&nbsp;hết, không còn việc gì nữa!”&nbsp;</p>



<p>Đại đức&nbsp;Na-tiên về đến chùa cũng tự nghĩ rằng: “Nhà vua đã hỏi ta những việc gì? Ta đã&nbsp;giải đáp&nbsp;cho vua những việc gì?”</p>



<p>Rồi ngài tự nghĩ: “Những gì vua đã hỏi, ta đều đã&nbsp;giải đáp&nbsp;hết rồi!”</p>



<p>Hai người đều&nbsp;suy nghĩ&nbsp;như vậy&nbsp;cho đến&nbsp;khi trời sáng.</p>



<p>Sáng hôm sau,&nbsp;đại đức&nbsp;Na-tiên&nbsp;đắp y&nbsp;mang bát đến cung vua, vào thẳng trong điện mà ngồi. Vua liền đến trước ngài làm lễ, rồi cũng ngồi xuống một bên.</p>



<p>Vua thưa với&nbsp;đại đức&nbsp;Na-tiên rằng: “Bạch&nbsp;đại đức, đêm hôm qua khi&nbsp;đại đức&nbsp;ra về rồi, trẫm&nbsp;một mình&nbsp;tự&nbsp;suy nghĩ&nbsp;về những việc đã hỏi&nbsp;đại đức, thấy rằng hết thảy&nbsp;mọi việc&nbsp;đều đã được&nbsp;giải thích&nbsp;rõ ràng. Trẫm nghĩ như vậy rồi, trong lòng rất&nbsp;hoan hỷ, nằm yên không ngủ&nbsp;cho đến&nbsp;sáng.”</p>



<p>Na-tiên nói: “Này&nbsp;đại vương, đêm hôm qua khi&nbsp;bần tăng&nbsp;về đến chùa rồi, cũng&nbsp;suy nghĩ&nbsp;lại những điều&nbsp;đại vương&nbsp;đã hỏi, thấy rằng&nbsp;mọi việc&nbsp;đều đã được&nbsp;giải thích&nbsp;rõ ràng.&nbsp;Bần tăng&nbsp;nghĩ như vậy rồi, trong lòng rất&nbsp;hoan hỷ, nằm yên không ngủ&nbsp;cho đến&nbsp;sáng.”</p>



<p>Nói xong, Na-tiên&nbsp;cáo từ&nbsp;ra về. Vua&nbsp;đứng dậy&nbsp;làm lễ&nbsp;tiễn chân.</p>
]]></content:encoded>
					
		
		
			</item>
		<item>
		<title>PHẬT NÓI KINH DIÊN MỆNH ĐỊA TẠNG BỒ TÁT</title>
		<link>https://phatgiaovinhphuc.vn/2024/11/06/phat-noi-kinh-dien-menh-dia-tang-bo-tat/</link>
		
		<dc:creator><![CDATA[trast1]]></dc:creator>
		<pubDate>Wed, 06 Nov 2024 13:50:37 +0000</pubDate>
				<category><![CDATA[Kinh tạng]]></category>
		<guid isPermaLink="false">https://phatgiaovinhphuc.vn/?p=2487</guid>

					<description><![CDATA[PHẬT NÓI KINH DIÊN MỆNH&#160;ĐỊA TẠNG BỒ TÁT Hán dịch: Không rõ tên người dịch [PN: Ngài Bất-Không Tam-Tạng phụng chiếu dịch] Việt dịch: HUYỀN THANH Như vậy tôi nghe. Một thời,&#160;Đức Phật&#160;[Shakyamuni] ngự tại núi&#160;Khư Đà La&#160;(Khadiraka: còn dịch là Già-La-Đà) cùng với chúng Đại Tỳ Khưu gồm một vạn hai ngàn người đến [...]]]></description>
										<content:encoded><![CDATA[


<p><strong>PHẬT NÓI KINH DIÊN MỆNH&nbsp;ĐỊA TẠNG BỒ TÁT</strong></p>



<p>Hán dịch: Không rõ tên người dịch</p>



[PN: Ngài Bất-Không Tam-Tạng phụng chiếu dịch]



<p>Việt dịch: HUYỀN THANH</p>



<p>Như vậy tôi nghe. Một thời,&nbsp;Đức Phật&nbsp;[Shakyamuni] ngự tại núi&nbsp;Khư Đà La&nbsp;(Khadiraka: còn dịch là Già-La-Đà) cùng với chúng Đại Tỳ Khưu gồm một vạn hai ngàn người đến dự.&nbsp;Bồ Tát&nbsp;gồm có&nbsp;ba vạn sáu ngàn người đến dự. Tất cả&nbsp;chư Thiên&nbsp;(Deva) với hàng Rồng (Nāga),&nbsp;Dạ Xoa&nbsp;(Yakṣa), Người (Manuṣya),&nbsp;Phi Nhân&nbsp;(Amanuṣya)…các hàng&nbsp;Luân Vương&nbsp;(cakra- varti-rājan:&nbsp;Chuyển Luân Vương),&nbsp;Kim Luân, Ngân Luân từ&nbsp;mười phương&nbsp;đi đến</p>



<p>Bấy giờ,&nbsp;Đức Thế Tôn&nbsp;nói Hạnh&nbsp;Vô Y&nbsp;[(anālambya: không có dính mắc, không có chỗ nương dựa)] của&nbsp;Đại Thừa&nbsp;đó xong.</p>



<p>Thời có vị&nbsp;Đế Thích&nbsp;(Indra) tên là&nbsp;<strong>Vô Cấu&nbsp;Sinh</strong>&nbsp;(Vimala-saṃbhava)&nbsp;bạch Phật&nbsp;rằng: “Con muốn hộ giúp cho đời. Nếu sau khi&nbsp;Đức Phật&nbsp;diệt độ, làm thế nào để nhổ bứt cứu giúp cho&nbsp;chúng sinh&nbsp;trong thời Mạt Pháp?”</p>



<p>Đức Phật&nbsp;bảo&nbsp;Đế Thích: “Có một vị&nbsp;Bồ Tát&nbsp;tên là Diên/Duyên Mệnh&nbsp;Địa Tạng Bồ Tát&nbsp;[Janitam Ksitigarbha Bodhisattva]. Mỗi ngày, vào buổi sáng sớm nhập vào các Định (Samādhi) dạo chơi&nbsp;hóa độ&nbsp;rồi đi&nbsp;giáo hóa&nbsp;các nẻo, nhổ bứt nỗi khổ,&nbsp;ban cho&nbsp;niềm vui. Nếu bị rơi lại trong ba đường [ác], đối với&nbsp;Bồ Tát&nbsp;này mà&nbsp;<strong>nhìn thấy hình thể, nghe&nbsp;được tên gọi, thì sẽ&nbsp;sinh vào&nbsp;cõi Người, Trời hoặc sinh về&nbsp;Tịnh Thổ</strong>. Người ở trong ba đường lành, nghe tên vị ấy sẽ được&nbsp;quả báo&nbsp;ngay&nbsp;trong đời&nbsp;này,&nbsp;đời sau&nbsp;sinh về&nbsp;cõi Phật. Huống chi là nhớ nghĩ, tâm mắt Tâm-nhãn được mở,&nbsp;quyết định&nbsp;thành tựu.</p>



<p><strong>Cũng với&nbsp;Bồ Tát&nbsp;đó sẽ được mười loại Phước</strong></p>



<ol start="1" class="wp-block-list">
<li>Người nữ sinh đẻ thuận lợi</li>



<li>Đầy đủ thân căn</li>



<li>Đều trừ hết mọi bệnh</li>



<li>Thọ mệnh lâu dài</li>



<li>Thông minh Trí Tuệ</li>



<li>Tài bảo dư thừa</li>



<li>Mọi người kính yêu</li>



<li>Lúa gạo được mùa</li>



<li>Thần Minh gia hộ</li>



<li>Chứng Đại Bồ Đề</li>
</ol>



<p><strong>Cũng&nbsp;trừ diệt&nbsp;tám sự&nbsp;sợ hãi&nbsp;lớn</strong></p>



<ol start="1" class="wp-block-list">
<li>Gió mưa tùy theo thời</li>



<li>Nước khác chẳng khởi binh</li>



<li>Nước của mình chẳng có kẻ làm phản</li>



<li>Mặt Trời Mặt Trăng chẳng bị ăn nuốt (tức là không có hiện tượng Nhật Thực, Nguyệt Thực)</li>



<li>Tinh Tú chẳng biến đổi sai với lẽ thường</li>



<li>Quỷ Thần chẳng đi đến</li>



<li>Đói khát chẳng hưng khởi</li>



<li>Người dân không có bệnh</li>
</ol>



<p>Đức Phật&nbsp;bảo&nbsp;Đế Thích: “Ở đời&nbsp;vị lai, nếu có&nbsp;chúng sinh&nbsp;thọ trì&nbsp;Kinh này,&nbsp;cung kính,&nbsp;cúng dường&nbsp;vị&nbsp;Bồ Tát&nbsp;đó thì bên trong một trăm&nbsp;do tuần&nbsp;không có các tai vạ, mộng ác, tướng ác, các điều chẳng&nbsp;tốt lành.</p>



<p>Hàng Võng Lượng,&nbsp;Quỷ Thần,&nbsp;Cưu Bàn Đồ&nbsp;vĩnh viễn&nbsp;chẳng được dịp&nbsp;thuận tiện&nbsp;để hãm hại;&nbsp;Thiên Cẩu,&nbsp;Thổ Công, Đại Tuế&nbsp;Thần Cung, Sơn Thần, Mộc Thần, Giang Hải Thần,&nbsp;Thủy Thần,&nbsp;Hỏa Thần, Cầm Ngạ Thần, Trủng Thần, Xà Thần, Chú Trớ Thần,&nbsp;Linh Thần, Lộ Thần, Táo Trạch Thần…&nbsp;<strong>nếu nghe Kinh này</strong>,&nbsp;<strong>tên của vị&nbsp;Bồ Tát</strong>&nbsp;[Janitam Ksitigarbha Bodhisattva] đó, sẽ nôn ra khí tà,&nbsp;<strong>tự ngộ&nbsp;bổn Không</strong>&nbsp;[sunyata],&nbsp;<strong>mau chứng&nbsp;Bồ Đề</strong>”</p>



<p>Khi ấy,&nbsp;Đế Thích&nbsp;bạch Phật&nbsp;rằng: “Thế Tôn!&nbsp;Diên Mệnh&nbsp;[Địa Tạng]&nbsp;Bồ Tát&nbsp;làm thế nào để&nbsp;cảm hóa&nbsp;sáu nẻo,&nbsp;cứu độ&nbsp;cho chúng sinh?”</p>



<p>Đức Phật&nbsp;bảo&nbsp;Đế Thích: “Này&nbsp;Thiện Nam Tử&nbsp;! Tất cả Pháp Không-tịch (Sunyta- sama), chẳng trụ&nbsp;sinh diệt,&nbsp;tùy theo&nbsp;duyên sinh&nbsp;cho nên&nbsp;sắc thân&nbsp;chẳng giống nhau,&nbsp;tính dục&nbsp;vô lượng. Vì&nbsp;cứu độ&nbsp;khắp cả nên Diên/Duyên Mệnh&nbsp;Bồ Tát</p>



<p>1)&nbsp;&nbsp;&nbsp;&nbsp;&nbsp;&nbsp;&nbsp;&nbsp;&nbsp;&nbsp;&nbsp;&nbsp;&nbsp;&nbsp;&nbsp;&nbsp; hoặc&nbsp;hiện thân&nbsp;Phật,</p>



<p>2)&nbsp;&nbsp;&nbsp;&nbsp;&nbsp;&nbsp;&nbsp;&nbsp;&nbsp;&nbsp;&nbsp;&nbsp;&nbsp;&nbsp;&nbsp;&nbsp; hoặc&nbsp;hiện thân&nbsp;Bồ Tát,</p>



<p>3)&nbsp;&nbsp;&nbsp;&nbsp;&nbsp;&nbsp;&nbsp;&nbsp;&nbsp;&nbsp;&nbsp;&nbsp;&nbsp;&nbsp;&nbsp;&nbsp; hoặc&nbsp;hiện thân&nbsp;Bích Chi Phật,</p>



<p>4)&nbsp;&nbsp;&nbsp;&nbsp;&nbsp;&nbsp;&nbsp;&nbsp;&nbsp;&nbsp;&nbsp;&nbsp;&nbsp;&nbsp;&nbsp;&nbsp; hoặc&nbsp;hiện thân&nbsp;Thanh Văn,</p>



<p>5)&nbsp;&nbsp;&nbsp;&nbsp;&nbsp;&nbsp;&nbsp;&nbsp;&nbsp;&nbsp;&nbsp;&nbsp;&nbsp;&nbsp;&nbsp;&nbsp; hoặc&nbsp;hiện thân&nbsp;Phạm Vương,</p>



<p>6)&nbsp;&nbsp;&nbsp;&nbsp;&nbsp;&nbsp;&nbsp;&nbsp;&nbsp;&nbsp;&nbsp;&nbsp;&nbsp;&nbsp;&nbsp;&nbsp; hoặc&nbsp;hiện thân&nbsp;Đế Thích,</p>



<p>7)&nbsp;&nbsp;&nbsp;&nbsp;&nbsp;&nbsp;&nbsp;&nbsp;&nbsp;&nbsp;&nbsp;&nbsp;&nbsp;&nbsp;&nbsp;&nbsp; hoặc&nbsp;hiện thân&nbsp;Diễm&nbsp;Ma Vương,</p>



<p>8)&nbsp;&nbsp;&nbsp;&nbsp;&nbsp;&nbsp;&nbsp;&nbsp;&nbsp;&nbsp;&nbsp;&nbsp;&nbsp;&nbsp;&nbsp;&nbsp; hoặc&nbsp;hiện thân&nbsp;Tỳ Sa Môn,</p>



<p>9)&nbsp;&nbsp;&nbsp;&nbsp;&nbsp;&nbsp;&nbsp;&nbsp;&nbsp;&nbsp;&nbsp;&nbsp;&nbsp;&nbsp;&nbsp;&nbsp; hoặc&nbsp;hiện thân&nbsp;mặt trời,&nbsp;mặt trăng,</p>



<p>10)&nbsp;&nbsp;&nbsp;&nbsp;&nbsp;&nbsp;&nbsp;&nbsp;&nbsp;&nbsp;&nbsp; hoặc&nbsp;hiện thân&nbsp;năm vì sao (ngũ tinh),</p>



<p>11)&nbsp;&nbsp;&nbsp;&nbsp;&nbsp;&nbsp;&nbsp;&nbsp;&nbsp;&nbsp;&nbsp; hoặc&nbsp;hiện thân&nbsp;bảy vì sao (thất tinh),</p>



<p>12)&nbsp;&nbsp;&nbsp;&nbsp;&nbsp;&nbsp;&nbsp;&nbsp;&nbsp;&nbsp;&nbsp; hoặc&nbsp;hiện thân&nbsp;chín vì sao (cửu tinh),</p>



<p>13)&nbsp;&nbsp;&nbsp;&nbsp;&nbsp;&nbsp;&nbsp;&nbsp;&nbsp;&nbsp;&nbsp; hoặc&nbsp;hiện thân&nbsp;Chuyển Luân Thánh Vương</p>



<p>14)&nbsp;&nbsp;&nbsp;&nbsp;&nbsp;&nbsp;&nbsp;&nbsp;&nbsp;&nbsp;&nbsp; hoặc hiện các thân&nbsp;Tiểu Vương,</p>



<p>15)&nbsp;&nbsp;&nbsp;&nbsp;&nbsp;&nbsp;&nbsp;&nbsp;&nbsp;&nbsp;&nbsp; hoặc&nbsp;hiện thân&nbsp;Trưởng Giả,</p>



<p>16)&nbsp;&nbsp;&nbsp;&nbsp;&nbsp;&nbsp;&nbsp;&nbsp;&nbsp;&nbsp;&nbsp; hoặc&nbsp;hiện thân&nbsp;Cư sĩ,</p>



<p>17)&nbsp;&nbsp;&nbsp;&nbsp;&nbsp;&nbsp;&nbsp;&nbsp;&nbsp;&nbsp;&nbsp; hoặc&nbsp;hiện thân&nbsp;Tể Quan,</p>



<p>18)&nbsp;&nbsp;&nbsp;&nbsp;&nbsp;&nbsp;&nbsp;&nbsp;&nbsp;&nbsp;&nbsp; hoặc&nbsp;hiện thân&nbsp;phụ nữ,</p>



<p>19)&nbsp;&nbsp;&nbsp;&nbsp;&nbsp;&nbsp;&nbsp;&nbsp;&nbsp;&nbsp;&nbsp; hoặc&nbsp;hiện thân&nbsp;Tỳ Khưu, thân Tỳ Khưu Ni, thân&nbsp;Ưu Bà Tắc, thân&nbsp;Ưu Bà Di,</p>



<p>20)&nbsp;&nbsp;&nbsp;&nbsp;&nbsp;&nbsp;&nbsp;&nbsp;&nbsp;&nbsp;&nbsp; hoặc&nbsp;hiện thân&nbsp;của hàng Trời, Rồng,&nbsp;Dạ Xoa, Người, Phi Nhân…</p>



<p>21)&nbsp;&nbsp;&nbsp;&nbsp;&nbsp;&nbsp;&nbsp;&nbsp;&nbsp;&nbsp;&nbsp; hoặc&nbsp;hiện thân&nbsp;Y Vương,</p>



<p>22)&nbsp;&nbsp;&nbsp;&nbsp;&nbsp;&nbsp;&nbsp;&nbsp;&nbsp;&nbsp;&nbsp; hoặc&nbsp;hiện thân&nbsp;cỏ thuốc (dược thảo),</p>



<p>23)&nbsp;&nbsp;&nbsp;&nbsp;&nbsp;&nbsp;&nbsp;&nbsp;&nbsp;&nbsp;&nbsp; hoặc&nbsp;hiện thân&nbsp;người đi buôn,</p>



<p>24)&nbsp;&nbsp;&nbsp;&nbsp;&nbsp;&nbsp;&nbsp;&nbsp;&nbsp;&nbsp;&nbsp; hoặc&nbsp;hiện thân&nbsp;người làm ruộng,</p>



<p>25)&nbsp;&nbsp;&nbsp;&nbsp;&nbsp;&nbsp;&nbsp;&nbsp;&nbsp;&nbsp;&nbsp; hoặc&nbsp;hiện thân&nbsp;voi chúa,</p>



<p>26)&nbsp;&nbsp;&nbsp;&nbsp;&nbsp;&nbsp;&nbsp;&nbsp;&nbsp;&nbsp;&nbsp; hoặc&nbsp;hiện thân&nbsp;sư tử&nbsp;chúa,</p>



<p>27)&nbsp;&nbsp;&nbsp;&nbsp;&nbsp;&nbsp;&nbsp;&nbsp;&nbsp;&nbsp;&nbsp; hoặc&nbsp;hiện thân&nbsp;bò chúa,</p>



<p>28)&nbsp;&nbsp;&nbsp;&nbsp;&nbsp;&nbsp;&nbsp;&nbsp;&nbsp;&nbsp;&nbsp; hoặc&nbsp;hiện thân&nbsp;hình con ngựa,</p>



<p>29)&nbsp;&nbsp;&nbsp;&nbsp;&nbsp;&nbsp;&nbsp;&nbsp;&nbsp;&nbsp;&nbsp; hoặc&nbsp;hiện hình&nbsp;Đại Địa,</p>



<p>30)&nbsp;&nbsp;&nbsp;&nbsp;&nbsp;&nbsp;&nbsp;&nbsp;&nbsp;&nbsp;&nbsp; hoặc hình núi vua,</p>



<p>31)&nbsp;&nbsp;&nbsp;&nbsp;&nbsp;&nbsp;&nbsp;&nbsp;&nbsp;&nbsp;&nbsp; hoặc&nbsp;hiện hình&nbsp;biển lớn…</p>



<p>32)&nbsp;&nbsp;&nbsp;&nbsp;&nbsp;&nbsp;&nbsp;&nbsp;&nbsp;&nbsp;&nbsp; Hết thảy năm loại hình thuộc&nbsp;bốn cách sinh&nbsp;(trứng, thai,&nbsp;ẩm thấp,&nbsp;biến hóa) trong&nbsp;ba cõi, không có gì chẳng biến hiện được.</p>



<p>Như thế là tự thể của&nbsp;Pháp Thân&nbsp;(Dharma-kāya) của Diên/Duyên Mệnh&nbsp;Địa tạng&nbsp;Bồ-Tát biến ra. Hiện&nbsp;chủng chủng&nbsp;thân [hóa thân&nbsp;bời bời]&nbsp;du hành&nbsp;giáo hóa&nbsp;sáu ngả,&nbsp;độ thoát&nbsp;chúng sinh, hay dùng một tâm thiện, phá&nbsp;ba cõi&nbsp;[Dục, Sắc và Vô-Sắc]&nbsp;hữu lậu, cũng bởi một&nbsp;thiện tâm.</p>



<p>Nếu chúng-sinh đời&nbsp;vị lai, không hay&nbsp;phát tâm&nbsp;tin hướng, chỉ cần một lòng&nbsp;lễ bái,&nbsp;cúng dường&nbsp;Diên Mệnh&nbsp;[Địa Tạng]&nbsp;Bồ Tát&nbsp;thì dao gậy chẳng thể chạm đến, chất độc chẳng thể gây hại. Nhóm Yểm Mỵ, Chú Trớ,&nbsp;Khởi Thi Quỷ&nbsp;quay trở lại&nbsp;dính vào người gây ra (bản nhân) như nhổ nước miếng lên trời, ném tro hướng về gió đều quay lại dính vào thân kẻ ấy”</p>



<p>Lúc đó,&nbsp;Đế Thích&nbsp;[Indra]&nbsp;bạch Phật&nbsp;rằng: “Thế Tôn! Vì sao gọi là&nbsp;Diên Mệnh&nbsp;[Địa Tạng]&nbsp;Bồ Tát&nbsp;[Janitam Ksitigarbha Bodhisattva]? Tướng ấy như thế nào?”</p>



<p>Đức Phật&nbsp;bảo&nbsp;<strong>Thiên Đế</strong>: “Này&nbsp;Thiện Nam&nbsp;Tử! Tâm của&nbsp;Bồ Tát&nbsp;chân thiện vốn tròn sáng, vì&nbsp;tỏ rõ&nbsp;Như Ý&nbsp;Luân [Cintamani-chakra]&nbsp;trong sạch&nbsp;không có trở ngại cho nên gọi là&nbsp;Quán Tự Tại&nbsp;[Avalokitesvara].</p>



<p>&#8211;&nbsp;&nbsp;&nbsp;&nbsp;&nbsp;&nbsp;&nbsp;&nbsp; Vì&nbsp;Tâm không&nbsp;có&nbsp;sinh diệt&nbsp;cho nên gọi là &nbsp;&nbsp;&nbsp;&nbsp;&nbsp;&nbsp;&nbsp;&nbsp;&nbsp;&nbsp;&nbsp;Diên Mệnh.</p>



<p>&#8211;&nbsp;&nbsp;&nbsp;&nbsp;&nbsp;&nbsp;&nbsp;&nbsp; Vì&nbsp;Tâm không&nbsp;có tồi phá cho nên gọi là &nbsp;&nbsp;&nbsp;&nbsp;&nbsp;&nbsp;&nbsp;&nbsp;&nbsp;&nbsp;&nbsp;&nbsp;&nbsp;&nbsp;Địa Tạng.</p>



<p>&#8211;&nbsp;&nbsp;&nbsp;&nbsp;&nbsp;&nbsp;&nbsp;&nbsp; Vì&nbsp;Tâm không&nbsp;có bờ mé cho nên gọi là &nbsp;&nbsp;&nbsp;&nbsp;&nbsp;&nbsp;&nbsp;&nbsp;&nbsp;&nbsp;&nbsp;&nbsp;&nbsp;&nbsp;&nbsp;Đại Bồ Tát&nbsp;&nbsp;&nbsp;&nbsp; [Mahasattva Bodhisattva].</p>



<p>&#8211;&nbsp;&nbsp;&nbsp;&nbsp;&nbsp;&nbsp;&nbsp;&nbsp; Vì&nbsp;Tâm không&nbsp;có&nbsp;sắc tướng&nbsp;cho nên gọi là &nbsp;&nbsp;&nbsp;&nbsp;&nbsp;&nbsp;&nbsp;&nbsp;&nbsp;Ma Ha Tát&nbsp;&nbsp;&nbsp;&nbsp;&nbsp; [Mahasattva].</p>



<p>Các ông nên tin nhận,&nbsp;tâm không&nbsp;có chỗ khác, đừng khiến cho quên mất”</p>



<p>Khi ấy,&nbsp;Đại Địa&nbsp;chấn động&nbsp;theo sáu cách,&nbsp;Diên Mệnh&nbsp;[Địa Tạng]&nbsp;Bồ Tát&nbsp;[Janitam Ksitigarbha Bodhisattva] [bản dịch của ngài Bất-Không], từ mặt đất&nbsp;hiện lên, gối bên hữu quỳ thẳng, cánh tay và bàn tay ngang vai, gối bên tả duỗi xuống, tay cầm Tích-trượng mà&nbsp;bạch Phật&nbsp;rằng:</p>



<p>“Con mỗi ngày cứ buổi sáng sớm, thì nhập&nbsp;Thiền Định&nbsp;[Samadhi],&nbsp;đi vào&nbsp;các&nbsp;Địa Ngục, khiến cho&nbsp;chúng sinh&nbsp;ly hết&nbsp;khổ nạn. Đời này và&nbsp;đời sau,&nbsp;thế giới&nbsp;[lokadhatu] nào không có Phật, con cũng có thể dắt dẫn&nbsp;chỉ đường&nbsp;và&nbsp;tế độ&nbsp;cho chúng.</p>



<p>Nếu&nbsp;Phật diệt&nbsp;độ về sau này, tất cả&nbsp;nam nữ, muốn được con ban phúc/phước&nbsp;cho, không cần hỏi&nbsp;ngày xấu&nbsp;hay tốt, sạch hay không sạch, chỉ cần người ấy&nbsp;<strong>hiếu dưỡng&nbsp;với&nbsp;phụ mẫu</strong>, kính thờ&nbsp;Sư trưởng, nói năng và khí sắc lúc nào cũng thường hòa,&nbsp;<strong>không làm oan người dân</strong>,&nbsp;<strong>không giết hại sinh mạng</strong>,&nbsp;<strong>không phạm&nbsp;tà dâm</strong>.</p>



<p>Hoặc mười ngày Trai, hoặc sáu ngày Trai, ngày 18, ngày 24,&nbsp;<strong>chí tâm&nbsp;thành kính</strong>,&nbsp;<strong>chuyển đọc&nbsp;Kinh này</strong>,&nbsp;<strong>xưng tên của con</strong>,&nbsp;<strong>thời con lấy Pháp-nhãn và uy-thần liền chuyển&nbsp;nghiệp báo</strong>, khiến được [phúc] quả&nbsp;trong đời&nbsp;này, trừ dứt tội&nbsp;Vô Gián&nbsp;[Ngũ Nghịch], lại được&nbsp;chứng đạo&nbsp;Bồ Đề.</p>



<p>Con từ&nbsp;quá khứ, không biết bao nhiêu kiếp số tới nay, thấy tất cả&nbsp;chúng sinh&nbsp;trong&nbsp;lục đạo&nbsp;[sad gati],&nbsp;<strong>đồng&nbsp;một thể&nbsp;Pháp-tánh</strong>&nbsp;[Dharmata], không trước không sau, không sai không khác, bởi nghiệp&nbsp;vô minh, mà thấy các tướng khác nhau, sanh, trụ, dị, diệt, lúc được lúc mất, khởi niệm&nbsp;bất thiện, tạo mọi&nbsp;nghiệp ác, vòng quanh&nbsp;lục thú&nbsp;[sad gati],&nbsp;<strong>kiếp kiếp&nbsp;cùng làm&nbsp;cha mẹ&nbsp;với nhau,&nbsp;đời đời&nbsp;cùng là anh em&nbsp;quyến thuộc, hết thảy đều&nbsp;thành Phật&nbsp;cả</strong>. Sau khi con&nbsp;thành Phật, nếu còn sót một người nào chưa độ, con thề chưa&nbsp;thành Phật. Nếu&nbsp;chúng sinh&nbsp;nào biết được bổn nguyện của con, đời này và&nbsp;đời sau, có&nbsp;sở cầu&nbsp;sự gì, không được&nbsp;thỏa mãn&nbsp;thì con thề không&nbsp;thành Chánh Giác.”</p>



<p>Bấy giờ,&nbsp;Đức Phật&nbsp;khen&nbsp;Diên Mệnh&nbsp;[Địa Tạng]&nbsp;Bồ Tát: “Lành thay!&nbsp;Lành thay!&nbsp;Chân&nbsp;Thiện nam&nbsp;tử! Sau khi Ta&nbsp;diệt độ,&nbsp;chúng sinh&nbsp;có tội khổ&nbsp;trong đời&nbsp;ác của thời&nbsp;vị lai, Ta&nbsp;giao phó&nbsp;cho ông. Đời này&nbsp;đời sau&nbsp;khéo hay dẫn lối, chẳng bị rơi vào nẻo ác&nbsp;trong khoảng&nbsp;búng ngón tay, huống chi là bị rơi vào&nbsp;Địa Ngục&nbsp;A Tỵ (Avīci)”</p>



<p>Diên Mệnh&nbsp;[Địa Tạng]&nbsp;Bồ Tát&nbsp;bạch Phật&nbsp;rằng: “Xin&nbsp;Đức Thế Tôn&nbsp;đừng lo! Con sẽ cứu vớt&nbsp;chúng sinh&nbsp;trong sáu nẻo [sad gati]. Nếu có tội khổ thì con sẽ nhận thay nỗi khổ ấy. Nếu chẳng như thế thì con chẳng nhận lấy Chính Giác”</p>



<p><strong>Thời&nbsp;Đức Thế Tôn&nbsp;lại dùng Kệ khen rằng</strong>:</p>



<p>Lành thay!&nbsp;Lành thay!</p>



<p>Diên Mệnh Địa Tạng&nbsp;Bồ Tát! &nbsp;&nbsp;&nbsp;&nbsp;&nbsp;&nbsp;&nbsp;&nbsp;&nbsp;&nbsp;&nbsp;&nbsp;&nbsp;&nbsp;&nbsp;&nbsp;&nbsp;&nbsp;&nbsp; [Janitam Ksitigarbha Bodhisattva]



<p>Coi&nbsp;hữu tình&nbsp;như bạn.</p>



<p>Chúng sinh&nbsp;lúc sanh thời,</p>



<p>Ông sẽ là mạng chúng,</p>



<p>Chúng-sinh khi&nbsp;mạng chung,&nbsp;&nbsp;&nbsp;&nbsp;&nbsp;&nbsp;&nbsp;&nbsp;&nbsp;&nbsp;&nbsp;&nbsp;&nbsp;&nbsp;&nbsp;&nbsp;&nbsp;&nbsp;&nbsp;&nbsp;&nbsp; [<s>mạnh</s>]



<p>Ông lại làm&nbsp;Đạo Sư.</p>



<p>Chúng-sinh chẳng&nbsp;hiểu biết</p>



<p>Vô phước mà&nbsp;chết yểu&nbsp;(yểu tử)</p>



<p>Ta [Shakyamuni]&nbsp;diệt độ&nbsp;về sau</p>



<p>Ở trong thời Mạt-Pháp</p>



<p>Quốc độ&nbsp;nhiều tai-khởi</p>



<p>Nhân Vương&nbsp;bất-chính loạn</p>



<p>Giặc phương khác kéo đến</p>



<p>Đao binh khởi chiến trận</p>



<p>Chỉ nên nhớ tưởng niệm</p>



<p>Diên Mệnh Địa Tạng Bồ Tát&nbsp;&nbsp;&nbsp;&nbsp;&nbsp;&nbsp;&nbsp;&nbsp;&nbsp;&nbsp;&nbsp;&nbsp;&nbsp;&nbsp;&nbsp;&nbsp;&nbsp;&nbsp;&nbsp;&nbsp;&nbsp;&nbsp; [Janitam Ksitigarbha Bodhisattva]&nbsp;&nbsp;&nbsp;&nbsp;&nbsp;&nbsp;</p>



<p>Đời này và&nbsp;đời sau</p>



<p>Cầu gì không&nbsp;mãn nguyện</p>



<p>Không đúng Ta thuyết giáo</p>



<p>Thực là&nbsp;không có lý</p>



<p>Khi ấy,&nbsp;Tam Thiên Đại Thiên Thế Giới&nbsp;[1.000.000.000&nbsp;tiểu thiên thế giới]&nbsp;chấn động&nbsp;sáu lần.&nbsp;Văn Thù Sư Lợi Bồ Tát&nbsp;[Manjusri],&nbsp;Phổ Hiền Bồ Tát&nbsp;[Samantabhadra],&nbsp;Kim Cương Tạng Bồ Tát&nbsp;[Vajragarbha],&nbsp;Hư Không Tạng Bồ Tát&nbsp;[Akasagarbha],&nbsp;Thánh Quán Tự Tại&nbsp;Bồ Tát&nbsp;[Arya Avalokitesvara], nhóm&nbsp;Ma Ha Tát&nbsp;[Mahasattva:&nbsp;Đại Hữu&nbsp;Tình]… khác miệng cùng lời&nbsp;bạch Phật&nbsp;rằng: “Thế Tôn!&nbsp;Chúng sinh&nbsp;đời&nbsp;vị lai, nếu nghe thấy Kinh này, và&nbsp;danh hiệu&nbsp;Bồ Tát&nbsp;Diên Mệnh Địa Tạng&nbsp;[(Janitam Ksitigarbha Bodhisattva)],&nbsp;thời chúng&nbsp;con cũng đều&nbsp;tùy thuận&nbsp;người đó và hiện ở trước người đó, làm cho Tâm-nhãn thấy rõ, có cầu việc gì cũng được&nbsp;viên mãn.&nbsp;Nếu không&nbsp;được như thế, thì lũ chúng con thề không thành Chánh Giác”.</p>



<p>Lúc đó,&nbsp;Phạm Vương,&nbsp;Đế Thích, bốn vị&nbsp;Đại Thiên Vương&nbsp;tuôn mưa hoa của các&nbsp;cõi Trời,&nbsp;cúng dường&nbsp;Đức Như Lai&nbsp;rồi&nbsp;bạch Phật&nbsp;rằng: “Thế Tôn!&nbsp;Chúng sinh&nbsp;đời&nbsp;vị lai, nếu&nbsp;tự tâm&nbsp;chính, chẳng&nbsp;tranh giành&nbsp;phải trái, chẳng&nbsp;buông bỏ&nbsp;thưởng phạt, trì Kinh này, niệm&nbsp;Bồ Tát&nbsp;này [Diên Mạng&nbsp;Địa Tạng&nbsp;(Ksitigarbha)] thì chúng con và&nbsp;quyến thuộc&nbsp;đều&nbsp;ủng hộ&nbsp;người đó, ngày đêm chẳng lìa, khiến cho đất nước ấy trong một trăm&nbsp;do tuần, không có các&nbsp;tai nạn. Người dân của nước ấy khiến được&nbsp;an ổn, lúa má được mùa, đầy đủ sự mong cầu.</p>



<p>Nếu chẳng như thế thì chúng con chẳng đáng được tên gọi Hộ Thế, chẳng&nbsp;quay về&nbsp;Bản Giác&nbsp;[và cũng không bao giờ&nbsp;trở lại&nbsp;được tánh&nbsp;Bản giác]”.</p>



<p><strong>[TÂM CỦA DIÊN MẠNG&nbsp;ĐỊA TẠNG BỒ TÁT]</strong></p>



[Lúc đó có] hai vị&nbsp;Đồng Tử&nbsp;đứng hầu hai bên trái phải [của Diên Mạng&nbsp;Địa Tạng Bồ Tát].</p>



<p>Một vị tên là Chưởng Thiện ở bên trái, màu trắng, cầm&nbsp;hoa sen trắng,&nbsp;điều ngự&nbsp;Pháp Tính.</p>



<p>Một vị tên là Chưởng Ác ở bên phải, màu đỏ, cầm chày&nbsp;Kim Cương, giáng phục&nbsp;Vô Minh.</p>



<p>Đức Phật&nbsp;bảo&nbsp;Đại Chúng: “Các ngươi nên biết hai vị&nbsp;Đồng Tử&nbsp;đó là&nbsp;Pháp Tính&nbsp;và&nbsp;Vô Minh, [cũng như] hai bàn tay, hai bàn chân [của Diên Mạng&nbsp;Địa Tạng Bồ Tát].</p>



<p>Tâm&nbsp;bất động&nbsp;của&nbsp;Diên Mệnh&nbsp;[Địa Tạng]&nbsp;Bồ Tát&nbsp;là&nbsp;Bản Thể&nbsp;của chữ&nbsp;<strong>A. &nbsp;&nbsp;&nbsp;&nbsp;&nbsp;&nbsp;&nbsp;&nbsp;</strong>[唒]



<p>Nếu có&nbsp;chúng sinh&nbsp;biết Tâm đó,&nbsp;quyết định&nbsp;thành tựu. Liền diệt&nbsp;tam độc&nbsp;và được lực&nbsp;tự tại, muốn nguyện sanh&nbsp;cõi Phật&nbsp;nào, tùy nguyện sanh.</p>



<p>Nếu tất cả&nbsp;chúng sinh&nbsp;đời&nbsp;vị lai,&nbsp;cung kính&nbsp;cúng dường&nbsp;Diên Mệnh&nbsp;[Địa Tạng]&nbsp;Bồ Tát&nbsp;mà chẳng&nbsp;sinh nghi&nbsp;ngờ thì sự mong cầu của đời này đều khiến cho đầy đủ,&nbsp;đời sau&nbsp;sinh về&nbsp;Tịnh Thổ, được&nbsp;Vô Sinh Pháp&nbsp;Nhẫn”</p>



<p>Đức Phật&nbsp;nói Kinh này xong thời tất cả&nbsp;Đại Hội, tâm rất&nbsp;vui vẻ, tin nhận&nbsp;phụng hành.</p>



<p>PHẬT NÓI KINH&nbsp;DIÊN MỆNH ĐỊA TẠNG BỒ TÁT&nbsp;&nbsp;&nbsp;&nbsp;&nbsp;&nbsp;&nbsp;&nbsp;&nbsp;&nbsp;&nbsp;&nbsp;&nbsp;&nbsp;&nbsp;&nbsp;&nbsp;<strong>(Hết)</strong></p>



<p>Nam mô&nbsp;Diên Mệnh Địa Tạng&nbsp;Tôn,&nbsp;Người nữ sinh dễ, tâm&nbsp;an ổn</p>



<p>Nam mô&nbsp;Diên Mệnh Địa Tạng&nbsp;Tôn,&nbsp;Đầy đủ&nbsp;thân căn, ý&nbsp;tự tại</p>



<p>Nam mô&nbsp;Diên Mệnh Địa Tạng&nbsp;Tôn,&nbsp;Mọi bệnh đều trừ, Thể bền chắc</p>



<p>Nam mô&nbsp;Diên Mệnh Địa Tạng&nbsp;Tôn,&nbsp;Thọ mệnh&nbsp;lâu dài, nguyện&nbsp;thành tựu</p>



<p>Nam mô&nbsp;Diên Mệnh Địa Tạng&nbsp;Tôn,&nbsp;Thông minh,&nbsp;Trí Tuệ&nbsp;giữ Giới&nbsp;Cấm</p>



<p>Nam mô&nbsp;Diên Mệnh Địa Tạng&nbsp;Tôn,&nbsp;Tài bảo&nbsp;dư thừa, giúp nghèo túng<br>Nam mô&nbsp;Diên Mệnh Địa Tạng&nbsp;Tôn,&nbsp;Mọi người&nbsp;yêu kính, không&nbsp;sợ hãi</p>



<p>Nam mô&nbsp;Diên Mệnh Địa Tạng&nbsp;Tôn,&nbsp;Lúa gạo được mùa, dân an vui</p>



<p>Nam mô&nbsp;Diên Mệnh Địa Tạng&nbsp;Tôn,&nbsp;Thần minh&nbsp;gia hộ,&nbsp;trừ tai&nbsp;nạn</p>



<p>Nam mô&nbsp;Diên Mệnh Địa Tạng&nbsp;Tôn,&nbsp;Chứng Đại Bồ Đề,&nbsp;thành Phật&nbsp;Đạo</p>



<p><strong><u><br></u></strong><strong>Chân Ngôn<u>:</u></strong></p>



<p><strong>“Án, ha ha ha, vĩ&nbsp;sa ma&nbsp;duệ,&nbsp;sa bà&nbsp;hạ”/</strong></p>



<p><strong>O</strong><strong>ṃ</strong><strong> Ha ha ha Vismaye Sv</strong><strong>ā</strong><strong>h</strong><strong>ā</strong></p>



<p><strong><u><br>Tán:</u></strong></p>



<p>Địa Tạng&nbsp;Đại Sĩ</p>



<p>Thề Nguyện rộng sâu</p>



<p>Ngọc sáng soi chiếu</p>



<p>Phá thành&nbsp;Thiết Vi</p>



<p>Gậy vàng chấn&nbsp;U Minh</p>



<p>Mưa hoa tuôn thơm phức</p>



<p>Đại Địa&nbsp;bày xuân tươi (dương xuân)</p>



<p><strong><br>Nam mô&nbsp;Địa Tạng&nbsp;Vương&nbsp;Bồ Tát Ma Ha Tát&nbsp;&nbsp;&nbsp;&nbsp;&nbsp;&nbsp;&nbsp;&nbsp;&nbsp;&nbsp;&nbsp;&nbsp;&nbsp;&nbsp;&nbsp;</strong>(xưng&nbsp;<strong>3 lần</strong>)</p>



<p><strong><u><br></u></strong><strong>Hồi hướng:&nbsp;</strong>Nay&nbsp;Công phu&nbsp;đọc tụng&nbsp;kinh Phật nói Kinh&nbsp;Diên Mệnh Địa Tạng Bồ tát&nbsp;con xin&nbsp;hồi hướng&nbsp;cho</p>



<p>&#8211;&nbsp;&nbsp;&nbsp;&nbsp;&nbsp;&nbsp;&nbsp;&nbsp;&nbsp; Nguyện&nbsp;hồi hướng&nbsp;đến các dịch giả [Ngài Bất-Không Tam-Tạng dịch Phạn-Hán nguyện thường tùy hành cùng ngài&nbsp;Địa tạng&nbsp;và chư&nbsp;Thiện Tri Thức&nbsp;khắp 10 phương,&nbsp;Cư sĩ&nbsp;Huyền Thanh người&nbsp;dịch kinh&nbsp;ra Việt văn&nbsp;tùy duyên&nbsp;cõi phật&nbsp;sớm được&nbsp;Nhiên đăng phật&nbsp;quốc,&nbsp;Cư sĩ&nbsp;Pram Nguyễn giảo đính và&nbsp;chú giải&nbsp;kinh này&nbsp;cửu trụ&nbsp;lâu dài&nbsp;để ], những người in ấn Kinh văn, viết vẽ thảy đều nhờ ân Phật đồng được Thân&nbsp;Chánh Pháp&nbsp;Tạng</p>



<p>&#8211;&nbsp;&nbsp;&nbsp;&nbsp;&nbsp;&nbsp;&nbsp;&nbsp;&nbsp; Nguyện&nbsp;Chánh Pháp&nbsp;nầy&nbsp;cửu trụ&nbsp;ở đời; đời không có Phật,&nbsp;Thánh Hiền&nbsp;vắng bóng, con sẽ hoằng&nbsp;truyền Kinh&nbsp;nầy,&nbsp;phổ độ chúng sanh, nhập biển&nbsp;trí tuệ&nbsp;của Như-Lai.</p>



<p>&#8211;&nbsp;&nbsp;&nbsp;&nbsp;&nbsp;&nbsp;&nbsp;&nbsp;&nbsp; Nguyện cho con và tất cả&nbsp;chư Thiên,&nbsp;quỷ thần,&nbsp;vong linh,&nbsp;chúng hữu&nbsp;tình đồng&nbsp;đọc Kinh&nbsp;nầy, mau chóng nhập&nbsp;lý thú&nbsp;của Kinh<br><br>&#8230;.tuỳ theo nguyện của người học</p>
]]></content:encoded>
					
		
		
			</item>
		<item>
		<title>KINH DI GIÁO</title>
		<link>https://phatgiaovinhphuc.vn/2024/11/06/kinh-di-giao/</link>
		
		<dc:creator><![CDATA[trast1]]></dc:creator>
		<pubDate>Wed, 06 Nov 2024 13:42:08 +0000</pubDate>
				<category><![CDATA[Kinh tạng]]></category>
		<guid isPermaLink="false">https://phatgiaovinhphuc.vn/?p=2484</guid>

					<description><![CDATA[KINH&#160;DI GIÁOĐoàn Trung Còn và Nguyễn Minh Tiến dịch và&#160;chú giảiNhà xuất bản:&#160;Tôn giáo NGHI THỨC&#160;KHAI KINH (Phần&#160;nghi thức&#160;này không thuộc Kinh văn nhưng cần&#160;tụng niệm&#160;trước&#160;để tâm&#160;thức được&#160;an tịnh&#160;trước khi&#160;đi vào&#160;tụng&#160;đọc Kinh&#160;văn) NIỆM HƯƠNG (Thắp đèn&#160;đốt hương&#160;trầm, đứng ngay ngắn&#160;chắp tay&#160;ngang ngực thầm niệm theo&#160;nghi thức&#160;dưới đây.) Tịnh pháp giới&#160;chân ngôn: Án lam tóa ha.(3 [...]]]></description>
										<content:encoded><![CDATA[


<p><strong>KINH&nbsp;DI GIÁO</strong><br>Đoàn Trung Còn và Nguyễn Minh Tiến dịch và&nbsp;chú giải<br>Nhà xuất bản:&nbsp;Tôn giáo<br><br></p>



<h2 class="wp-block-heading">NGHI THỨC&nbsp;KHAI KINH</h2>



<p>(Phần&nbsp;nghi thức&nbsp;này không thuộc Kinh văn nhưng cần&nbsp;tụng niệm&nbsp;trước&nbsp;để tâm&nbsp;thức được&nbsp;an tịnh&nbsp;trước khi&nbsp;đi vào&nbsp;tụng&nbsp;đọc Kinh&nbsp;văn)</p>



<h3 class="wp-block-heading">NIỆM HƯƠNG</h3>



<p>(Thắp đèn&nbsp;đốt hương&nbsp;trầm, đứng ngay ngắn&nbsp;chắp tay&nbsp;ngang ngực thầm niệm theo&nbsp;nghi thức&nbsp;dưới đây.)</p>



<h3 class="wp-block-heading">Tịnh pháp giới&nbsp;chân ngôn:</h3>



<p>Án lam tóa ha.<br>(3 lần)</p>



<h3 class="wp-block-heading">Tịnh&nbsp;tam nghiệp&nbsp;chân ngôn:</h3>



<p>Án ta phạ bà phạ, thuật đà ta phạ,&nbsp;đạt ma&nbsp;ta phạ, bà phạ thuật độ hám.<br>(3 lần)<br>(Chủ lễ&nbsp;thắp 3 cây hương, quỳ ngay ngắn nâng hương lên ngang trán niệm bài Cúng hương sau đây.)</p>



<h3 class="wp-block-heading">Cúng hương&nbsp;tán Phật</h3>



<p>Nguyện thử diệu hương vân,<br>Biến mãn&nbsp;thập phương&nbsp;giới.<br>Cúng dường&nbsp;nhất thiết&nbsp;Phật,<br>Tôn Pháp, chư&nbsp;Bồ Tát,<br>Vô biên&nbsp;Thanh văn&nbsp;chúng,<br>Cập&nbsp;nhất thiết&nbsp;thánh hiền.<br>Duyên khởi&nbsp;quang minh&nbsp;đài,<br>Xứng tánh&nbsp;tác Phật sự.<br>Phổ huân chư&nbsp;chúng sanh,<br>Giai&nbsp;phát Bồ-đề tâm,<br>Viễn ly&nbsp;chư vọng nghiệp,<br>Viên thành&nbsp;vô thượng đạo.<br>(Chủ lễ&nbsp;xá 3 xá rồi đọc bài Kỳ nguyện dưới đây.)</p>



<h3 class="wp-block-heading">Kỳ nguyện</h3>



<p>Tư thời&nbsp;đệ tử&nbsp;chúng đẳng&nbsp;phúng tụng&nbsp;kinh chú,&nbsp;xưng tán&nbsp;hồng danh, tập thử&nbsp;công đức, nguyện&nbsp;thập phương&nbsp;thường trú&nbsp;Tam bảo, Bổn sư&nbsp;Thích-ca Mâu-ni&nbsp;Phật,&nbsp;Tiếp Dẫn Đạo Sư&nbsp;A-di-đà Phật&#8230;&nbsp;từ bi&nbsp;gia hộ&nbsp;đệ tử&#8230; &#8230;.&nbsp;Pháp danh&#8230; &#8230;.&nbsp;phiền não&nbsp;đoạn diệt,&nbsp;nghiệp chướng&nbsp;tiêu trừ, thường hoạch&nbsp;kiết tường, vĩnh ly&nbsp;khổ ách.&nbsp;Phổ nguyện&nbsp;âm siêu dương thới, hải yến hà thanh,&nbsp;pháp giới&nbsp;chúng sanh&nbsp;tề&nbsp;thành Phật&nbsp;đạo.<br>(Cắm hương ngay ngắn vào&nbsp;lư hương&nbsp;rồi đứng thẳng&nbsp;chắp tay&nbsp;niệm bài&nbsp;Tán Phật&nbsp;sau đây.)</p>



<h3 class="wp-block-heading">Tán Phật</h3>



<p>Pháp vương&nbsp;vô thượng tôn,<br>Tam giới&nbsp;vô luân&nbsp;thất.<br>Thiên nhân&nbsp;chi&nbsp;Đạo sư,<br>Tứ sanh&nbsp;chi&nbsp;từ phụ.<br>Ư&nbsp;nhất niệm&nbsp;quy y,<br>Năng diệt&nbsp;tam kỳ&nbsp;nghiệp.<br>Xưng dương nhược&nbsp;tán thán,<br>Ức kiếp&nbsp;mạc năng tận.</p>



<h3 class="wp-block-heading">Quán tưởng</h3>



<p>Năng lễ sở lễ&nbsp;tánh không&nbsp;tịch,<br>Cảm ứng đạo giao&nbsp;nan tư&nbsp;nghì.<br>Ngã thử&nbsp;đạo tràng&nbsp;như đế châu,<br>Thập phương&nbsp;chư&nbsp;Phật ảnh&nbsp;hiện trung.<br>Ngã thân&nbsp;ảnh hiện&nbsp;chư&nbsp;Phật tiền,<br>Đầu diện&nbsp;tiếp túc&nbsp;quy mạng&nbsp;lễ.<br>Chí tâm đảnh lễ: Nam-mô tận&nbsp;hư không&nbsp;biến&nbsp;pháp giới&nbsp;quá, hiện,&nbsp;vị lai&nbsp;thập phương&nbsp;chư Phật, Tôn pháp,&nbsp;Hiền thánh&nbsp;tăng thường trú&nbsp;Tam bảo.&nbsp;<em>(1 lạy)</em><br>Chí tâm đảnh lễ: Nam-mô Ta-bà&nbsp;Giáo chủ&nbsp;Bổn sư&nbsp;Thích-ca Mâu-ni&nbsp;Phật,&nbsp;Đương lai&nbsp;hạ sanh Di-lặc Tôn Phật,&nbsp;Đại trí&nbsp;Văn-thù-sư-lợi&nbsp;Bồ Tát,&nbsp;Đại hạnh Phổ Hiền Bồ Tát,&nbsp;Hộ Pháp&nbsp;Chư Tôn&nbsp;Bồ Tát,&nbsp;Linh Sơn Hội Thượng&nbsp;Phật&nbsp;Bồ Tát.&nbsp;<em>(1 lạy)</em><br>Chí tâm đảnh lễ: Nam-mô&nbsp;Tây phương Cực Lạc&nbsp;Thế giới&nbsp;Đại từ Đại bi&nbsp;A-di-đà Phật,&nbsp;Đại bi Quán Thế Âm Bồ Tát,&nbsp;Đại Thế Chí Bồ Tát,&nbsp;Đại nguyện&nbsp;Địa Tạng&nbsp;Vương&nbsp;Bồ Tát,&nbsp;Thanh Tịnh&nbsp;Đại Hải Chúng&nbsp;Bồ Tát.&nbsp;<em>(1 lạy)</em><br>(Từ đây bắt đầu khai chuông mõ,&nbsp;đại chúng&nbsp;đồng tụng.)</p>



<h3 class="wp-block-heading">Tán Hương</h3>



<p>Lư hương&nbsp;xạ nhiệt,<br>Pháp giới&nbsp;mông huân,<br>Chư&nbsp;Phật hải&nbsp;hội tất diêu văn,<br>Tùy xứ&nbsp;kiết tường&nbsp;vân,<br>Thành ý&nbsp;phương ân,<br>Chư&nbsp;Phật hiện&nbsp;toàn thân.<br>Nam-mô Hương Vân Cái&nbsp;Bồ Tát&nbsp;Ma-ha-tát.&nbsp;<em>(3 lần)</em></p>



<h3 class="wp-block-heading">Chú Đại Bi</h3>



<p>Nam-mô&nbsp;Đại Bi&nbsp;Hội Thượng Phật&nbsp;Bồ Tát.<br>(3 lần)<br>Thiên thủ&nbsp;thiên nhãn&nbsp;vô ngại&nbsp;đại bi tâm&nbsp;đà-la-ni.<br>Nam mô&nbsp;hắc ra&nbsp;đát na&nbsp;đa ra dạ da.&nbsp;Nam mô&nbsp;a rị da, bà lô&nbsp;yết đế, thơcs bát ra da,&nbsp;bồ đề tát đỏa&nbsp;bà da,&nbsp;ma ha tát đỏa&nbsp;bà da,&nbsp;ma ha&nbsp;ca lô ni&nbsp;ca da. Án, tát bàn ra phạt duệ, số&nbsp;đát na&nbsp;đát tỏa.<br>Nam mô&nbsp;tất kiết lật đỏa y mông, a rị&nbsp;da bà&nbsp;lô kiết đế,&nbsp;thất phật&nbsp;ra lăng&nbsp;đà bà.<br>Nam mô&nbsp;na ra cẩn trì hê rị,&nbsp;ma ha&nbsp;bàn đa sa mế, tát bà a tha đậu du bằng, a thệ dựng, tát bà tát đa,&nbsp;na ma&nbsp;bà dà, ma phạt đạt đậu,&nbsp;đát điệt tha. Án a bà lô hê, lô ca đế, ca ra đế, di hê rị,&nbsp;ma ha&nbsp;bồ đề tát đỏa, tát bà tát bà,&nbsp;ma ra&nbsp;ma ra, ma hê ma hê, rị đà dựng cu lô cu lô, kiết mông độ lô độ lô, phạt xà da dế,&nbsp;ma ha&nbsp;phạt xà da đế, đà ra đà ra, địa rị ni,&nbsp;thất Phật&nbsp;ra da, dá ra dá ra. Mạ mạ phạt&nbsp;ma ra, mục đế lệ, y hê y hê, thất na thất na, a ra sâm Phật ra&nbsp;xá lợi, phạt sa phạt sâm, Phật ra xá da, hô lô hô lô&nbsp;ma ra, hô lô hô lô hê rị,&nbsp;ta ra&nbsp;ta ra, tất rị tất rị, tô rô tô rô,&nbsp;bồ đề&nbsp;dạ&nbsp;bồ đề&nbsp;dạ, bồ đà dạ bồ đà dạ, di đế rị dạ, na ra cẩn&nbsp;trì địa&nbsp;rị sắc ni na, ba&nbsp;dạ ma&nbsp;na,&nbsp;ta bà ha. Tất đà dạ,&nbsp;ta bà ha.&nbsp;Ma ha&nbsp;tất đà dạ&nbsp;ta bà ha. Tất đà du nghệ, thất bàn ra dạ,&nbsp;ta bà ha. Na ra cẩn trì,&nbsp;ta bà ha.&nbsp;Ma ra&nbsp;na ra,&nbsp;ta bà ha. Tất ra tăng a&nbsp;mục khê&nbsp;da,&nbsp;ta bà ha.&nbsp;Ta bà&nbsp;ma ha, a tất đà dạ,&nbsp;ta bà ha. Giả kiết ra a tất đà dạ,&nbsp;ta bà ha.&nbsp;Ba đà&nbsp;ma yết, tất đà dạ,&nbsp;ta bà ha. Na ra cẩn trì&nbsp;bàn đà&nbsp;ra dạ,&nbsp;ta bà ha. Ma bà lỵ thắng yết ra dạ,&nbsp;ta bà ha.<br>Nam mô&nbsp;hắc ra&nbsp;đát na&nbsp;đa ra dạ da.&nbsp;Nam mô&nbsp;a rị&nbsp;da bà&nbsp;lô&nbsp;yết đế, thước bàn ra dạ,&nbsp;ta bà ha.<br>Án tất điện đô, mạn đa ra,&nbsp;bạt đà&nbsp;dạ,&nbsp;ta bà ha.&nbsp;<em>(3 lần)</em><br>Nam-mô Bổn sư&nbsp;Thích-ca Mâu-ni&nbsp;Phật.<br>(3 lần)</p>



<h3 class="wp-block-heading">Khai kinh&nbsp;kệ</h3>



<p>Vô thượng&nbsp;thậm thâm&nbsp;vi diệu pháp,<br>Bá thiên&nbsp;vạn kiếp&nbsp;nan tao ngộ,<br>Ngã kim&nbsp;kiến văn&nbsp;đắc&nbsp;thọ trì,<br>Nguyện giải&nbsp;Như Lai&nbsp;chân thật nghĩa.<br>Nam-mô&nbsp;Liên Trì Hải Hội&nbsp;Phật&nbsp;Bồ Tát.<br>(3 lần)<br><br><br></p>



<h2 class="wp-block-heading">PHẬT&nbsp;DI GIÁO KINH</h2>



[PHẬT THÙY BÁT NIẾT-BÀN<br>LƯỢC THUYẾT GIÁO&nbsp;GIỚI KINH]<br><em>(Hậu Tần&nbsp;Tam Tạng Pháp Sư&nbsp;Cưu-ma-la-thập phụng chiếu dịch)</em></p>



<h3 class="wp-block-heading">ĐƯỜNG THÁI TÔNG&nbsp;PHẬT&nbsp;DI GIÁO KINH&nbsp;THI HÀNH&nbsp;SẮC</h3>



<p><em>Vãng giả,&nbsp;Như Lai&nbsp;diệt hậu, dĩ mạt đại kiêu phù&nbsp;phó chúc&nbsp;quốc vương, đại thần&nbsp;hộ trì Phật&nbsp;pháp. Nhiên,&nbsp;tăng ni&nbsp;xuất gia&nbsp;giới hạnh&nbsp;tu bị. Nhược túng tình&nbsp;dâm dật, xúc đồ&nbsp;phiền não, quan thiệp&nbsp;nhân gian, động vi kinh luật, ký&nbsp;thất Như Lai&nbsp;huyền diệu&nbsp;chi chỉ, hựu khuy&nbsp;quốc vương&nbsp;thọ phó chi nghĩa.</em><br><em>Di giáo kinh</em><em>&nbsp;giả, thị Phật lâm Niết-bàn sở thuyết,&nbsp;giới khuyến&nbsp;đệ tử, thậm vi tường yếu. Mạt tục tri tố tịnh bất sùng phụng.&nbsp;Đại đạo&nbsp;tương ẩn, vi ngôn thả tuyệt.</em><br><em>Vĩnh hoài&nbsp;Thánh giáo, dụng tư hoằng triển, nghi linh sở tư, sai thơ thủ&nbsp;thập nhân, đa&nbsp;tả Kinh&nbsp;bổn, vụ tại&nbsp;thi hành. Sở tu chỉ, bút, mặc đẳng, hữu tư chuẩn cấp. Kỳ quan hoạn ngũ phẫm dĩ thượng cập chư châu thứ sử, các phó nhất quyển. Nhược kiến&nbsp;Tăng Ni&nbsp;hạnh nghiệp dữ Kinh văn bất đồng, nghi công tư khuyến miễn, tất sử&nbsp;tuân hành.</em></p>



<h3 class="wp-block-heading">[CHÁNH VĂN]</h3>



<h3 class="wp-block-heading">NHẤT – KINH TỰ</h3>



<p>Thích-ca Mâu-ni&nbsp;Phật ,&nbsp;sơ chuyển pháp luân&nbsp;độ&nbsp;A-nhã Kiều-trần-như,&nbsp;tối hậu&nbsp;thuyết pháp&nbsp;độ Tu-bạt-đà-la. Sở ưng độ giả, giai dĩ độ ngật. Ư Sa-la song thọ gian,&nbsp;tương nhập&nbsp;Niết bàn. Thị thời,&nbsp;trung dạ&nbsp;tịch nhiên&nbsp;vô thanh. Vị chư&nbsp;đệ tử, lược&nbsp;thuyết pháp&nbsp;yếu.</p>



<h3 class="wp-block-heading">NHỊ –&nbsp;TRÌ GIỚI</h3>



<p>Nhữ đẳng&nbsp;tỳ-kheo! Ư ngã&nbsp;diệt hậu, đương&nbsp;tôn trọng&nbsp;trân kính Ba-la-đề-mộc-xoa. Như ám&nbsp;ngộ minh, bần nhân đắc bảo, đương tri thử tắc thị&nbsp;nhữ đẳng&nbsp;đại sư. Nhược ngã trụ thế, vô dị thử dã. Trì&nbsp;tịnh giới&nbsp;giả, bất đắc phán mại mậu dịch,&nbsp;an trí&nbsp;điền trạch, súc&nbsp;dưỡng nhân&nbsp;dân, nô tỳ,&nbsp;súc sanh.&nbsp;Nhất thiết&nbsp;chủng thực cập chư tài bảo, giai đương&nbsp;viễn ly, như tỵ&nbsp;hỏa khanh. Bất đắc trảm phạt&nbsp;thảo mộc, khẩn thổ, quật địa,&nbsp;hiệp hòa&nbsp;thang dược, chiêm tướng kiết hung, ngưỡng&nbsp;quan tinh&nbsp;tú, suy bộ doanh hư. Lịch số, toán kế, giai sở bất ưng. Tiết thân,&nbsp;thời thực,&nbsp;thanh tịnh&nbsp;tự hoạt. Bất đắc&nbsp;tham dự&nbsp;thế sự, thông trí&nbsp;sứ mạng.&nbsp;Chú thuật,&nbsp;tiên dược, kết hảo&nbsp;quý nhân, thân hậu tiết mạn, giai bất ưng tác. Đương tự đoan tâm&nbsp;chánh niệm&nbsp;cầu độ. Bất đắc bao tàng hà tỳ, hiển dị hoặc chúng. Ư&nbsp;tứ cúng dường, tri lượng,&nbsp;tri túc. Thú đắc cúng sự, bất ưng&nbsp;súc tích.<br>Thử tắc lược thuyết&nbsp;trì giới&nbsp;chi tướng. Giới thị chánh thuận&nbsp;giải thoát&nbsp;chi bổn, cố danh Ba-la-đề-mộc-xoa. Nhân y thử giới đắc sanh chư&nbsp;thiền định&nbsp;cập&nbsp;diệt khổ&nbsp;trí huệ.&nbsp;Thị cố&nbsp;tỳ-kheo đương trì&nbsp;tịnh giới, vật linh hủy khuyết. Nhược nhân&nbsp;năng trì&nbsp;tịnh giới, thị tắc năng hữu&nbsp;thiện pháp. Nhược vô&nbsp;tịnh giới, chư thiện&nbsp;công đức&nbsp;giai bất đắc sanh. Thị dĩ đương tri giới vi đệ nhất&nbsp;an ổn&nbsp;công đức&nbsp;chi sở trụ xứ.</p>



<h3 class="wp-block-heading">TAM – CHẾ TÂM</h3>



<p>Nhữ đẳng&nbsp;tỳ-kheo! Dĩ năng trụ giới, đương chế&nbsp;ngũ căn, vật linh&nbsp;phóng dật, nhập ư&nbsp;ngũ dục. Thí như&nbsp;mục ngưu&nbsp;chi nhân, chấp trượng thị chi, bất linh túng dật, phạm nhân miêu giá. Nhược túng&nbsp;ngũ căn, phi duy&nbsp;ngũ dục&nbsp;tương vô nhai bạn, bất khả chế dã, diệc như ác mã bất dĩ bí chế, tương đương khiên nhân trụy ư khanh hãm. Như bị kiếp hại, khổ chỉ&nbsp;nhất thế.&nbsp;Ngũ căn&nbsp;tặc họa, ương cập lũy thế, vi hại thậm trọng, bất khả bất thận.&nbsp;Thị cố&nbsp;trí giả&nbsp;chế nhi bất tùy, trì chi như tặc, bất linh túng dật. Giả linh túng chi, giai diệc bất cửu kiến kỳ&nbsp;ma diệt<br>Thử&nbsp;ngũ căn&nbsp;giả, tâm vi&nbsp;kỳ chủ.&nbsp;Thị cố&nbsp;nhữ đẳng&nbsp;đương hảo chế tâm. Tâm chi khả úy, thậm ư&nbsp;độc xà,&nbsp;ác thú,&nbsp;oán tặc. Đại hỏa việt dật, vị túc dụ dã.<br>Thí như hữu nhân, thủ chấp mật khí,&nbsp;động chuyển&nbsp;khinh táo, đản quan ư mật, bất kiến&nbsp;thâm khanh. Thí như&nbsp;cuồng tượng&nbsp;vô câu, viên hầu đắc thọ, đằng dược tráo trịch, nan khả&nbsp;cấm chế. Đương cấp tỏa chi, vô linh&nbsp;phóng dật. Túng thử tâm giả, táng nhân&nbsp;thiện sự, chế chi nhất xứ, vô sự bất biện.<br>Thị cố&nbsp;tỳ-kheo đương cần&nbsp;tinh tấn, chiết phục nhữ tâm.</p>



<h3 class="wp-block-heading">TỨ – TIẾT THỰC</h3>



<p>Nhữ đẳng&nbsp;tỳ-kheo! Thọ chư&nbsp;ẩm thực, đương như&nbsp;phục dược. Ư hảo, ư ố, vật sanh tăng giảm. Thú đắc chi thân, dĩ trừ cơ khát. Như phong&nbsp;thái hoa, đản thủ kỳ vị, bất tổn hương sắc. Tỳ-kheo diệc nhĩ, thọ nhân&nbsp;cúng dường, thú tự trừ não, vô đắc đa cầu, hoại kỳ&nbsp;thiện tâm. Thí như&nbsp;trí giả,&nbsp;trù lượng&nbsp;ngưu lực sở kham đa thiểu, bất linh quá phận, dĩ kiệt kỳ lực.</p>



<h3 class="wp-block-heading">NGŨ – GIỚI&nbsp;THỤY MIÊN</h3>



<p>Nhữ đẳng&nbsp;tỳ-kheo! Trú tắc cần tâm&nbsp;tu tập&nbsp;thiện pháp, vô linh thất thời.&nbsp;Sơ dạ,&nbsp;hậu dạ, diệc vật hữu phế;&nbsp;trung dạ&nbsp;tụng kinh, dĩ tự&nbsp;tiêu tức. Vô dĩ&nbsp;thụy miên&nbsp;nhân duyên&nbsp;linh&nbsp;nhất sanh&nbsp;không quá,&nbsp;vô sở đắc&nbsp;dã. Đương&nbsp;niệm vô thường&nbsp;chi&nbsp;hỏa thiêu&nbsp;chư&nbsp;thế gian. Tảo&nbsp;cầu tự&nbsp;độ, vật&nbsp;thụy miên&nbsp;dã.<br>Chư&nbsp;phiền não tặc&nbsp;thường&nbsp;tứ sát&nbsp;nhân, thậm ư&nbsp;oán gia. An khả&nbsp;thụy miên, bất tự cảnh ngộ?&nbsp;Phiền não độc&nbsp;xà thụy tại nhữ tâm, thí như&nbsp;hắc nguyên&nbsp;tại nhữ thất thụy. Đương dĩ&nbsp;trì giới&nbsp;chi câu, tảo bính trừ chi. Thụy xà ký xuất, nãi khả an miên. Bất xuất nhi miên, thị&nbsp;vô tàm&nbsp;nhân.<br>Tàm sỉ chi phục, ư chi&nbsp;trang nghiêm, tối vi đệ nhất. Tàm như thiết câu, năng chế nhân&nbsp;phi pháp.&nbsp;Thị cố&nbsp;tỳ-kheo thường đương tàm sỉ, vô đắc tạm thế. Nhược ly tàm sỉ, tắc thất chư&nbsp;công đức.<br>Hữu quý&nbsp;chi nhân, tắc hữu&nbsp;thiện pháp. Nhược&nbsp;vô quý&nbsp;giả, dữ chư&nbsp;cầm thú, vô tương dị dã.</p>



<h3 class="wp-block-heading">LỤC – GIỚI&nbsp;SÂN NHUẾ</h3>



<p>Nhữ đẳng&nbsp;tỳ-kheo! Nhược hữu nhân lai tiết tiết chi giải, đương&nbsp;tự nhiếp&nbsp;tâm, vô linh&nbsp;sân hận; diệc đương hộ khẩu, vật xuất ác ngôn. Nhược túng nhuế tâm, tắc tự phương đạo, thất&nbsp;công đức&nbsp;lợi.<br>Nhẫn chi vi đức,&nbsp;trì giới,&nbsp;khổ hạnh&nbsp;sở bất năng cập.&nbsp;Năng hành&nbsp;nhẫn giả, nãi khả&nbsp;danh vi&nbsp;hữu lực&nbsp;đại nhân. Nhược kỳ bất năng&nbsp;hoan hỷ&nbsp;nhẫn thọ ác mạ chi độc như ẩm&nbsp;cam lộ&nbsp;giả, bất danh&nbsp;nhập đạo&nbsp;trí huệ&nbsp;nhân dã.<br>Sở dĩ&nbsp;giả hà?&nbsp;Sân nhuế&nbsp;chi hại tắc phá chư&nbsp;thiện pháp, hoại hảo&nbsp;danh văn; kim thế,&nbsp;hậu thế&nbsp;nhân bất&nbsp;hỷ kiến.<br>Đương tri&nbsp;sân tâm&nbsp;thậm ư mảnh hỏa, thường đương phòng hộ, vô linh&nbsp;đắc nhập. Kiếp&nbsp;công đức&nbsp;tặc,&nbsp;vô quá&nbsp;sân nhuế.&nbsp;Bạch y&nbsp;thọ dục,&nbsp;phi hành&nbsp;đạo nhân&nbsp;vô pháp&nbsp;tự chế, sân du khả thứ.&nbsp;Xuất gia&nbsp;hành đạo&nbsp;vô dục chi nhân, nhi hoài&nbsp;sân nhuế, thậm bất khả dã! Thí như thanh lãnh vân trung, tịch lịch khởi hỏa, phi sở ưng dã.</p>



<h3 class="wp-block-heading">THẤT – GIỚI&nbsp;KIÊU MẠN</h3>



<p>Nhữ đẳng&nbsp;tỳ-kheo! Đương tự&nbsp;ma đầu, dĩ xả sức hảo, trước&nbsp;hoại sắc y,&nbsp;chấp trì&nbsp;ứng khí, dĩ khất tự hoạt. Tự kiến&nbsp;như thị, nhược khởi&nbsp;kiêu mạn, đương tật diệt chi.&nbsp;Tăng trưởng&nbsp;kiêu mạn, thượng&nbsp;phi thế&nbsp;tục&nbsp;bạch y&nbsp;sở nghi,&nbsp;hà huống&nbsp;xuất gia nhập đạo&nbsp;chi nhân, vị&nbsp;giải thoát&nbsp;cố, tự giáng kỳ thân nhi&nbsp;hành khất&nbsp;da?</p>



<h3 class="wp-block-heading">BÁT – GIỚI&nbsp;SIỂM KHÚC</h3>



<p>Nhữ đẳng&nbsp;tỳ-kheo!&nbsp;Siểm khúc&nbsp;chi tâm dữ đạo&nbsp;tương vi.&nbsp;Thị cố&nbsp;nghi ưng&nbsp;chất trực&nbsp;kỳ tâm. Đương tri&nbsp;siểm khúc&nbsp;đản vi khi cuống,&nbsp;nhập đạo&nbsp;chi nhân tắc vô thị xứ.&nbsp;Thị cố&nbsp;nhữ đẳng&nbsp;nghi đương đoan tâm, dĩ&nbsp;chất trực&nbsp;vi bổn.</p>



<h3 class="wp-block-heading">CỬU –&nbsp;THIỂU DỤC</h3>



<p>Nhữ đẳng&nbsp;tỳ-kheo! Đương tri&nbsp;đa dục&nbsp;chi nhân, đa&nbsp;cầu lợi&nbsp;cố,&nbsp;khổ não&nbsp;diệc đa.&nbsp;Thiểu dục&nbsp;chi nhân, vô cầu vô dục, tắc vô thử hoạn. Trực nhĩ&nbsp;thiểu dục, thượng nghi&nbsp;tu tập,&nbsp;hà huống&nbsp;thiểu dục&nbsp;năng sanh chư công đức?&nbsp;Thiểu dục&nbsp;chi nhân tắc vô&nbsp;siểm khúc&nbsp;dĩ cầu nhân ý, diệc phục bất vi&nbsp;chư căn&nbsp;sở khiên. Hành&nbsp;thiểu dục&nbsp;giả, tâm tắc&nbsp;thản nhiên,&nbsp;vô sở&nbsp;ưu úy. Xúc sự&nbsp;hữu dư, thường&nbsp;vô bất&nbsp;túc. Hữu&nbsp;thiểu dục&nbsp;giả, tắc hữu Niết-bàn. Thị danh&nbsp;thiểu dục.</p>



<h3 class="wp-block-heading">THẬP –&nbsp;TRI TÚC</h3>



<p>Nhữ đẳng&nbsp;tỳ-kheo! Nhược dục thoát chư&nbsp;khổ não, đương quán&nbsp;tri túc.&nbsp;Tri túc&nbsp;chi pháp, tức thị phú lạc,&nbsp;an ổn&nbsp;chi xứ.&nbsp;Tri túc&nbsp;chi nhân tuy ngọa&nbsp;địa thượng, du vi&nbsp;an lạc.&nbsp;Bất tri túc giả, tuy xử&nbsp;thiên đường, diệc bất xứng ý!&nbsp;Bất tri túc giả, tuy phú nhi bần.&nbsp;Tri túc&nbsp;chi nhân, tuy bần nhi phú.&nbsp;Bất tri túc giả, thường vi&nbsp;ngũ dục&nbsp;sở khiên, vi&nbsp;tri túc&nbsp;giả chi sở&nbsp;lân mẫn. Thị danh&nbsp;tri túc.</p>



<h3 class="wp-block-heading">THẬP NHẤT –&nbsp;VIỄN LY</h3>



<p>Nhữ đẳng&nbsp;tỳ-kheo!&nbsp;Dục cầu&nbsp;tịch tĩnh,&nbsp;vô vi,&nbsp;an lạc, đương ly hội náo, độc xử&nbsp;nhàn cư.<br>Tĩnh xử chi nhân, Đế-thích,&nbsp;chư thiên&nbsp;sở cộng&nbsp;kính trọng.&nbsp;Thị cố&nbsp;đương xả kỷ chúng, tha chúng, không nhàn độc xử, tư&nbsp;diệt khổ&nbsp;bổn. Nhược nhạo chúng giả, tắc thọ chúng não. Thí như&nbsp;đại thọ, chúng điểu tập chi, tắc hữu khô chiết chi hoạn.&nbsp;Thế gian&nbsp;phược trước, một ư&nbsp;chúng khổ. Thí như lão tượng nịch nê, bất năng tự xuất. Thị danh&nbsp;viễn ly.</p>



<h3 class="wp-block-heading">THẬP NHỊ&nbsp;–&nbsp;TINH TẤN</h3>



<p>Nhữ đẳng&nbsp;tỳ-kheo! Nhược cần&nbsp;tinh tấn, tắc sự&nbsp;vô nan&nbsp;giả.&nbsp;Thị cố&nbsp;nhữ đẳng&nbsp;đương cần&nbsp;tinh tấn. Thí như tiểu thủy trường lưu, tắc năng xuyên thạch. Nhược&nbsp;hành giả&nbsp;chi tâm sác sác giải phế, thí như toàn hỏa, vị nhiệt nhi tức. Tuy dục đắc hỏa, hỏa nan&nbsp;khả đắc. Thị danh&nbsp;tinh tấn.</p>



<h3 class="wp-block-heading">THẬP TAM – BẤT VONG NIỆM</h3>



<p>Nhữ đẵng tỳ-kheo! Cầu&nbsp;thiện tri thức, cầu thiện&nbsp;hộ trợ, vô như bất vong niệm. Nhược hữu bất vong niệm giả, chư&nbsp;phiền não tặc&nbsp;tắc bất năng nhập.&nbsp;Thị cố&nbsp;nhữ đẳng&nbsp;thường đương nhiếp niệm&nbsp;tại tâm. Nhược&nbsp;thất niệm&nbsp;giả, tắc thất chư&nbsp;công đức. Nhược&nbsp;niệm lực&nbsp;kiên cường, tuy nhập&nbsp;ngũ dục&nbsp;tặc trung, bất vi sở hại. Thí như trước khải nhập trận, tắc&nbsp;vô sở&nbsp;úy. Thị danh bất vong niệm.</p>



<h3 class="wp-block-heading">THẬP TỨ&nbsp;–&nbsp;THIỀN ĐỊNH</h3>



<p>Nhữ đẳng&nbsp;tỳ-kheo! Nhược&nbsp;nhiếp tâm&nbsp;giả, tâm tắc tại định. Tâm tại định cố, năng&nbsp;tri thế gian&nbsp;sanh diệt&nbsp;pháp tướng.&nbsp;Thị cố&nbsp;nhữ đẳng&nbsp;thường đương&nbsp;tinh tấn tu tập&nbsp;chư định. Nhược đắc&nbsp;định giả, tâm tắc bất tán. Thí như&nbsp;tích thủy&nbsp;chi gia, thiện trì đê đường.&nbsp;Hành giả&nbsp;diệc nhĩ,&nbsp;vị trí&nbsp;huệ thủy cố,&nbsp;thiện tu&nbsp;thiền định, linh bất lậu thất. Thị&nbsp;danh vi&nbsp;định.</p>



<h3 class="wp-block-heading">THẬP NGŨ –&nbsp;TRÍ HUỆ</h3>



<p>Nhữ đẳng&nbsp;tỳ-kheo! Nhược hữu&nbsp;trí huệ, tắc&nbsp;vô tham&nbsp;trước, thường tự tỉnh sát, bất linh hữu thất. Thị tắc ư&nbsp;ngã pháp&nbsp;trung, năng đắc&nbsp;giải thoát. Nhược bất nhĩ giả, ký&nbsp;phi đạo&nbsp;nhân, hựu phi&nbsp;bạch y,&nbsp;vô sở&nbsp;danh dã.&nbsp;Thật trí&nbsp;huệ giả tắc thị độ lão&nbsp;bệnh tử&nbsp;hải&nbsp;kiên lao&nbsp;thuyền dã, diệc thị&nbsp;vô minh&nbsp;hắc ám&nbsp;đại minh&nbsp;đăng dã;&nbsp;nhất thiết&nbsp;bệnh giả&nbsp;chi lương&nbsp;dược dã; phạt&nbsp;phiền não&nbsp;thọ chi lợi phủ dã.&nbsp;Thị cố&nbsp;nhữ đẳng&nbsp;đương dĩ&nbsp;văn tư tu&nbsp;huệ nhi tự&nbsp;tăng ích. Nhược&nbsp;nhân hữu&nbsp;trí huệ&nbsp;chi chiếu, tuy thị&nbsp;nhục nhãn, nhi thị minh kiến nhân dã. Thị danh&nbsp;trí huệ.</p>



<h3 class="wp-block-heading">THẬP LỤC&nbsp;– BẤT&nbsp;HÝ LUẬN</h3>



<p>Nhữ đẳng&nbsp;tỳ-kheo! Nhược&nbsp;chủng chủng&nbsp;hý luận, kỳ tâm tắc loạn. Tuy phục&nbsp;xuất gia, du vị&nbsp;đắc thoát.&nbsp;Thị cố&nbsp;tỳ-kheo đương cấp xả ly&nbsp;loạn tâm&nbsp;hý luận. Nhược&nbsp;nhữ đẳng&nbsp;dục đắc&nbsp;tịch diệt&nbsp;lạc giả, duy đương thiện diệt&nbsp;hý luận&nbsp;chi hoạn. Thị danh bất&nbsp;hý luận.</p>



<h3 class="wp-block-heading">THẬP THẤT – TỰ MIỄN</h3>



<p>Nhữ đẳng&nbsp;tỳ-kheo! Ư chư&nbsp;công đức, thường đương&nbsp;nhất tâm. Xả chư&nbsp;phóng dật, như ly&nbsp;oán tặc.&nbsp;Đại bi&nbsp;Thế Tôn&nbsp;sở thuyết&nbsp;lợi ích, giai dĩ&nbsp;cứu cánh.&nbsp;Nhữ đẳng&nbsp;đản đương cần nhi hành chi. Nhược ư sơn gian, nhược không trạch trung, nhược tại thọ hạ, nhàn xử&nbsp;tĩnh thất, niệm sở&nbsp;thọ pháp, vật linh vong thất. Thường đương tự miễn,&nbsp;tinh tấn&nbsp;tu chi.&nbsp;Vô vi không&nbsp;tử, hậu trí hữu hối.<br>Ngã như&nbsp;lương y, tri bệnh thuyết dược. Phục dữ bất phục,&nbsp;phi y&nbsp;cữu giã. Hựu như&nbsp;thiện đạo,&nbsp;đạo nhân&nbsp;thiện đạo. Văn chi bất hành,&nbsp;phi đạo&nbsp;quá dã.</p>



<h3 class="wp-block-heading">THẬP BÁT&nbsp;–&nbsp;QUYẾT NGHI</h3>



<p>Nhữ đẳng&nbsp;nhược ư khổ đẳng&nbsp;Tứ đế, hữu sở nghi giả, khả tật vấn chi. Vô đắc&nbsp;hoài nghi, bất cầu quyết dã.<br>Nhĩ thời,&nbsp;Thế Tôn&nbsp;như thị&nbsp;tam xướng, nhân&nbsp;vô vấn&nbsp;giả.&nbsp;Sở dĩ&nbsp;giả hà? Chúng&nbsp;vô nghi&nbsp;cố.<br>Thời, A-nậu-lâu-đà&nbsp;quán sát&nbsp;chúng tâm, nhi&nbsp;bạch Phật&nbsp;ngôn:<br>Thế-Tôn! Nguyệt khả linh nhiệt, nhật khả linh lãnh,&nbsp;Phật thuyết&nbsp;Tứ đế&nbsp;bất khả linh dị.&nbsp;Phật thuyết&nbsp;Khổ đế&nbsp;thật khổ, bất khả linh lạc. Tập chân thị nhân, cánh vô&nbsp;dị nhân. Khổ nhược diệt giả, tức thị nhân diệt. Nhân diệt, cố quả diệt.&nbsp;Diệt khổ&nbsp;chi đạo, thật&nbsp;thị chân&nbsp;đạo, cánh&nbsp;vô dư&nbsp;đạo.<br>Thế Tôn! Thị chư tỳ-kheo, ư&nbsp;Tứ đế&nbsp;trung,&nbsp;quyết định&nbsp;vô nghi.</p>



<h3 class="wp-block-heading">THẬP CỬU –&nbsp;CHÚNG SANH&nbsp;ĐẮC ĐỘ</h3>



<p>Ư thử chúng trung,&nbsp;sở tác&nbsp;vị biện giả,&nbsp;kiến Phật&nbsp;diệt độ,&nbsp;đương hữu&nbsp;bi cảm. Nhược hữu sơ nhập&nbsp;pháp giả, văn Phật sở thuyết, tức giai&nbsp;đắc độ. Thí như dạ kiến điện quang,&nbsp;tức đắc&nbsp;kiến đạo. Nhược&nbsp;sở tác&nbsp;dĩ biện, dĩ độ&nbsp;khổ hải&nbsp;giả, đản tác thị niệm:&nbsp;Thế Tôn&nbsp;diệt độ, nhất hà tật tai?<br>A-nậu-lâu-đà tuy&nbsp;thuyết thị&nbsp;ngữ, chúng trung giai tất&nbsp;liễu đạt&nbsp;Tứ thánh đế&nbsp;nghĩa.<br>Thế-Tôn dục linh thử chư&nbsp;đại chúng&nbsp;giai đắc&nbsp;kiên cố, dĩ&nbsp;đại bi tâm, phục vị chúng thuyết:<br>Nhữ đẳng&nbsp;tỳ-kheo! Vật hoài bi não. Nhược ngã trụ thế&nbsp;nhất kiếp, hội diệc đương diệt. Hội nhi bất ly, chung&nbsp;bất khả đắc.&nbsp;Tự lợi,&nbsp;lợi tha, pháp giai&nbsp;cụ túc. Nhược ngã&nbsp;cửu trụ, cánh&nbsp;vô sở&nbsp;ích. Ưng khả độ giả, nhược&nbsp;thiên thượng,&nbsp;nhân gian, giai tất dĩ độ. Kỳ vị độ giả, giai diệc dĩ&nbsp;tác đắc&nbsp;độ&nbsp;nhân duyên.</p>



<h3 class="wp-block-heading">NHỊ THẬP –&nbsp;PHÁP THÂN&nbsp;THƯỜNG TẠI</h3>



<p>Tự kim dĩ hậu, ngã chư&nbsp;đệ tử&nbsp;triển chuyển&nbsp;hành chi, tắc thị&nbsp;Như Lai&nbsp;Pháp thân&nbsp;thường tại nhi&nbsp;bất diệt&nbsp;dã.&nbsp;Thị cố&nbsp;đương tri thế giai&nbsp;vô thường, hội tất hữu ly. Vật hoài ưu não.</p>



<p><br>Thế tướng&nbsp;như thị. Đương cần&nbsp;tinh tấn, tảo cầu&nbsp;giải thoát, dĩ&nbsp;trí huệ&nbsp;minh, diệt chư&nbsp;si ám. Thế thật nguy tụy, vô&nbsp;kiên lao&nbsp;giả. Ngã kim đắc diệt, như&nbsp;trừ ác&nbsp;bệnh. Thử thị ưng xả&nbsp;tội ác&nbsp;chi vật,&nbsp;giả danh&nbsp;vi thân, một tại lão, bệnh, sanh, tử&nbsp;đại hải. Hà hữu&nbsp;trí giả&nbsp;đắc&nbsp;trừ diệt&nbsp;chi, như sát&nbsp;oán tặc, nhi bất hoan hỷ?</p>



<h3 class="wp-block-heading">NHỊ THẬP NHẤT –&nbsp;KẾT LUẬN</h3>



<p>Nhữ đẳng&nbsp;tỳ-kheo! Thường đương&nbsp;nhất tâm,&nbsp;cần cầu&nbsp;xuất đạo.&nbsp;Nhất thiết thế gian&nbsp;động bất động pháp, giai thị&nbsp;bại hoại&nbsp;bất an&nbsp;chi tướng.&nbsp;Nhữ đẳng&nbsp;thả chỉ, vật đắc phục ngữ.&nbsp;Thời tương&nbsp;dục quá, ngã dục&nbsp;diệt độ. Thị ngã&nbsp;tối hậu&nbsp;chi sở giáo hối.</p>



<h2 class="wp-block-heading">PHẦN DỊCH NGHĨA</h2>



<p><em>(Đời Hậu Tần&nbsp;Tam Tạng Pháp Sư&nbsp;Cưu-ma-la-thập vâng chiếu dịch)</em><br><br></p>



<h3 class="wp-block-heading">SẮC CHỈ CỦA VUA&nbsp;ĐƯỜNG THÁI TÔNG<br>VỀ VIỆC&nbsp;THỰC HÀNH&nbsp;KINH LỜI DẠY&nbsp;CUỐI CÙNG</h3>



<p>Đức Như Lai&nbsp;xưa trước khi&nbsp;diệt độ, biết rằng về đời&nbsp;mạt pháp&nbsp;con người&nbsp;rồi sẽ khinh bạc&nbsp;quá độ, nên&nbsp;phó chúc&nbsp;cho hàng&nbsp;quốc vương, đại thần&nbsp;hộ trì Phật&nbsp;pháp. Dù vậy, hàng&nbsp;tăng ni&nbsp;xuất gia&nbsp;tự phải nên đầy đủ&nbsp;giới hạnh. Nếu lại buông thả&nbsp;tình ý&nbsp;vào đường&nbsp;dâm dật, vướng vít&nbsp;phiền não, qua lại chốn&nbsp;thế gian, làm&nbsp;trái với&nbsp;kinh luật, tức là đánh mất ý chỉ&nbsp;huyền diệu&nbsp;của&nbsp;Như Lai, lại phụ nghĩa hàng&nbsp;quốc vương&nbsp;nhận lời&nbsp;phó chúc.<br>Kinh&nbsp;Di giáo&nbsp;này do&nbsp;Phật thuyết&nbsp;giảng lúc sắp nhập Niết-bàn, khuyên nhủ hàng&nbsp;đệ tử, lời lẽ rất&nbsp;rõ ràng, thiết yếu. Thế mà những kẻ&nbsp;xuất gia&nbsp;và&nbsp;tại gia&nbsp;đời&nbsp;mạt pháp&nbsp;đều chẳng&nbsp;tôn trọng&nbsp;làm theo.&nbsp;Đại đạo&nbsp;vì thế sắp phải&nbsp;ẩn khuất, lời&nbsp;vi diệu&nbsp;ắt phải tuyệt dứt đi!<br>Trẫm hằng nhớ tưởng&nbsp;Thánh giáo, muốn rộng truyền ra, nên sắc cho quan thuộc sai mười người hay chữ, sao chép kinh này ra nhiều bản, là nhắm đến&nbsp;việc phải&nbsp;làm theo kinh. Những thứ&nbsp;cần dùng&nbsp;như giấy, bút, mực&#8230; quan hữu tư phải lo&nbsp;cung cấp.<br>Hết thảy quan viên từ ngũ phẩm trở lên, cùng thứ sử các châu, mỗi người được trao cho một quyển. Nếu ai thấy&nbsp;đức hạnh,&nbsp;việc làm&nbsp;của hàng&nbsp;tăng ni&nbsp;mà không&nbsp;phù hợp&nbsp;theo kinh này, thì nên lấy cả phép công lẫn tình riêng mà khuyên nhủ, khiến cho phải làm theo.</p>



<h3 class="wp-block-heading">1. TỰA KINH</h3>



<p>Đức Phật&nbsp;Thích-ca Mâu-ni, lúc mới&nbsp;Chuyển pháp luân&nbsp;độ ông&nbsp;A-nhã Kiều-trần-như, đến khi&nbsp;thuyết pháp&nbsp;lần&nbsp;cuối cùng&nbsp;độ ông Tu-bạt-đà-la. Khi những người đáng độ đã độ hết rồi, ở giữa hai cây Sa-la ngài sắp nhập Niết-bàn. Bấy giờ là nửa đêm, khắp nơi yên lặng không một&nbsp;âm thanh&nbsp;gì, Phật vì hàng&nbsp;đệ tử&nbsp;mà lược thuyết những chỗ cốt yếu trong&nbsp;giáo pháp.</p>



<h3 class="wp-block-heading">2.&nbsp;GIỮ GIỚI&nbsp;LUẬT</h3>



<p><em>(Phần Chánh tông)</em><br>&#8220;Tỳ-kheo các ông! Sau khi ta&nbsp;nhập diệt, nên&nbsp;tôn trọng,&nbsp;cung kính&nbsp;đối với&nbsp;giới luật, như ở&nbsp;chỗ tối&nbsp;tăm được thấy ánh sáng; như người nghèo được&nbsp;của báu. Nên biết rằng&nbsp;giới luật&nbsp;là thầy của các ông, cũng như ta đây còn trụ thế, không hề khác biệt.<br>&#8220;Người&nbsp;giữ giới&nbsp;trong sạch&nbsp;không được làm việc buôn bán đổi chác; mua giữ ruộng đất, nhà cửa;&nbsp;nuôi dưỡng&nbsp;nô tỳ,&nbsp;súc vật&nbsp;để&nbsp;cầu lợi. Tất cả những loại giống cây trồng cùng mọi thứ&nbsp;của cải&nbsp;quý báu&nbsp;đều phải nên xa lánh, như tránh xa hầm lửa vậy. Không được đốn chặt cây cỏ, cày ruộng, đào đất; bào chế thuốc thang;&nbsp;xem tướng&nbsp;lành dữ; nhìn sao&nbsp;trên trời&nbsp;để suy lường&nbsp;vận mệnh&nbsp;nên hư. Những việc xem ngày giờ tốt xấu đều chẳng nên làm.<br>&#8220;Hãy dè dặt giữ mình có&nbsp;tiết độ,&nbsp;ăn uống&nbsp;đúng giờ, nuôi sống bằng cách&nbsp;trong sạch. Không được&nbsp;tham dự&nbsp;những công việc của người đời, làm người&nbsp;đưa tin, làm&nbsp;sứ giả. Những việc như luyện&nbsp;chú thuật,&nbsp;thuốc tiên;&nbsp;giao hảo&nbsp;với người&nbsp;sang trọng, khinh thường kẻ thân cận gần gũi, đều không nên làm.<br>&#8220;Phải tự mình luôn giữ&nbsp;chánh niệm, tâm ngay thẳng cầu thoát&nbsp;sanh tử. Không được che giấu&nbsp;lỗi lầm, hay làm những việc&nbsp;dị thường&nbsp;để&nbsp;mê hoặc&nbsp;người khác. Đối với bốn món được&nbsp;cúng dường&nbsp;nên có&nbsp;chừng mực, biết&nbsp;vừa đủ. Khi được&nbsp;cúng dường, chẳng nên chứa trữ lại.<br>&#8220;Đó là nói sơ qua&nbsp;hình tướng&nbsp;của việc&nbsp;giữ giới.&nbsp;Giới luật&nbsp;chính là&nbsp;thuận theo&nbsp;gốc của&nbsp;giải thoát, cho nên gọi là&nbsp;Tùy thuận giải thoát. Nhờ nương theo&nbsp;giới luật&nbsp;mà sanh ra các môn&nbsp;thiền định và trí huệ&nbsp;diệt khổ.&nbsp;Vì vậy&nbsp;mà tỳ-kheo phải&nbsp;giữ giới&nbsp;trong sạch, không để có sự hủy phạm,&nbsp;thiếu sót. Nếu ai&nbsp;giữ giới&nbsp;trong sạch, ắt được các pháp lành.&nbsp;Nếu không&nbsp;giữ giới&nbsp;trong sạch, thì các&nbsp;công đức&nbsp;lành đều chẳng thể sanh ra. Nên phải biết rằng,&nbsp;giới luật&nbsp;là chỗ trụ&nbsp;an ổn&nbsp;bậc&nbsp;nhất sanh&nbsp;các&nbsp;công đức.&#8221;</p>



<h3 class="wp-block-heading">3. CHẾ TÂM</h3>



<p>&#8220;Tỳ-kheo các ông! Đã có thể trụ yên nơi giới rồi, nên&nbsp;chế ngự&nbsp;năm căn, chớ để&nbsp;phóng dật,&nbsp;chạy theo&nbsp;năm dục.&nbsp;Ví như&nbsp;người chăn bò, cầm gậy&nbsp;canh giữ, chẳng để cho&nbsp;tự do&nbsp;chạy bậy,&nbsp;xâm phạm&nbsp;ruộng người.<br>&#8220;Nếu buông thả năm căn, chẳng những là chúng&nbsp;chạy theo&nbsp;năm dục&nbsp;không có&nbsp;giới hạn, không&nbsp;thể chế&nbsp;ngự được, lại như ngựa dữ không dây cương&nbsp;kiềm chế, sẽ lôi người xuống hầm hố. Như bị giặc cướp làm hại, chỉ khổ&nbsp;một đời&nbsp;này thôi, nhưng bị giặc năm căn gây hại,&nbsp;khổ nạn&nbsp;kéo dài nhiều kiếp, lại rất nặng nề, không&nbsp;thể không&nbsp;thận trọng.<br>&#8220;Vậy nên người có trí&nbsp;chế ngự&nbsp;các căn, chẳng hề&nbsp;tùy theo; phòng giữ như giặc cướp, không để buông thả. Nếu buông thả ra, chẳng bao lâu ắt phải diệt mất vì xúc chạm.<br>&#8220;Tâm là chủ của năm căn. Vậy nên các ông phải khéo&nbsp;chế ngự&nbsp;tâm. Tâm rất&nbsp;đáng sợ, hơn cả&nbsp;rắn độc,&nbsp;thú dữ, kẻ giặc thù, nạn lửa lớn&nbsp;tràn lan&#8230; Những&nbsp;thí dụ&nbsp;như thế cũng còn chưa đủ. Sự nguy cấp giống như người tay cầm bát mật, đi lại nhanh nhẹn, mắt chỉ nhìn vào mật nên chẳng thấy cái hố rất sâu dưới chân; như con voi điên không có móc sắt để kiềm giữ; lại như con vượn được lên cây, mặc tình&nbsp;nhảy nhót, khó bề ngăn cấm,&nbsp;chế ngự. Phải mau mau&nbsp;kiềm chế, chớ để&nbsp;phóng dật. Nếu buông thả tâm, tất cả&nbsp;việc lành&nbsp;sẽ bị hủy hoại mất;&nbsp;chế ngự&nbsp;được tâm rồi, không việc gì không xong.<br>&#8220;Vậy nên chư tỳ-kheo phải siêng năng&nbsp;tinh tấn,&nbsp;chế ngự&nbsp;cho được tâm.&#8221;</p>



<h3 class="wp-block-heading">4.&nbsp;ĂN UỐNG&nbsp;CÓ&nbsp;TIẾT ĐỘ</h3>



<p>&#8220;Tỳ-kheo các ông! Khi&nbsp;ăn uống&nbsp;nên&nbsp;xem như&nbsp;dùng thuốc để trị bệnh, dù ngon dù dở cũng chỉ dùng đúng mức, đưa vào&nbsp;thân thể&nbsp;chỉ để khỏi&nbsp;đói khát&nbsp;mà thôi.<br>&#8220;Như con ong hút mật, chỉ lấy nhụy hoa mà chẳng làm&nbsp;tổn hại&nbsp;hương sắc. Tỳ-kheo cũng vậy, nhận sự&nbsp;cúng dường&nbsp;của người ta đủ trừ&nbsp;đói khát, chẳng được tham cầu nhiều,&nbsp;tổn hại&nbsp;đến lòng lành của người; như kẻ khôn ngoan biết lượng sức con bò kéo, chẳng ép quá nặng khiến phải&nbsp;kiệt sức.&#8221;<br><br></p>



<h3 class="wp-block-heading">5. ĐỪNG THAM NGỦ NHIỀU</h3>



<p>&#8220;Tỳ-kheo các ông! Trọn ngày nên siêng năng&nbsp;tu tập&nbsp;thiện pháp, chẳng phí&nbsp;thời gian. Ban đêm, cũng chẳng nên bỏ mất&nbsp;lúc đầu&nbsp;hôm và lúc gần sáng. Còn lúc nửa đêm, lấy việc&nbsp;tụng kinh&nbsp;để tự&nbsp;biết mình. Đừng để việc ngủ mê làm cho&nbsp;một đời&nbsp;phải uổng phí không được gì cả. Thường nhớ đến ngọn lửa&nbsp;vô thường&nbsp;luôn thiêu đốt cõi thế, sớm lo cầu&nbsp;độ thoát&nbsp;lấy mình, chẳng ham mê ngủ. Giặc&nbsp;phiền não&nbsp;thường luôn rình rập giết hại người,&nbsp;độc hại&nbsp;hơn kẻ oán thù. Sao còn ham ngủ mà chẳng tự thức tỉnh? Con&nbsp;rắn độc&nbsp;phiền não&nbsp;đang ngủ trong tâm, như con trăn dữ đang ngủ trong nhà. Hãy dùng cái móc sắt&nbsp;trì giới&nbsp;mà sớm trừ bỏ đi. Con rắn mê ngủ ấy trừ được rồi, mới có thể ngủ yên được. Chưa trừ được rắn ấy mà vẫn ngủ là không biết tự&nbsp;hổ thẹn.<br>&#8220;Lấy sự tự&nbsp;hổ thẹn&nbsp;làm trang phục, đó là bậc nhất trong các món trang sức làm đẹp.&nbsp;Hổ thẹn&nbsp;giống như cái móc sắc, có thể giúp&nbsp;chế ngự&nbsp;được&nbsp;việc làm&nbsp;sai trái. Nên tỳ-kheo thường luôn phải biết tự&nbsp;hổ thẹn, không lúc nào lơ đễnh. Nếu mình lìa khỏi sự&nbsp;hổ thẹn, ắt phải mất hết các&nbsp;công đức.<br>&#8220;Người biết&nbsp;xấu hổ&nbsp;thì mới làm được điều lành. Kẻ không biết&nbsp;xấu hổ, chẳng khác chi loài&nbsp;cầm thú.&#8221;<br><br></p>



<h3 class="wp-block-heading">6. KHÔNG NÓNG GIẬN</h3>



<p>&#8220;Tỳ-kheo các ông! Nếu có người đến cắt xẻo&nbsp;thân thể&nbsp;ra từng mảnh, hãy&nbsp;tự nhiếp&nbsp;tâm không&nbsp;nên nóng giận; cũng phòng hộ nơi miệng, chớ nói lời&nbsp;ác độc. Nếu buông thả tâm nóng giận là tự mình làm hại đạo, mất hết&nbsp;lợi ích&nbsp;công đức.<br>&#8220;Nhẫn nhục là đức tính mà&nbsp;trì giới&nbsp;với&nbsp;khổ hạnh&nbsp;cũng chẳng&nbsp;bì kịp. Người có thể&nbsp;nhẫn nhục&nbsp;mới đáng gọi là bậc&nbsp;đại nhân&nbsp;có&nbsp;sức mạnh. Như người chẳng thể&nbsp;vui lòng&nbsp;nhận lời&nbsp;mắng chửi&nbsp;độc ác&nbsp;như uống nước&nbsp;cam lộ, thì chẳng thể gọi là bậc&nbsp;trí huệ&nbsp;đã&nbsp;nhập đạo. Tại sao vậy? Cái hại của sự nóng giận là&nbsp;phá hoại&nbsp;các pháp lành, làm mất&nbsp;danh tiếng&nbsp;tốt, khiến cho đời này và&nbsp;đời sau&nbsp;chẳng ai muốn gặp gỡ mình.<br>&#8220;Nên biết rằng tâm nóng giận còn hơn cả lửa dữ, phải thường phòng hộ, không để cho nhập vào. Giặc cướp&nbsp;công đức, không gì hơn tâm nóng giận. Người&nbsp;thế tục&nbsp;thọ hưởng&nbsp;dục lạc, chẳng phải người&nbsp;hành đạo&nbsp;nên không có cách tự chế, nóng giận còn có thể&nbsp;tha thứ&nbsp;được; như người&nbsp;xuất gia&nbsp;hành đạo, không&nbsp;tham dục, mà còn ôm giữ sự nóng giận,&nbsp;thật không&nbsp;thể được. Như giữa trời xanh trong mát mà có&nbsp;sấm sét&nbsp;nảy lửa,&nbsp;thật không&nbsp;phải việc đáng có.&#8221;<br><br></p>



<h3 class="wp-block-heading">7. ĐỪNG&nbsp;KIÊU MẠN</h3>



<p>&#8220;Tỳ-kheo các ông! Khi tự xoa đầu nhớ rằng đã xả bỏ những món trang sức đẹp, mặc áo&nbsp;hoại sắc, ôm giữ&nbsp;ứng khí&nbsp;lấy việc&nbsp;xin ăn&nbsp;mà nuôi sống. Tự thấy như vậy, nếu&nbsp;khởi tâm&nbsp;kiêu mạn&nbsp;thì hãy mau trừ bỏ đi. Người&nbsp;thế tục&nbsp;còn chẳng nên để lòng&nbsp;kiêu mạn&nbsp;tăng trưởng, huống chi là những kẻ&nbsp;xuất gia nhập đạo&nbsp;đã vì muốn&nbsp;được giải thoát&nbsp;mà tự&nbsp;hạ mình&nbsp;đi xin ăn?&#8221;<br><br></p>



<h3 class="wp-block-heading">8. TRỪ TÂM&nbsp;SIỂM KHÚC</h3>



<p>&#8220;Tỳ-kheo các ông! Tâm&nbsp;siểm khúc&nbsp;là&nbsp;trái với&nbsp;đạo.&nbsp;Vì vậy&nbsp;nên&nbsp;cần phải&nbsp;giữ lòng chơn chất, ngay thẳng. Nên biết rằng tâm&nbsp;siểm khúc&nbsp;chỉ là để lừa dối. Người&nbsp;nhập đạo&nbsp;ắt không như vậy. Các ông nên giữ lòng đoan chánh, lấy sự chơn chất ngay thẳng làm gốc.&#8221;<br><br></p>



<h3 class="wp-block-heading">9. ÍT&nbsp;HAM MUỐN</h3>



<p>&#8220;Tỳ-kheo các ông! Nên biết rằng người nhiều&nbsp;ham muốn&nbsp;luôn cầu được nhiều món lợi, nên&nbsp;khổ não&nbsp;cũng nhiều. Người ít&nbsp;ham muốn&nbsp;không bị sự mong cầu,&nbsp;ham muốn&nbsp;gây ra cái hại ấy. Chỉ một việc ít&nbsp;ham muốn&nbsp;đó, rất nên&nbsp;tu tập; huống chi ít&nbsp;ham muốn&nbsp;lại có thể sanh ra các&nbsp;công đức&nbsp;nữa?<br>&#8220;Người ít&nbsp;ham muốn&nbsp;thì không có tâm&nbsp;siểm khúc&nbsp;để cầu cho được&nbsp;vừa lòng&nbsp;người, lại cũng không bị các căn dắt dẫn. Người&nbsp;thực hành&nbsp;ít&nbsp;ham muốn&nbsp;thì lòng được&nbsp;thản nhiên, không lo sợ chi cả; cho dù gặp việc thế nào cũng tự thấy đầy đủ. Giữ tâm ít&nbsp;ham muốn, ắt được Niết-bàn.<br>&#8220;Như vậy gọi là ít&nbsp;ham muốn.&#8221;<br><br></p>



<h3 class="wp-block-heading">10. BIẾT ĐỦ</h3>



<p>&#8220;Tỳ-kheo các ông! Nếu muốn&nbsp;thoát khỏi&nbsp;mọi&nbsp;khổ não, nên quán xét việc biết đủ. Phép biết đủ chính là chỗ&nbsp;giàu có,&nbsp;vui vẻ,&nbsp;an ổn. Người biết đủ dù nằm trên mặt đất, vẫn thấy yên vui. Người không biết đủ, dù ở trên cảnh trời cũng chưa thỏa ý.<br>&#8220;Kẻ không biết đủ, tuy giàu mà nghèo. Người biết đủ, tuy nghèo mà giàu. Kẻ không biết đủ thường bị&nbsp;năm dục&nbsp;dắt dẫn, nên người biết đủ lấy làm&nbsp;thương xót&nbsp;lắm.<br>&#8220;Như vậy gọi là sự biết đủ.&#8221;<br><br></p>



<h3 class="wp-block-heading">11.&nbsp;XA LÌA</h3>



<p>&#8220;Tỳ-kheo các ông! Muốn&nbsp;cầu tịch&nbsp;tĩnh,&nbsp;vô vi,&nbsp;an lạc, nên lìa chỗ&nbsp;tụ họp&nbsp;huyên náo,&nbsp;một mình&nbsp;ở nơi&nbsp;thanh vắng. Người ở nơi yên tĩnh, Đế-thích và&nbsp;chư thiên&nbsp;đều&nbsp;kính trọng.&nbsp;Vì vậy,&nbsp;chúng hội&nbsp;của mình, của người khác đều nên xả bỏ, đến ở&nbsp;một mình&nbsp;nơi chỗ&nbsp;thanh vắng,&nbsp;suy nghĩ&nbsp;mà diệt tận gốc khổ.<br>&#8220;Nếu&nbsp;ưa thích&nbsp;nơi&nbsp;chúng hội, tất phải chịu mọi&nbsp;khổ não.&nbsp;Ví như&nbsp;cây lớn, có nhiều chim chóc&nbsp;tụ họp, tất không khỏi&nbsp;mối họa&nbsp;cành nhánh khô gãy. Bị vướng buộc vào cảnh&nbsp;thế tục, tất phải&nbsp;chìm đắm&nbsp;trong bể khổ, như con voi già sa lầy, chẳng thể tự ra khỏi được.<br>&#8220;Như vậy gọi là sự&nbsp;xa lìa.&#8221;<br><br></p>



<h3 class="wp-block-heading">12.&nbsp;TINH TẤN</h3>



<p>&#8220;Tỳ-kheo các ông! Nếu&nbsp;chuyên cần&nbsp;tinh tấn&nbsp;thì không có việc chi là khó. Bởi vậy, các ông nên&nbsp;chuyên cần&nbsp;tinh tấn.&nbsp;Ví như&nbsp;dòng nước nhỏ mà chảy mãi thì cũng làm mòn thủng được hòn đá. Nếu trong tâm người tu&nbsp;giải đãi,&nbsp;biếng nhác, cũng giống như người xát cây lấy lửa, chưa nóng đã vội ngưng nghỉ. Dù người ấy muốn được lửa cũng khó mà được.<br>&#8220;Như vậy gọi là sự&nbsp;tinh tấn.&#8221;<br><br></p>



<h3 class="wp-block-heading">13. KHÔNG MẤT&nbsp;CHÁNH NIỆM</h3>



<p>&#8220;Tỳ-kheo các ông! Cầu được bậc&nbsp;thiện tri thức, cầu được người khéo phù trợ, cũng không bằng chẳng để mất&nbsp;chánh niệm. Nếu người không mất&nbsp;chánh niệm, giặc&nbsp;phiền não&nbsp;chẳng&nbsp;xâm nhập&nbsp;được. Vậy nên các ông phải thường thâu nhiếp&nbsp;chánh niệm&nbsp;trong tâm. Nếu để mất&nbsp;chánh niệm&nbsp;thì mất hết&nbsp;công đức. Như&nbsp;niệm lực&nbsp;được mạnh mẽ, bền bỉ, thì dù vào giữa đám giặc&nbsp;năm dục&nbsp;cũng chẳng bị hại; cũng như mặc áo giáp ra trận thì không sợ chi cả.<br>&#8220;Như vậy gọi là không mất&nbsp;chánh niệm.&#8221;<br><br></p>



<h3 class="wp-block-heading">14.&nbsp;THIỀN ĐỊNH</h3>



<p>&#8220;Tỳ-kheo các ông! Nếu người&nbsp;nhiếp tâm&nbsp;thì tâm được định. Nhờ tâm được định, có thể biết được các tướng của pháp&nbsp;sanh diệt&nbsp;ở&nbsp;thế gian. Vậy nên các ông thường phải&nbsp;tinh tấn tu tập&nbsp;các phép định. Nếu người được định thì tâm chẳng&nbsp;tán loạn.&nbsp;Ví như&nbsp;người muốn giữ nước, phải khéo đắp sửa bờ đê. Người tu&nbsp;cũng thế, vì giữ nước&nbsp;trí huệ, nên khéo&nbsp;tu thiền&nbsp;định, chẳng để cho rỉ chảy mất.<br>&#8220;Như vậy gọi là định.&#8221;<br><br></p>



<h3 class="wp-block-heading">15.&nbsp;TRÍ HUỆ</h3>



<p>&#8220;Tỳ-kheo các ông! Nếu có&nbsp;trí huệ&nbsp;thì không tham đắm,&nbsp;vướng mắc. Thường tự&nbsp;xét mình, chẳng để có sai sót. Như&nbsp;vậy thì&nbsp;ở trong pháp ta có thể&nbsp;được giải thoát. Nếu chẳng được vậy, thì chẳng phải người&nbsp;tu đạo, cũng chẳng phải người&nbsp;thế tục, chẳng có tên để gọi.<br>&#8220;Trí huệ thật là chiếc thuyền bền chắc đưa người&nbsp;vượt qua&nbsp;biển già, bệnh, chết; lại như&nbsp;ngọn đèn&nbsp;lớn sáng soi trong chỗ&nbsp;vô minh&nbsp;đen tối; như món thuốc hay trị được hết thảy bệnh tật; như cái rìu sắc bén đốn ngã cây&nbsp;phiền não. Vậy nên các ông phải lấy các môn&nbsp;trí huệ&nbsp;là nghe biết,&nbsp;suy xét,&nbsp;tu tập&nbsp;mà tự làm tăng thêm phần&nbsp;ích lợi. Nếu người được sự chiếu sáng của&nbsp;trí huệ, thì dù chỉ có&nbsp;mắt thịt, nhưng&nbsp;chính thật&nbsp;là người thấy rõ tất cả. Như vậy gọi là&nbsp;trí huệ.&#8221;<br><br></p>



<h3 class="wp-block-heading">16. KHÔNG NÓI ĐÙA</h3>



<p>&#8220;Tỳ-kheo các ông! Nếu nói đủ thứ chuyện chỉ cốt để đùa chơi thì tâm phải&nbsp;tán loạn. Như vậy cho dù&nbsp;xuất gia&nbsp;nhưng chưa&nbsp;được giải thoát. Vì thế mà tỳ-kheo phải mau mau&nbsp;lìa bỏ&nbsp;việc&nbsp;loạn tâm&nbsp;nói đùa. Nếu các ông muốn được niềm vui&nbsp;tịch diệt, chỉ nên khéo dứt trừ mối hại của việc nói đùa.<br>&#8220;Như vậy gọi là không nói đùa.&#8221;<br><br></p>



<h3 class="wp-block-heading">17. TỰ&nbsp;GẮNG SỨC</h3>



<p>&#8220;Tỳ-kheo các ông! Đối với các&nbsp;công đức&nbsp;thường nên&nbsp;hết lòng.&nbsp;Từ bỏ&nbsp;sự&nbsp;phóng dật&nbsp;như tránh xa giặc thù. Những chỗ&nbsp;lợi ích&nbsp;mà đức&nbsp;Đại bi&nbsp;Thế Tôn&nbsp;đã thuyết đều có thể lấy làm&nbsp;cứu cánh, các ông phải nên siêng năng&nbsp;thực hành. Như khi ở chốn núi cao hoặc chỗ đầm lầy vắng vẻ, hoặc&nbsp;dưới gốc cây, hoặc&nbsp;buông bỏ&nbsp;mọi việc&nbsp;vào ở trong nhà vắng, đều phải luôn nghĩ nhớ đến các pháp đã thọ học, đừng để quên mất, thường tự&nbsp;gắng sức&nbsp;tinh tấn tu tập. Chớ để uổng phí cả&nbsp;một đời&nbsp;mà sau nầy phải&nbsp;hối tiếc.<br>&#8220;Ta như thầy thuốc, biết bệnh cho thuốc. Người bệnh chịu uống thuốc ấy hay không, chẳng phải do lỗi nơi thầy thuốc. Lại cũng như người khéo&nbsp;chỉ đường, chỉ cho&nbsp;mọi người&nbsp;con đường&nbsp;tốt. Nghe rồi mà chẳng&nbsp;đi theo, thật chẳng phải lỗi nơi người&nbsp;chỉ đường.&#8221;<br><br></p>



<h3 class="wp-block-heading">18. DỨT LÒNG NGHI</h3>



<p>&#8220;Nếu các ông có chỗ&nbsp;nghi ngờ&nbsp;nơi pháp&nbsp;Tứ đế, thì mau hỏi đi. Đừng ôm lòng nghi mà chẳng cầu được làm rõ.&#8221;<br>Lúc ấy,&nbsp;đức Thế Tôn&nbsp;nói đến ba lần như vậy, nhưng không ai hỏi chi cả. Vì sao vậy? Vì trong&nbsp;chúng hội&nbsp;thật không&nbsp;ai còn có lòng nghi.<br>Bấy giờ, A-nậu-lâu-đà quán biết tâm ý của cả&nbsp;chúng hội, liền&nbsp;bạch Phật&nbsp;rằng:<br>&#8220;Bạch Thế Tôn!&nbsp;Mặt trăng&nbsp;có thể làm cho nóng lên,&nbsp;mặt trời&nbsp;lạnh đi, nhưng&nbsp;Phật thuyết&nbsp;pháp&nbsp;Tứ đế, không thể nào làm cho sai khác.&nbsp;Phật thuyết&nbsp;Khổ đế,&nbsp;quả thật&nbsp;là khổ, không thể nói thành vui. Nói&nbsp;Tập đế&nbsp;là nhân, thật là không còn có nhân nào khác nữa. Nếu diệt được khổ, tức là nhân đã diệt. Chính vì nhân đã diệt nên quả phải diệt. Đạo&nbsp;diệt khổ&nbsp;thật là&nbsp;đạo chân&nbsp;chánh, không còn đạo nào khác nữa.<br>&#8220;Bạch Thế Tôn! Chư tỳ-kheo nay đối với pháp&nbsp;Tứ đế&nbsp;đã&nbsp;tin chắc&nbsp;không có lòng nghi.&#8221;<br><br></p>



<h3 class="wp-block-heading">19.&nbsp;CHÚNG SANH&nbsp;ĐƯỢC&nbsp;ĐỘ THOÁT</h3>



<p>&#8220;Trong&nbsp;chúng hội&nbsp;này, những người chưa&nbsp;đắc quả&nbsp;A-la-hán thấy Phật&nbsp;nhập diệt, ắt sanh lòng&nbsp;bi cảm. Những người vừa mới vào cửa Pháp,&nbsp;nghe lời&nbsp;Phật thuyết&nbsp;ắt sẽ được&nbsp;độ thoát&nbsp;ngay. Như trong đêm tối vừa có tia chớp sáng liền thấy đường đi. Còn những người đã&nbsp;đắc quả&nbsp;A-la-hán,&nbsp;vượt qua&nbsp;biển khổ, thì chỉ nghĩ rằng:&nbsp;Đức Thế Tôn&nbsp;diệt độ&nbsp;sớm thế sao!&#8221;<br>Tuy A-nậu-lâu-đà nói ra lời ấy, nhưng trong&nbsp;chúng hội&nbsp;ai nấy&nbsp;đều đã&nbsp;hiểu rõ&nbsp;nghĩa của&nbsp;Bốn Thánh đế.<br>Đức Thế Tôn&nbsp;muốn cho&nbsp;đại chúng&nbsp;đều được lòng&nbsp;kiên cố, nên lấy tâm&nbsp;đại bi, lại vì cả&nbsp;chúng hội&nbsp;mà nói lời này:<br>&#8220;Tỳ-kheo các ông! Đừng ôm lòng&nbsp;bi thương&nbsp;áo não. Như ta có trụ thế trọn một kiếp,&nbsp;cuối cùng&nbsp;cũng phải&nbsp;diệt độ. Hợp mà không tan,&nbsp;thật không&nbsp;thể được. Chỗ lợi mình, lợi người, trong pháp ta đều đã dạy đủ. Nếu ta ở đời lâu nữa cũng không có ích gì. Những ai có thể&nbsp;cứu độ, ở&nbsp;cõi trời, người, đều đã được&nbsp;cứu độ. Còn những ai chưa thể&nbsp;cứu độ, ta cũng đã tạo&nbsp;nhân duyên&nbsp;cứu độ&nbsp;về sau rồi.&#8221;<br><br></p>



<h3 class="wp-block-heading">20.&nbsp;PHÁP THÂN&nbsp;CÒN MÃI</h3>



<p><em>(Phần&nbsp;Lưu thông)</em><br>&#8220;Từ nay về sau,&nbsp;đệ tử&nbsp;của ta cứ&nbsp;tuần tự&nbsp;y theo&nbsp;nơi pháp mà&nbsp;thực hành. Như vậy là&nbsp;Pháp thân&nbsp;của&nbsp;Như Lai&nbsp;vẫn thường còn chẳng mất. Nên phải biết rằng&nbsp;mọi việc&nbsp;trong đời&nbsp;đều&nbsp;vô thường, có tụ hội ắt có chia lìa. Đừng ôm lòng&nbsp;sầu khổ&nbsp;nữa,&nbsp;hình tướng&nbsp;ở đời là như thế. Hãy siêng năng&nbsp;tinh tấn, sớm cầu&nbsp;giải thoát, đem ánh&nbsp;sáng trí&nbsp;huệ mà&nbsp;trừ diệt&nbsp;ngu si&nbsp;u ám.&nbsp;Cuộc đời&nbsp;thật là&nbsp;mong manh, nguy hiểm, không gì bền chắc. Nay ta sắp&nbsp;nhập diệt, như trừ xong bệnh dữ. Cái&nbsp;hình tướng&nbsp;tội lỗi&nbsp;ác độc&nbsp;đáng xả bỏ này, giả tạm mà gọi là cái thân,&nbsp;chìm đắm&nbsp;trong chốn biển lớn&nbsp;sanh tử, bệnh lão. Có bậc trí nào đã dứt trừ được nó, như giết được kẻ giặc thù mà lại không vui?&#8221;<br><br></p>



<h3 class="wp-block-heading">21.&nbsp;KẾT LUẬN</h3>



<p>&#8220;Tỳ-kheo các ông! Thường nên&nbsp;hết lòng&nbsp;chuyên cần&nbsp;cầu&nbsp;học đạo&nbsp;giải thoát. Hết thảy các pháp động và&nbsp;bất động&nbsp;ở&nbsp;thế gian&nbsp;đều là tướng&nbsp;bại hoại, chẳng&nbsp;an ổn. Các ông thôi đừng nói&nbsp;gì nữa.&nbsp;Thời giờ&nbsp;sắp qua, ta sắp&nbsp;diệt độ. Đây là những lời dạy dỗ&nbsp;cuối cùng&nbsp;của ta vậy.&#8221;<br><br><em><br><br></em></p>
]]></content:encoded>
					
		
		
			</item>
		<item>
		<title>NGHI THỨC TỤNG KINH DIỆU PHÁP LIÊN HOAPHẨM QUÁN THẾ ÂM BỒ TÁT PHỔ MÔN(KINH PHỔ MÔN – CẦU AN)</title>
		<link>https://phatgiaovinhphuc.vn/2024/11/06/nghi-thuc-tung-kinh-dieu-phap-lien-hoapham-quan-the-am-bo-tat-pho-monkinh-pho-mon-cau-an/</link>
		
		<dc:creator><![CDATA[trast1]]></dc:creator>
		<pubDate>Wed, 06 Nov 2024 13:24:26 +0000</pubDate>
				<category><![CDATA[Kinh tạng]]></category>
		<guid isPermaLink="false">https://phatgiaovinhphuc.vn/?p=2481</guid>

					<description><![CDATA[NGHI THỨC TỤNG KINH DIỆU PHÁP LIÊN HOAPHẨM QUÁN THẾ ÂM BỒ TÁT PHỔ MÔN(KINH PHỔ MÔN – CẦU AN) NGUYỆN HƯƠNG(Tùy khóɑ lễ, có thể lược bớt) (Vị Chứnɡ minh hoặc Chủ lễ mật niệm 🙂CHƠN NGÔN TỊNH PHÁP GIỚI :Án lɑm. (7 lần)CHƠN NGÔN TỊNH BA NGHIỆP :Án tɑ phạ bà phạ, thuật [...]]]></description>
										<content:encoded><![CDATA[


<p>NGHI THỨC TỤNG KINH DIỆU PHÁP LIÊN HOA<br>PHẨM QUÁN THẾ ÂM BỒ TÁT PHỔ MÔN<br>(KINH PHỔ MÔN – CẦU AN)</p>



<p>NGUYỆN HƯƠNG<br>(Tùy khóɑ lễ, có thể lược bớt)</p>



<p>(Vị Chứnɡ minh hoặc Chủ lễ mật niệm <img src="https://s.w.org/images/core/emoji/16.0.1/72x72/1f642.png" alt="🙂" class="wp-smiley" style="height: 1em; max-height: 1em;" /><br>CHƠN NGÔN TỊNH PHÁP GIỚI :<br>Án lɑm. (7 lần)<br>CHƠN NGÔN TỊNH BA NGHIỆP :<br>Án tɑ phạ bà phạ, thuật đà tɑ phạ, đạt mạ tɑ phạ, bà phạ thuật độ hám. (3 lần)</p>



<p>(Duy nɑ chập chuônɡ 2 cái, đánh 3 tiếnɡ, chập¦¦ ¦¦ ¦¦<br>Vị Chứnɡ minh hoặc Chủ lễ cầm 3 cây hươnɡ, quỳ nɡɑy thẳnɡ, kính cẩn, niệm lớn : )<br>Nɑm mô Tɑ Bà Giáo chủ Điều nɡự Bổn sư Thích Cɑ Mâu Ni Phật, tác đại chứnɡ minh. ¦ (1 xá)<br>Nɑm mô Tây phươnɡ Cực Lạc thế ɡiới Đại từ Đại bi A Di Đà Phật, tác đại chứnɡ minh. ¦ (1 xá)<br>Nɑm mô Tây thiên Đônɡ độ, Việt Nɑm Lịch đại Chư vị Tổ sư, tác đại chứnɡ minh.¦ (1 xá)<br>Nɡuyện đem lònɡ thành kính,<br>Gởi theo đám mây hươnɡ,<br>Phảnɡ phất khắp mười phươnɡ,<br>Cúnɡ dườnɡ nɡôi Tɑm bảo.<br>Thề trọn đời ɡiữ đạo,<br>Theo tự tánh làm lành,<br>Cùnɡ pháp ɡiới chúnɡ sɑnh,<br>Cầu Phật từ ɡiɑ hộ,<br>Tâm Bồ đề kiên cố,<br>Chí tu học vữnɡ bền,<br>Xɑ bể khổ nɡuồn mê,<br>Chónɡ quɑy về bờ ɡiác. ¦<br>Nɡưỡnɡ bạch chư Phật bɑ đời tronɡ mười phươnɡ thế ɡiới :<br>Tại chùɑ . . . . . . , nɑy có chư tín chủ . . . . . thành tâm sắm sửɑ hươnɡ đănɡ hoɑ quả làm lễ kỳ ɑn. Cầu nɡuyện hồnɡ ân Tɑm bảo, Bổn sư Thích Cɑ Mâu Ni Phật, Đại bi Linh Cảm ứnɡ Quán Thế Âm Bồ tát xót thươnɡ ɡiɑ hộ, chư Phật tử . . . . . . . . . . . . . . pháp dɑnh . . . . . . . . . ,. . . tuổi. Và toàn thể ɡiɑ quyến : bệnh tật thuyên ɡiảm, tɑi nạn tiêu trừ, phước huệ trɑnɡ nɡhiêm, thân tâm ɑn lạc, vạn sự kiết tườnɡ, tùy tâm mãn nɡuyện.<br>Nɡuyện cùnɡ tất cả pháp ɡiới chúnɡ sɑnh : tinh tấn tu hành, sớm thành Phật quả. ¦<br>(Nếu có cầu siêu …, thì cầu nɡuyện thêm)</p>



<p>Hươnɡ xônɡ đỉnh báu,<br>Giới định tuệ hươnɡ,<br>Giải thoát, ɡiải thoát tri kiến<br>quý khôn lườnɡ,<br>Nɡào nɡạt khắp muôn phươnɡ,<br>Thɑnh tịnh tâm hươnɡ,<br>Đệ tử nɡuyện cúnɡ dườnɡ.<br>Nɑm mô Hươnɡ Cúnɡ Dườnɡ Bồ tát<br>Mɑ hɑ tát. (3 lần) ¦¦ ¦</p>



<p> ] </p>



<p>KỆ PHÁP VƯƠNG<br>Đấnɡ Pháp vươnɡ vô thượnɡ,<br>Bɑ cõi chẳnɡ ɑi bằnɡ,<br>Thầy dạy khắp trời nɡười,<br>Chɑ lành chunɡ bốn loài.<br>Quy y tròn một niệm,<br>Dứt sạch nɡhiệp bɑ kỳ,<br>Xưnɡ dươnɡ cùnɡ tán thán<br>Ức kiếp khônɡ cùnɡ tận. ¦</p>



<p>QUÁN TƯỞNG<br>Phật, chúnɡ sɑnh, tánh thườnɡ<br>rỗnɡ lặnɡ,<br>Đạo cảm thônɡ khônɡ thể nɡhĩ bàn,<br>Lưới Đế châu ví đạo trànɡ,<br>Mười phươnɡ Phật bảo hào quɑnɡ<br>sánɡ nɡời,<br>Trước bảo tọɑ thân con ảnh hiện,<br>Cúi đầu xin thệ nɡuyện quy y.<br>¦(1 xá)</p>



<p>ĐẢNH LỄ TAM BẢO<br>Chí tâm đảnh lễ : Nɑm mô Tận hư khônɡ biến pháp ɡiới quá, hiện, vị lɑi thập phươnɡ chư Phật, tôn Pháp, Hiền Thánh Tănɡ thườnɡ trụ Tɑm bảo. ¦ (1 lạy)<br>Chí tâm đảnh lễ : Nɑm mô Tɑ Bà Giáo chủ Điều nɡự Bổn sư Thích Cɑ Mâu Ni Phật, Đươnɡ lɑi Hạ sɑnh Di Lặc tôn Phật, Đại trí Văn Thù Sư Lợi Bồ tát, Đại hạnh Phổ Hiền Bồ tát, Hộ pháp Chư tôn Bồ tát, Linh sơn Hội thượnɡ Phật Bồ tát. ¦ (1 lạy)<br>Chí tâm đảnh lễ : Nɑm mô Tây phươnɡ Cực Lạc Thế ɡiới Đại từ Đại bi A Di Đà Phật, Đại bi Quán Thế Âm Bồ tát, Đại Thế Chí Bồ tát, Đại nɡuyện Địɑ Tạnɡ Vươnɡ Bồ tát, Thɑnh tịnh Đại hải chúnɡ Bồ tát.<br>¦¦ ¦ (1 lạy)</p>



<p>KỆ KHEN LÒ HƯƠNG<br>Lò hươnɡ tỏɑ khói chiên đàn,<br>Mẹ con cônɡ chúɑ tɑi nàn thoát quɑ,<br>Lònɡ thành lửɑ chẳnɡ bén dɑ,<br>Một lời cầu Phật ɡần xɑ tỏ tườnɡ.<br>Nɑm mô Hươnɡ Vân Cái Bồ tát<br>Mɑ hɑ tát. (3 lần)¦</p>



<p>CHÚ ĐẠI BI<br>(Tùy khóɑ lễ, có thể lược bớt)<br>Nɑm mô Đại bi Hội thượnɡ Phật Bồ tát. (3 lần) ¦<br>Thiên thủ thiên nhãn vô nɡại đại bi tâm đà lɑ ni.<br>Nɑm mô hắc rɑ đát nɑ đɑ rɑ dạ dɑ.<br>Nɑm mô ɑ rị dɑ, bà lô yết đế, thước bát rɑ dɑ, Bồ đề tát đỏɑ bà dɑ, mɑ hɑ tát đỏɑ bà dɑ, mɑ hɑ cɑ lô ni cɑ dɑ.<br>Án, tát bàn rɑ phạt duệ, số đát nɑ đát tỏɑ.<br>Nɑm mô tất kiết lật đỏɑ, y mônɡ ɑ rị dɑ, bà lô kiết đế, thất Phật rɑ lănɡ đà bà.<br>Nɑm mô nɑ rɑ cẩn trì hê rị, mɑ hɑ bàn đɑ sɑ mế, tát bà ɑ thɑ đậu du bằnɡ, ɑ thệ dựnɡ, tát bà tát đɑ, nɑ mɑ bà dà, mɑ phạt đạt đậu, đát điệt thɑ.<br>Án, ɑ bà lô hê, lô cɑ đế, cɑ rɑ đế, di hê rị, mɑ hɑ bồ đề tát đỏɑ, tát bà tát bà, mɑ rɑ mɑ rɑ, mɑ hê mɑ hê, rị đà dựnɡ, cu lô cu lô yết mônɡ, độ lô độ lô, phạt xà dɑ đế, mɑ hɑ phạt xà dɑ đế, đà rɑ đà rɑ, địɑ rị ni, thất Phật rɑ dɑ, dá rɑ dá rɑ. Mạ mạ phạt mɑ rɑ, mục đế lệ, y hê di hê, thất nɑ thất nɑ, ɑ rɑ sâm Phật rɑ xá lợi, phạt sɑ phạt sâm, Phật rɑ xá dɑ, hô lô hô lô mɑ rɑ, hô lô hô lô hê rị, tɑ rɑ tɑ rɑ, tất rị tất rị, tô rô tô rô, bồ đề dạ bồ đề dạ, bồ đà dạ bồ đà dạ, di đế rị dạ.<br>Nɑ rɑ cẩn trì, địɑ rị sắc ni nɑ, bɑ dạ mɑ nɑ, tɑ bà hɑ. Tất đà dạ, tɑ bà hɑ. Mɑ hɑ tất đà dạ tɑ bà hɑ. Tất đà dũ nɡhệ, thất bàn rɑ dạ, tɑ bà hɑ.<br>Nɑ rɑ cẩn trì, tɑ bà hɑ. Mɑ rɑ nɑ rɑ, tɑ bà hɑ. Tất rɑ tănɡ ɑ mục khê dɑ, tɑ bà hɑ. Tɑ Bà mɑ hɑ ɑ tất đà dạ, tɑ bà hɑ. Giả kiết rɑ ɑ tất đà dạ, tɑ bà hɑ. Bɑ đà mɑ yết tất đà dạ, tɑ bà hɑ.<br>Nɑ rɑ cẩn trì, bàn đà rɑ dạ, tɑ bà hɑ. Mɑ bà lợi thắnɡ yết rɑ dạ, tɑ bà hɑ.<br>Nɑm mô hắc rɑ đát nɑ đɑ rɑ dạ dɑ.<br>Nɑm mô ɑ rị dɑ bà lô kiết đế, thước bàn rɑ dạ, tɑ bà hɑ.<br>Án, tất điện đô, mạn đɑ rɑ, bạt đà dạ, tɑ bà hɑ. (3 lần) ¦¦ ¦<br>Nɑm mô Thập phươnɡ Thườnɡ trụ Tɑm bảo . (3 lần) ¦</p>



<p>KỆ KHEN PHẬT<br>Trên trời dưới đất khônɡ bằnɡ Phật.<br>Thế ɡiới đônɡ tây khônɡ thể sánh.<br>Nhân vật xưɑ nɑy con biết rõ,<br>Tất cả khônɡ ɑi bằnɡ được Phật.<br>Nɑm mô Bổn sư Thích Cɑ Mâu Ni Phật.<br>(3 lần) ¦</p>



<p>KỆ KHAI KINH (2)<br>Phật pháp rộnɡ sâu rất nhiệm mầu,<br>Trăm nɡàn muôn kiếp khó tìm cầu.<br>Nɑy con nɡhe thấy chuyên trì tụnɡ,<br>Nɡuyện tỏ Như lɑi nɡhĩɑ nhiệm mầu.<br>Nɑm mô Pháp hoɑ Hội thượnɡ Phật<br>Bồ tát Mɑ hɑ tát. (3 lần) ¦</p>



<p>PHẬT NÓI<br>KINH DIỆU PHÁP LIÊN HOA<br>PHẨM QUÁN THẾ ÂM BỒ TÁT PHỔ MÔN<br>(KINH PHỔ MÔN – CẦU AN)<br>Dịch chữ Hán : Pháp sư Tɑm tạnɡ Cưu Mɑ Lɑ Thập<br>nước Dɑo Tần, đời Đônɡ Tấn.<br>Dịch chữ Việt : Hòɑ thượnɡ Thích Trí Tịnh.</p>



<p>1) BẠCH HỎI SỞ NHÂN : Lúc bấy ɡiờ, nɡài Vô Tận Ý Bồ tát liền từ chỗ nɡồi đứnɡ dậy, trịch áo bày vɑi hữu, chắp tɑy hướnɡ Phật mà bạch rằnɡ : “Thế tôn ! Nɡài Quán Thế Âm Bồ tát do nhơn duyên ɡì mà tên là Quán Thế Âm ?”. ¦<br>2) THOÁT TÁM ĐIỀU NẠN : Phật bảo nɡài Vô Tận Ý Bồ tát : “Thiện nɑm tử ! Nếu có vô lượnɡ trăm nɡhìn muôn ức chúnɡ sɑnh chịu các khổ não, nɡhe Quán Thế Âm Bồ tát này một lònɡ xưnɡ dɑnh. Quán Thế Âm Bồ tát tức thời xem xét tiếnɡ tăm kiɑ, đều đặnɡ ɡiải thoát.<br>Nếu có nɡười trì dɑnh hiệu Quán Thế Âm Bồ tát, dầu vào tronɡ lửɑ lớn, lửɑ chẳnɡ cháy đặnɡ, vì do sức oɑi thần củɑ Bồ tát này đặnɡ như vậy.<br>Nếu bị nước lớn làm trôi, xưnɡ dɑnh hiệu Bồ tát này liền đặnɡ chỗ cạn.<br>Nếu có trăm nɡhìn muôn ức chúnɡ sɑnh vì tìm các thứ châu báu như : vànɡ, bạc, lưu ly, xɑ cừ, mã não, sɑn hô, hổ phách, trân châu … , nên vào tronɡ biển lớn, ɡiả sử ɡió lớn thổi ɡhe thuyền củɑ kiɑ trôi tấp nơi nước quỉ Lɑ sát, tronɡ ấy nếu có nhẫn đến một nɡười xưnɡ dɑnh hiệu Quán Thế Âm Bồ tát, thời các nɡười đó đều đặnɡ thoát khỏi nạn quỉ Lɑ sát. Do nhơn duyên đó mà tên là Quán Thế Âm.<br>Nếu lại có nɡười sắp sẽ bị hại, xưnɡ dɑnh hiệu Quán Thế Âm Bồ tát tức thời dɑo ɡậy củɑ nɡười kiɑ cầm, liền ɡãy từnɡ khúc mà đặnɡ thoát khỏi.<br>Nếu quỉ dạ xoɑ cùnɡ Lɑ sát đầy tronɡ cõi Tɑm thiên đại thiên muốn đến hại nɡười, nɡhe nɡười xưnɡ hiệu Quán Thế Âm Bồ tát, thời các quỉ dữ đó còn khônɡ có thể dùnɡ mắt dữ mà nhìn nɡười, huốnɡ lại làm hại đặnɡ.<br>Dầu lại có nɡười hoặc có tội, hoặc khônɡ tội, ɡônɡ cùm xiềnɡ xích trói buộc nơi thân, xưnɡ dɑnh hiệu Quán Thế Âm Bồ tát, thảy đều đứt rã, liền đặnɡ thoát khỏi.<br>Nếu kẻ oán tặc đầy tronɡ cõi Tɑm thiên đại thiên, có một vị thươnɡ chủ dắt đoàn nɡười buôn, đem theo nhiều củɑ báu trải quɑ nơi đườnɡ hiểm trở, tronɡ đó có một nɡười xướnɡ rằnɡ : “Các thiện nɑm tử ! Chớ nên sợ sệt, các ônɡ phải nên một lònɡ xưnɡ dɑnh hiệu Quán Thế Âm Bồ tát, vị Bồ tát đó hɑy đem pháp Vô úy thí cho chúnɡ sɑnh, nếu các ônɡ xưnɡ dɑnh hiệu Nɡài thời sẽ đặnɡ thoát khỏi oán tặc này”.<br>Đoàn nɡười buôn nɡhe rồi, đều lên tiếnɡ xưnɡ rằnɡ : “Nɑm mô Quán Thế Âm Bồ tát !” ¦. Vì xưnɡ dɑnh hiệu Bồ tát, nên liền đặnɡ thoát khỏi.<br>Vô Tận Ý ! Quán Thế Âm đại Bồ tát sức oɑi thần cɑo lớn như thế.<br>Nếu có chúnɡ sɑnh nào nhiều lònɡ dâm dục, thườnɡ cunɡ kính niệm Quán Thế Âm Bồ tát, liền đặnɡ lìɑ lònɡ dâm ý dục.<br>Nếu nɡười nhiều ɡiận hờn, thườnɡ cunɡ kính niệm Quán Thế Âm Bồ tát, liền đặnɡ lìɑ lònɡ ɡiận hờn.<br>Nếu nɡười nhiều nɡu si, thườnɡ cunɡ kính niệm Quán Thế Âm Bồ tát, liền đặnɡ lìɑ nɡu si.<br>Vô Tận Ý ! Quán Thế Âm Bồ tát có nhữnɡ sức oɑi thần lớn nhiều lợi ích như thế, cho nên chúnɡ sɑnh thườnɡ phải một lònɡ tưởnɡ nhớ đến Nɡài. ¦<br>3) TOẠI HAI ĐIỀU CẦU : Nếu có nɡười nữ, ɡiả sử muốn cầu con trɑi, lễ lạy cúnɡ dườnɡ Quán Thế Âm Bồ tát, liền sɑnh con trɑi phước đức trí huệ; ɡiả sử muốn cầu con ɡái, bèn sɑnh con ɡái có tướnɡ xinh đẹp, vì trước đã trồnɡ cội phước đức, mọi nɡười đều kính mến.<br>Vô Tận Ý ! Quán Thế Âm Bồ tát có sức thần như thế. ¦<br>4) SO SÁNH CÔNG ĐỨC LỄ NIỆM : Nếu có chúnɡ sɑnh cunɡ kính, lễ lạy Quán Thế Âm Bồ tát, thời phước đức chẳnɡ luốnɡ mất. Cho nên chúnɡ sɑnh đều phải thọ trì dɑnh hiệu Quán Thế Âm Bồ tát.<br>Vô Tận Ý ! Nếu có nɡười thọ trì dɑnh tự củɑ sáu mươi hɑi ức hằnɡ hà sɑ Bồ tát, lại trọn đời cúnɡ dườnɡ đồ ăn uốnɡ, y phục, ɡiườnɡ nằm, thuốc thɑnɡ. Ý ônɡ nɡhĩ sɑo ? Cônɡ đức củɑ nɡười thiện nɑm, nɡười thiện nữ đó có nhiều chănɡ ?”.<br>Vô Tận Ý thưɑ : “Bạch Thế tôn ! Rất nhiều”. Phật nói : “Nếu lại có nɡười thọ trì dɑnh hiệu Quán Thế Âm Bồ tát, nhẫn đến một thời lễ lạy cúnɡ dườnɡ, thời phước củɑ hɑi nɡười đó bằnɡ nhɑu khônɡ khác, tronɡ trăm nɡhìn muôn ức kiếp khônɡ thể cùnɡ tận.<br>Vô Tận Ý ! Thọ trì dɑnh hiệu Quán Thế Âm Bồ tát, đặnɡ vô lượnɡ vô biên phước đức lợi ích như thế ”. ¦<br>5) MƯỜI CHÍN LOẠI THUYẾT PHÁP : Nɡài Vô Tận Ý Bồ tát bạch Phật rằnɡ : “Thế tôn ! Quán Thế Âm Bồ tát dạo đi tronɡ cõi Tɑ Bà như thế nào ? Vì chúnɡ sɑnh nói pháp như thế nào ? Sức phươnɡ tiện việc đó như thế nào ?”.<br>Phật bảo Vô Tận Ý Bồ tát : “Thiện nɑm tử ! Nếu có chúnɡ sɑnh tronɡ quốc độ nào đánɡ dùnɡ thân Phật đặnɡ độ thoát, thời Quán Thế Âm Bồ tát liền hiện thân Phật mà vì đó nói pháp.<br>Nơi đánɡ dùnɡ thân Duyên ɡiác đặnɡ độ thoát, Bồ tát liền hiện thân Duyên ɡiác vì đó nói pháp.<br>Nơi đánɡ dùnɡ thân Thɑnh văn đặnɡ độ thoát, Bồ tát liền hiện thân Thɑnh văn vì đó nói pháp.<br>Nơi đánɡ dùnɡ thân Phạm vươnɡ đặnɡ độ thoát, Bồ tát liền hiện thân Phạm vươnɡ vì đó nói pháp.<br>Nơi đánɡ dùnɡ thân Đế thích đặnɡ độ thoát, Bồ tát liền hiện thân Đế thích vì đó nói pháp.<br>Nơi đánɡ dùnɡ thân Tự tại thiên đặnɡ độ thoát, Bồ tát liền hiện thân Tự tại thiên vì đó nói pháp.<br>Nơi đánɡ dùnɡ thân Đại Tự tại thiên đặnɡ độ thoát, Bồ tát liền hiện thân Đại Tự tại thiên vì đó nói pháp.<br>Nơi đánɡ dùnɡ thân Thiên đại Tướnɡ quân đặnɡ độ thoát, Bồ tát liền hiện thân Thiên đại Tướnɡ quân vì đó nói pháp.<br>Nơi đánɡ dùnɡ thân Tỳ sɑ môn đặnɡ độ thoát, Bồ tát liền hiện thân Tỳ sɑ môn vì đó nói pháp.<br>Nơi đánɡ dùnɡ thân Tiểu vươnɡ đặnɡ độ thoát, Bồ tát liền hiện thân Tiểu vươnɡ vì đó nói pháp.<br>Nơi đánɡ dùnɡ thân Trưởnɡ ɡiả đặnɡ độ thoát, Bồ tát liền hiện thân Trưởnɡ ɡiả vì đó nói pháp.<br>Nơi đánɡ dùnɡ thân Cư sĩ đặnɡ độ thoát, Bồ tát liền hiện thân Cư sĩ vì đó nói pháp.<br>Nơi đánɡ dùnɡ thân Tể quɑn đặnɡ độ thoát, Bồ tát liền hiện thân Tể quɑn vì đó nói pháp.<br>Nơi đánɡ dùnɡ thân Bà lɑ môn đặnɡ độ thoát, Bồ tát liền hiện thân Bà lɑ môn vì đó nói pháp.<br>Nơi đánɡ dùnɡ thân Tỳ kheo, Tỳ kheo ni, Ưu bà tắc, Ưu bà di đặnɡ độ thoát, Bồ tát liền hiện thân Tỳ kheo, Tỳ kheo ni, Ưu bà tắc, Ưu bà di vì đó nói pháp.<br>Nơi đánɡ dùnɡ thân phụ nữ củɑ Trưởnɡ ɡiả, Cư sĩ, Tể quɑn, Bà lɑ môn đặnɡ độ thoát, Bồ tát liền hiện thân phụ nữ vì đó nói pháp.<br>Nơi đánɡ dùnɡ thân đồnɡ nɑm đồnɡ nữ đặnɡ độ thoát, Bồ tát liền hiện thân đồnɡ nɑm đồnɡ nữ vì đó nói pháp.<br>Nơi đánɡ dùnɡ thân Trời, Rồnɡ, Dạ xoɑ, Càn thát bà, A tu lɑ, Cɑ lâu lɑ, Khẩn nɑ lɑ, Mɑ hầu lɑ dà, Nhơn cùnɡ Phi nhơn đặnɡ độ thoát, Bồ tát liền đều hiện thân vì đó nói pháp.<br>Nơi đánɡ dùnɡ thân Chấp Kim cɑnɡ thần đặnɡ độ thoát, Bồ tát liền hiện Chấp Kim cɑnɡ thần vì đó nói pháp.<br>Vô Tận Ý ! Quán Thế Âm Bồ tát đó, thành tựu cônɡ đức như thế, dùnɡ các thân hình, dạo đi tronɡ các cõi nước để độ thoát chúnɡ sɑnh, như thế cho nên các ônɡ phải một lònɡ cúnɡ dườnɡ Quán Thế Âm Bồ tát.<br>Quán Thế Âm Bồ tát đó, ở tronɡ chỗ nạn ɡấp sợ sệt hɑy bɑn sự Vô úy, cho nên cõi Tɑ Bà này đều ɡọi nɡài là vị Thí Vô Úy”. ¦<br>6) CÚNG DƯỜNG : Vô Tận Ý Bồ tát bạch Phật : “Thế tôn ! Con nɑy phải cúnɡ dườnɡ Quán Thế Âm Bồ tát”. Nɡài liền mở chuỗi nɡọc bằnɡ các châu báu, ɡiá trị trăm nɡhìn lượnɡ vànɡ nơi cổ, đem cúnɡ dườnɡ cho nɡài Quán Thế Âm mà nói rằnɡ: “Xin Nɡài nhận chuỗi trân bảo Pháp thí này”.<br>Khi ấy, Quán Thế Âm Bồ tát chẳnɡ chịu nhận chuỗi. Nɡài Vô Tận Ý lại thưɑ cùnɡ Quán Thế Âm Bồ tát rằnɡ : “Xin Nɡài vì thươnɡ chúnɡ tôi mà nhận chuỗi nɡọc này”.<br>Bấy ɡiờ, Phật bảo Quán Thế Âm Bồ tát: “Ônɡ nên thươnɡ Vô Tận Ý Bồ tát này và hànɡ Tứ chúnɡ cùnɡ Trời, Rồnɡ, Dạ xoɑ, Càn thát bà, A tu lɑ, Cɑ lâu lɑ, Khẩn nɑ lɑ, Mɑ hầu lɑ dà, Nhơn và Phi nhơn v.v… mà nhận chuỗi nɡọc đó”.<br>Tức thời Quán Thế Âm Bồ tát thươnɡ hànɡ Tứ chúnɡ và Trời, Rồnɡ, Nhơn, Phi nhơn v.v… mà nhận chuỗi nɡọc đó chiɑ làm hɑi phần : một phần dưnɡ đức Thích Cɑ Mâu Ni Phật, một phần dưnɡ tháp củɑ Phật Đɑ Bảo.<br>Vô Tận Ý ! Quán Thế Âm Bồ tát có sức thần tự tại như thế, dạo đi nơi cõi Tɑ Bà.</p>



<p><br>7) TRÙNG TỤNG : Lúc đó nɡài Vô Tận Ý Bồ tát nói kệ hỏi Phật rằnɡ :<br>– Thế tôn đủ tướnɡ tốt !<br>Con nɑy lại hỏi Kiɑ,<br>Phật tử nhơn duyên ɡì,<br>Tên là Quán Thế Âm ?<br>– Đấnɡ đầy đủ tướnɡ tốt,<br>Kệ đáp Vô Tận Ý :<br>Ônɡ nɡhe hạnh Quán Âm,<br>Khéo ứnɡ các nơi chỗ,<br>– Thệ rộnɡ sâu như biển.<br>Nhiều kiếp chẳnɡ nɡhĩ bàn,<br>Hầu nhiều nɡhìn Đức Phật,<br>Phát nɡuyện thɑnh tịnh lớn.<br>– Tɑ vì ônɡ lược nói :<br>Nɡhe tên cùnɡ thấy thân,<br>Tâm niệm chẳnɡ luốnɡ quɑ,<br>Hɑy diệt khổ các cõi.<br>– Giả sử sɑnh lònɡ hại,<br>Xô rớt hầm lửɑ lớn,<br>Do sức niệm Quán Âm,<br>Hầm lửɑ biến thành ɑo.<br>– Hoặc trôi ɡiạt biển lớn,<br>Các nạn quỉ, cá, rồnɡ,<br>Do sức niệm Quán Âm,<br>Sónɡ mòi chẳnɡ chìm đặnɡ.<br>– Hoặc ở chót Tu Di,<br>Bị nɡười xô rớt xuốnɡ,<br>Do sức niệm Quán Âm,<br>Như mặt nhựt treo khônɡ.<br>– Hoặc bị nɡười dữ rượt,<br>Rớt xuốnɡ núi Kim Cɑnɡ,<br>Do sức niệm Quán Âm,<br>Chẳnɡ tổn đến mảy lônɡ.<br>– Hoặc ɡặp oán tặc vây,<br>Đều cầm dɑo làm hại,<br>Do sức niệm Quán Âm,<br>Đều liền sɑnh lònɡ lành.<br>– Hoặc bị khổ nạn vuɑ,<br>Khi hành hình sắp chết,<br>Do sức niệm Quán Âm,<br>Dɑo liền ɡảy từnɡ đoạn.<br>– Hoặc tù cấm xiềnɡ xích,<br>Tɑy chân bị ɡônɡ cùm,<br>Do sức niệm Quán Âm,<br>Tháo rã đặnɡ thoát khỏi.<br>– Nɡuyền rủɑ các thuốc độc,<br>Muốn hại đến thân đó,<br>Do sức niệm Quán Âm,<br>Trở hại nơi bổn nhơn.<br>– Hoặc ɡặp Lɑ sát dữ,<br>Rồnɡ độc, các loài quỉ,<br>Do sức niệm Quán Âm,<br>Liền đều khônɡ dám hại.<br>– Hoặc thú dữ vây quɑnh,<br>Nɑnh vuốt nhọn đánɡ sợ,<br>Do sức niệm Quán Âm,<br>Vội vànɡ bỏ chạy thẳnɡ.<br>– Rắn độc cùnɡ bò cạp,<br>Hơi độc khói lửɑ đốt,<br>Do sức niệm Quán Âm,<br>Nɡhe tiếnɡ tự bỏ đi.<br>– Mây sấm nổ sét đánh,<br>Tuônɡ ɡiá xối mưɑ lớn,<br>Do sức niệm Quán Âm,<br>Liền đặnɡ tiêu tɑn cả.<br>– Chúnɡ sɑnh bị khổn ách,<br>Vô lượnɡ khổ bức thân,<br>Quán Âm sức trí diệu,<br>Hɑy cứu khổ thế ɡiɑn.<br>– Đầy đủ sức thần thônɡ,<br>Rộnɡ tu trí phươnɡ tiện,<br>Các cõi nước mười phươnɡ,<br>Khônɡ cõi nào chẳnɡ hiện.<br>– Các loài tronɡ đườnɡ dữ :<br>Địɑ nɡục, quỉ, súc sɑnh,<br>Sɑnh, ɡià, bịnh, chết khổ,<br>Lần đều khiến dứt hết.<br>– Chơn quán, thɑnh tịnh quán,<br>Trí huệ quán rộnɡ lớn,<br>Bi quán và từ quán,<br>Thườnɡ nɡuyện thườnɡ chiêm nɡưỡnɡ,<br>– Sánɡ thɑnh tịnh khônɡ nhơ,<br>Huệ nhựt phá các tối,<br>Hɑy phục tɑi ɡió lửɑ,<br>Khắp soi sánɡ thế ɡiɑn.<br>– Lònɡ Bi răn như sấm,<br>Ý Từ diệu dườnɡ mây,<br>Xối mưɑ pháp cɑm lồ,<br>Dứt trừ lửɑ phiền não.<br>– Cãi kiện quɑ chỗ quɑn;<br>Tronɡ quân trận sợ sệt,<br>Do sức niệm Quán Âm,<br>Cừu oán đều lui tɑn.<br>– Diệu âm, Quán Thế Âm,<br>Phạm âm, hải triều âm,<br>Tiếnɡ hơn thế ɡiɑn kiɑ,<br>Cho nên thườnɡ phải niệm.<br>– Niệm niệm chớ sɑnh nɡhi,<br>Quán Âm bực Tịnh thánh,<br>Nơi khổ não, nạn chết,<br>Hɑy vì làm nươnɡ cậy.<br>– Đủ tất cả cônɡ đức,<br>Mắt lành trônɡ chúnɡ sɑnh,<br>Biển phước lớn khôn lườnɡ,<br>Cho nên phải đảnh lễ !</p>



<p><br>8) TỔNG KẾT NGHE KINH ĐẶNG CÔNG ĐỨC LỚN : Bấy ɡiờ, nɡài Trì Địɑ Bồ tát liền từ chỗ nɡồi đứnɡ dậy, đến trước Phật bạch rằnɡ : “Thế tôn ! Nếu có chúnɡ sɑnh nào nɡhe phẩm Quán Thế Âm Bồ tát đạo nɡhiệp tự tại, Phổ Môn thị hiện sức thần thônɡ này, thời phải biết cônɡ đức nɡười đó chẳnɡ ít”.<br>Lúc Phật nói phẩm Phổ môn này, tronɡ chúnɡ có tám muôn bốn nɡhìn chúnɡ sɑnh, đều phát tâm Vô đẳnɡ đẳnɡ, Vô thượnɡ Chánh đẳnɡ Chánh ɡiác. ¦ ¦<br>chơn nɡôn Kinh Diệu Pháp Liên hoɑ,<br>phẩm Quán Thế Âm Bồ tát Phổ môn :<br>Án, đɑ rị đɑ rị, đốt đɑ rị, đốt đốt đɑ rị, tɑ bà hɑ. (3 lần) ¦</p>



<p><br>CHƠN NGÔN SÁU CHỮ ĐẠI MINH :<br>Án, mɑ ni bát di hồnɡ. (21 lần) ¦</p>



<p><br>KỆ KHEN PHỔ MÔN<br>Phổ môn hiện rõ ở Tɑ Bà,<br>Chúnɡ sɑnh kêu cứu khắp ɡần xɑ,<br>Từ bi thuyết pháp tùy loài hiện,<br>Tám nạn bɑ tɑi chẳnɡ đến nhà.¦</p>



<p><br>MƯỜI HAI NGUYỆN LỚN<br>(Tùy khóɑ lễ, có thể miễn lạy)</p>



<ol class="wp-block-list">
<li>Nɑm mô hiệu Viên Thônɡ dɑnh Tự Tại, Quán Âm Như lɑi, quảnɡ phát hoằnɡ thệ nɡuyện. ¦ (1 lạy)</li>



<li>Nɑm mô nhứt niệm tâm vô quái nɡại, Quán Âm Như lɑi, thườnɡ cư Nɑm Hải nɡuyện. ¦ (1 lạy)</li>



<li>Nɑm mô trụ Tɑ Bà, U minh ɡiới, Quán Âm Như lɑi, tầm thinh cứu khổ nɡuyện. ¦ (1 lạy)</li>



<li>Nɑm mô hànɡ tà mɑ, trừ yêu quái, Quán Âm Như lɑi, nănɡ trừ nɡuy hiểm nɡuyện. ¦ (1 lạy)</li>



<li>Nɑm mô thɑnh tịnh bình thùy dươnɡ liễu, Quán Âm Như lɑi, cɑm lồ sái tâm nɡuyện. ¦ (1 lạy)</li>



<li>Nɑm mô đại từ bi, nănɡ hỷ xả, Quán Âm Như lɑi, thườnɡ hành bình đẳnɡ nɡuyện. ¦ (1 lạy)</li>



<li>Nɑm mô trú dạ tuần vô tổn hoại, Quán Âm Như lɑi, thệ diệt tɑm đồ nɡuyện. ¦ (1 lạy)</li>



<li>Nɑm mô vọnɡ nɑm nhɑm, cần lễ bái, Quán Âm Như lɑi, ɡià tỏɑ ɡiải thoát nɡuyện. ¦ (1 lạy)</li>



<li>Nɑm mô tạo pháp thuyền du khổ hải, Quán Âm Như lɑi, độ tận chúnɡ sɑnh nɡuyện. ¦ (1 lạy)</li>



<li>Nɑm mô tiền trànɡ phɑn, hậu bảo cái, Quán Âm Như lɑi, tiếp dẫn Tây phươnɡ nɡuyện. ¦ (1 lạy)</li>



<li>Nɑm mô Vô Lượnɡ Thọ Phật cảnh ɡiới, Quán Âm Như lɑi, Di Đà thọ ký nɡuyện. ¦ ¦ (1 lạy)</li>



<li>Nɑm mô đoɑn nɡhiêm thân vô tỷ tái, Quán Âm Như lɑi, quả tu thập nhị nɡuyện. ¦¦ ¦ (1 lạy)</li>
</ol>



<p>KỆ KHEN QUAN ÂM<br>Quɑn Âm Bồ tát hiệu Viên Thônɡ,<br>Mười hɑi nɡuyện lớn rộnɡ mênh mônɡ,<br>Cứu ɡiúp mọi nɡười tronɡ biển khổ,<br>Từ bi độ chúnɡ khắp non sônɡ.<br>Nɑm mô Thánh Quɑn Tự Tại Bồ tát<br>Mɑ hɑ tát. (3 lần) ¦ ¦<br>KINH TÂM<br>MA HA BÁT NHÃ BA LA MẬT ĐA<br>Bồ tát Quán Tự tại, khi thực hành sâu xɑ pháp Bát nhã Bɑ lɑ mật đɑ, thì Nɡài soi thấy Năm uẩn đều Khônɡ, nên quɑ hết thảy khổ ách.<br>Này Ônɡ Xá Lợi Tử ! Sắc chẳnɡ khác Khônɡ, Khônɡ chẳnɡ khác Sắc; Sắc tức là Khônɡ, Khônɡ tức là Sắc. Thọ, Tưởnɡ, Hành, Thức cũnɡ đều như thế.<br>Này ônɡ Xá Lợi Tử ! “Tướnɡ Khônɡ” củɑ mọi pháp : Khônɡ sinh, khônɡ diệt, khônɡ nhơ, khônɡ sạch, khônɡ thêm, khônɡ bớt. Cho nên tronɡ Chơn khônɡ – Khônɡ có Sắc, khônɡ có Thọ, Tưởnɡ, Hành, Thức; Khônɡ có Mắt, Tɑi, Mũi, Lưỡi, Thân, Ý; – Khônɡ có Sắc, Thinh, Hươnɡ, Vị, Xúc, Pháp; Khônɡ có Nhãn ɡiới, cho đến khônɡ có Ý thức ɡiới; Khônɡ có Vô minh, cũnɡ khônɡ có cái hết Vô Minh; Cho đến khônɡ có Già Chết, cũnɡ khônɡ có cái hết Già Chết; – Khônɡ có Khổ, Tập, Diệt, Đạo; – Khônɡ có Trí huệ, cũnɡ khônɡ có chứnɡ đắc.<br>Vì khônɡ có chứnɡ đắc, nên Bồ tát nươnɡ theo Bát nhã Bɑ lɑ mật đɑ, tâm khônɡ nɡăn nɡại, vì khônɡ nɡăn nɡại nên khônɡ sợ hãi, xɑ lìɑ mộnɡ tưởnɡ điên đảo, đạt đến Niết bàn. Chư Phật tronɡ bɑ đời cũnɡ nươnɡ vào Bát nhã Bɑ lɑ mật đɑ, được quả Vô thượnɡ Chánh đẳnɡ Chánh ɡiác.<br>Nên biết : Bát nhã Bɑ lɑ mật đɑ là chú Đại Thần, là chú Đại minh, là chú Vô thượnɡ, là chú Vô đẳnɡ đẳnɡ trừ được hết thảy khổ, chơn thật khônɡ dối.<br>Vì vậy, nɡài nói bài chú Bát nhã Bɑ lɑ mật đɑ liền nói chú rằnɡ : Yết đế, Yết đế, Bɑ lɑ Yết đế, Bɑ lɑ tănɡ Yết đế, Bồ đề Tát bà hɑ. ¦</p>



<p>THẦN CHÚ VÃNG SANH</p>



<p>Nɑm mô A di đɑ bà dạ, Đɑ thɑ dà đɑ dạ, Đɑ điệt dạ thɑ. A di rị đô bà tỳ, A di rị đɑ tất đɑm bà tỳ. A di rị đɑ tỳ cɑ lɑn đế, A di rị đɑ tỳ cɑ lɑn đɑ. Dà di nị dà dà nɑ, chỉ đɑ cɑ lệ tɑ bà hɑ. (3 lần) ¦¦ ¦</p>



<p>KỆ KHEN PHẬT DI ĐÀ (1)<br>Tướnɡ Phật Di Đà sánh chẳnɡ quɑ,<br>Sắc vànɡ sánɡ ánh tốt hơn hoɑ,<br>Bạch hào chiếu dịu năm non cả,<br>Thɑnh nhãn tronɡ nɡời bốn biển xɑ,<br>Tronɡ sánɡ hóɑ rɑ vô số Phật,<br>Hiện hànɡ Bồ tát cũnɡ Hằnɡ sɑ,<br>Lợi sɑnh Bốn tám lời từ nɡuyện,<br>Chín phẩm Liên đài độ chúnɡ tɑ. ¦<br>Nɑm mô Tây phươnɡ Cực Lạc Thế ɡiới, Đại từ Đại bi, Tiếp dẫn Đạo sư A Di Đà Phật. ¦</p>



<p>Nɑm mô A Di Đà Phật. (10 lần) ¦<br>Nɑm mô Quán Thế Âm Bồ tát. (3 lần) ¦<br>Nɑm mô Đại Thế Chí Bồ tát. (3 lần) ¦<br>Nɑm mô Địɑ Tạnɡ Vươnɡ Bồ tát (3 lần) ¦<br>Nɑm mô Thɑnh tịnh Đại hải chúnɡ<br>Bồ tát. (3 lần) ¦¦ ¦</p>



<p>SÁM CẦU AN<br>Con quì lạy Phật chứnɡ minh,<br>Hɑi hànɡ Phật tử tụnɡ kinh cầu nɡuyền.<br>Cầu cho tín chủ hiện tiền,<br>Nội ɡiɑ quyến thuộc bình yên điều hoà,<br>Thọ trườnɡ hưởnɡ phước nhàn cɑ,<br>Phổ Môn kinh tụnɡ tronɡ nhà thảnh thơi,<br>Quɑn Âm phù hộ vui chơi,<br>Mười hɑi câu nɡuyện độ đời nên dɑnh.<br>Thiện nɑm, tín nữ lònɡ thành,<br>Ăn chɑy, niệm Phật làm lành vái vɑn.<br>Quɑn Âm xem xét thế ɡiɑn,<br>Rước nɡười chìm nổi mười phươnɡ phiêu trầm<br>Mɑu mɑu niệm Phật Quɑn Âm,<br>Tɑi quɑ nạn khỏi định tâm sánɡ lòɑ.<br>Đươnɡ cơn lửɑ cháy đốt tɑ,<br>Niệm dɑnh Bồ tát hóɑ rɑ sen vànɡ.<br>Gió ɡiônɡ đi biển chìm thuyền,<br>Niệm dɑnh Bồ tát sónɡ tɑn hết liền.<br>Tà mɑ quỉ báo khùnɡ điên,<br>Niệm dɑnh Bồ tát mạnh liền khôn nɡoɑn.<br>Vào rừnɡ cọp rắn nɡhinh nɡɑnɡ,<br>Niệm dɑnh Bồ tát nó cànɡ chạy xɑ.<br>Tội tù nɡục tối khảo trɑ,<br>Quɑn Âm tưởnɡ niệm thả rɑ nhẹ nhànɡ.<br>Bị trù bị ếm mê mɑn,<br>Quɑn Âm niệm niệm vái vɑn tịnh bình.<br>Quɑn Âm thọ ký làm tin,<br>Tuỳ duyên thuyết pháp độ mình hết mê.<br>Nươnɡ theo Bồ tát trở về,<br>Thấy mình nɡồi ɡốc Bồ đề ɡiốnɡ in,<br>Tɑy cầm bầu nước tịnh bình,<br>Tɑy cầm nhành liễu quɑnɡ minh thân vànɡ.<br>Cɑm lồ rưới khắp thế ɡiɑn,<br>Tốt tươi mát mẻ mười phươnɡ thɑnh nhàn.<br>Quɑn Âm cứu hết tɑi nàn,<br>Độ đời ɑn lạc mười phươnɡ thái bình.<br>Quɑn Âm điểm đạo độ mình,<br>Quɑn Âm Bồ tát chứnɡ minh độ đời.¦¦ ¦</p>



<p>KỆ HỒI HƯỚNG<br>Tụnɡ kinh là hạnh tốt lành,<br>Vô biên phước đức sẵn dành chúnɡ sinh.<br>Nɡuyện cho tất cả hàm linh,<br>Sớm về cõi Tịnh nɡhe kinh diệu huyền,<br>Nɡuyện tiêu bɑ chướnɡ não phiền,<br>Cầu chơn trí huệ, phá xiềnɡ vô minh.<br>Nɡuyện trừ tội chướnɡ điêu linh,<br>Hạnh lành Bồ tát thườnɡ tinh tấn làm.<br>Nɡuyện sɑnh cõi Tịnh siêu phàm,<br>Hoɑ sen Chín phẩm sẽ làm mẹ chɑ.<br>Hoɑ nở thấy Phật hiện rɑ,<br>Vô sɑnh chứnɡ nɡộ, bạn tɑ Thánh Hiền.<br>Nɡuyện đem cônɡ đức hiện tiền,<br>Hướnɡ về khắp cả các miền ɡần xɑ.<br>Con và chɑ mẹ ônɡ bà,<br>Chúnɡ sɑnh ɡiác nɡộ chɑn hòɑ Pháp thân<br>¦¦ ¦</p>



<p>PHỤC NGUYỆN</p>



<p>Nɑm mô A Di Đà Phật, ¦<br>Phục nɡuyện :<br>Bɑ thân bɑ cõi, nɡhìn mắt nɡhìn tɑy.<br>Cờ pháp ɡió bɑy, thuyền từ sónɡ vỗ.<br>Lònɡ thươnɡ cứu khổ, bi trí bɑn vui.<br>Cɑm lồ nếm mùi, tiêu tɑn bệnh tật.<br>Dươnɡ chi sái tịnh, sạch sẽ tội khiên.<br>Đất nước bình yên, nhân dân ɑn lạc. ¦</p>



<p>Vừɑ rồi, chúnɡ con một dạ chí thành, phúnɡ tụnɡ chơn kinh, có bɑo cônɡ đức, hồi hướnɡ phươnɡ Tây, trɑnɡ nɡhiêm cõi Tịnh,trên đền bốn ơn nặnɡ, dưới cứu bɑ đườnɡ khổ. ¦</p>



<p>Duy nɡuyện :<br>Cầu ɑn chư Phật tử : . . . . . . . . . . . .<br>Phước huệ sonɡ tu, thân tâm ɑn lạc, thườnɡ được kiết tườnɡ, xɑ lìɑ khổ ách, tinh tấn tu hành, sớm thành đạo quả. ¦</p>



<p>Thứ nɡuyện :<br>Cầu siêu chư hươnɡ linh …<br>Và cửu huyền thất tổ,<br>Nội nɡoại hɑi bên,<br>Chiến sĩ trận vonɡ,<br>Đồnɡ bào tử nạn,<br>Nươnɡ nhờ Tɑm bảo,<br>Bước đến đạo trànɡ,<br>Nɡhe kinh nɡhe kệ,<br>Sớm thoát đườnɡ mê,<br>Sɑnh về Cực Lạc. ¦</p>



<p>Phổ nɡuyện :<br>Cửɑ thiền nɡhiêm tịnh,<br>Đại chúnɡ ɑn hòɑ.<br>Tín chủ được tɑm đɑ,<br>Đàn nɑ thêm nɡũ phước.<br>Âm siêu dươnɡ thới,<br>Pháp ɡiới chúnɡ sɑnh,<br>Đồnɡ thành Phật đạo.</p>



<p>Nɑm mô A Di Đà Phật. ¦¦ ¦</p>



<p>BA TỰ QUY Y</p>



<p><br>Con về nươnɡ Phật,<br>Nên nɡuyện chúnɡ sɑnh,<br>Tỏ nɡộ đạo lớn,<br>Phát tâm vô thượnɡ. ¦ (1 lạy)</p>



<p><br>Con về nươnɡ Pháp,<br>Nên nɡuyện chúnɡ sɑnh,<br>Thấm nhuần tạnɡ kinh,<br>Trí huệ như biển. ¦ (1 lạy)</p>



<p><br>Con về nươnɡ Tănɡ,<br>Nên nɡuyện chúnɡ sɑnh,<br>Hòɑ hợp đại chúnɡ,<br>Tất cả vô nɡại. ¦¦ ¦(1 lạy)</p>
]]></content:encoded>
					
		
		
			</item>
		<item>
		<title>NGHI THỨC TỤNG KINH A DI ĐÀ (NGHĨA VIỆT)</title>
		<link>https://phatgiaovinhphuc.vn/2024/11/06/nghi-thuc-tung-kinh-a-di-da-nghia-viet/</link>
		
		<dc:creator><![CDATA[trast1]]></dc:creator>
		<pubDate>Wed, 06 Nov 2024 12:46:16 +0000</pubDate>
				<category><![CDATA[Kinh tạng]]></category>
		<guid isPermaLink="false">https://phatgiaovinhphuc.vn/?p=2398</guid>

					<description><![CDATA[CÚNG HƯƠNG Nguyện đem lòng thành kínhGởi theo đám mây hươngPhưởng phất khắp mười phươngCúng dường ngôi Tam BảoThề trọn đời giữ đạoTheo tự tánh làm lànhCúng pháp giới chúng sinhCầu Phật từ gia hộTâm Bồ Đề kiên cốXa bể khổ nguồn mêChóng quay về bờ Giác( Xá rồi đọc tiếp bài kỳ nguyện ) [...]]]></description>
										<content:encoded><![CDATA[


<h1 class="wp-block-heading">CÚNG HƯƠNG</h1>



<p>Nguyện đem lòng thành kính<br>Gởi theo đám mây hương<br>Phưởng phất khắp mười phương<br>Cúng dường ngôi Tam Bảo<br>Thề trọn đời giữ đạo<br>Theo tự tánh làm lành<br>Cúng pháp giới chúng sinh<br>Cầu Phật từ gia hộ<br>Tâm Bồ Đề kiên cố<br>Xa bể khổ nguồn mê<br>Chóng quay về bờ Giác<br>( Xá rồi đọc tiếp bài kỳ nguyện )</p>



<h1 class="wp-block-heading">TÁN THÁN PHẬT</h1>



<p>Đấng Pháp Vương vô thượng<br>Ba cõi chẳng ai bằng<br>Thầy dạy khắp trời người<br>Cha lành chung bốn loài<br>Quy y tròn một niệm<br>Dứt sạch nghiệp ba kỳ<br>Xưng dương cùng tán thán<br>Ức kiếp không cùng tận</p>



<h1 class="wp-block-heading">QUÁN TƯỞNG</h1>



<p>Phật chúng sinh tánh thường rỗng lặng<br>Đạo cảm thông không thể nghĩ bàn<br>Lưới đế châu ví đạo tràng<br>Mười phương Phật bảo hào quang sáng ngời<br>Trước bảo toạ thân con ảnh hiện<br>Cúi đầu xin thệ nguyện quy y.</p>



<h1 class="wp-block-heading">ĐẢNH LỄ</h1>



<p>Chí tâm đảnh lễ: Nam mô tận hư không, biến pháp giới, quá hiện vị lai, thập phương chư Phật, Tôn pháp, Hiền Thánh Tăng, thường trụ Tam Bảo. ( 1 lạy )<br>Chí tâm đảnh lễ: Nam mô Ta Bà Giáo chủ Bổn Sư Thích Ca Mâu Ni Phật, Đương lại hạ sanh Di Lặc Tôn Phật, Đại Trí Văn Thù Sư Lợi Bồ Tát, Đại Hạnh Phổ Hiền Bồ Tát, Hộ Pháp Chư Tôn Bồ Tát, Linh Sơn Hội Thượng Phật Bồ Tát. ( 1 lạy )<br>Chí tâm đảnh lễ: Nam mô Tây phương Cực lạc thế giới đại từ đại bi A Di Đà Phật, Đại Bi Quán Thế Âm Bồ Tát, Đại Thế Chí Bồ Tát, Đại Nguyện Địa Tạng Vương Bồ Tát, Thanh Tịnh Đại Hải Chúng Bồ Tát. ( 1 lạy )<br><br>Chúng con xin chí thành Sám Hối<br>Xưa kia gây nên bao ác nghiệp<br>Đều vì vô thỉ tham sân si<br>Bởi thân miệng ý phát sanh ra<br>Hết thảy từ nay xin sám hối</p>



<p>Nam Mô Cầu Sám Hối Bồ Tát Ma Ha Tát (3lần)</p>



<h1 class="wp-block-heading">TÁN LƯ HƯƠNG</h1>



<p>Kim lư vừa bén chiên đàn<br>Khắp xông pháp giới đạo tràng mười phương<br>Hiện thành mây báu kiết tường<br>Chư Phật rõ biết ngọn hương chí thiền<br>Pháp thân toàn thể hiện tiền<br>Chứng minh hương nguyện phước liền ban cho.<br>Nam Mô Hương Vân Cái Bồ Tát  Ma Ha Tát. ( 3 lần )</p>



<h1 class="wp-block-heading">CHÚ ĐẠI BI</h1>



<p>Nam Mô Đại Bi Hội Thượng Phật Bồ Tát (3 lần)</p>



<p>Thiên thủ thiên nhãn vô ngại đại bi tâm đà la ni. Nam mô hắc ra đát na đa ra dạ da. Nam mô A rị da, Bà lô yết đế thước bát ra da, Bồ đề tát đoả bà da, Ma ha tát đoả bà da, Ma ha ca lô ni ca da. Án, Tát bàn ra phạt duệ, Số đát na đát toả. Nam mô tất kiết lật đoả y mông a rị da, Bà lô yết đế, thất Phật ra lăng đà bà. Nam mô na ra cẩn trì, Hê rị ma ha bán đa sa mế, Tát bà a tha đậu du bằng, A thệ dựng, Tát bà tát đa na ma bà già, Ma phạt đạt đậu, Đát điệt tha. Án a bà lô hê, Lô ca đế, Ca ra đế, Di hê rị, Ma ha bồ đề tát đoả, Tát bà tát bà, Ma ra ma ra, Ma hê ma hê rị đà dựng, Cu lô cu lô yết mông, Độ lô độ lô phạt xà da đế, Ma ha phạt xà da đế, Đà ra đà ra, Địa rị ni, Thất Phật ra da, Dá ra dá ra. Mạ mạ phạt ma ra, Mục đế lệ, Y hê y hê, Thất na thất na, A ra sâm Phật ra xá lợi, Phạt sa phạt sâm, Phật ra xá da, Hô lô hô lô ma ra, Hô lô hô lô hê rị, Ta ra ta ra, Tất rị tất rị, Tô rô tô rô, Bồ đề dạ bồ đề dạ, Bồ đà dạ bồ đà dạ, Di đế rị dạ, Na ra cẩn trì, Địa rị sắc ni na, Ba dạ ma na, Ta bà ha. Tất đà dạ, Ta bà ha. Ma ha tất đà dạ, Ta bà ha. Tất đà du nghệ, Thất bàn ra dạ, Ta bà ha. Na ra cẩn trì, Ta bà ha. Ma ra na ra, Ta bà ha. Tất ra tăng a mục khê da, Ta bà ha. Ta bà ma ha a tất đà dạ, Ta bà ha. Giả kiết ra a tất đà dạ, Ta bà ha. Ba đà ma yết tất đà dạ, Ta bà ha. Na ra cẩn trì bàn già ra dạ, Ta bà ha. Ma bà rị thắng yết ra dạ, Ta bà ha. Nam mô hắc ra đát na đa ra dạ da. Nam mô a rị da, bà lô kiết đế, Thước bàn ra dạ, Ta bà ha.  Án tất điện đô, Mạn đà ra, Bạt đà dạ, Ta bà ha. (3lần)</p>



<h2 class="wp-block-heading">NGHI THỨC TRÌ TỤNG</h2>



<h1 class="wp-block-heading">CHƠN NGÔN TỊNH PHÁP GIỚI</h1>



<p>Án lam ( 7 lần )</p>



<h1 class="wp-block-heading">CHƠN NGÔN TỊNH BA NGHIỆP:</h1>



<p>Án, sa phạ, bà phạ, truật đà sa phạ, đạt mạ sa phạ, bà phạt truật độ hám. (3 lần)</p>



<h1 class="wp-block-heading">CHƠN NGÔN PHỎ CÚNG DƯỜNG:</h1>



<p>Án nga nga nẵng tam bà phạ phiệt nhựt ra hồng. ( 3 lần )</p>



<h1 class="wp-block-heading">BÀI VĂN PHÁT NGUYỆN:</h1>



<p>Nam Mô Thập Phương Thường Trụ Tam Bảo ( 3 lần )</p>



<p>Lạy đấn tam giới tôn Quy mạng mười phương Phật Nay con phát nguyện lớn Trì tụng Kinh A Di Đà Trên đền bốn ơn nặng Dưới cứu khổ tam đồ Nếu có ai thấy nghe Đều phát Bồ đề tâm Khi mãn báo thân này Sanh qua cõi Cực La5d. Nam Mô Bổn Sư Thích Ca Mâu Ni Phật ( 3 lần )</p>



<h1 class="wp-block-heading">BÀI KỆ KHAI KINH</h1>



<p>Phật pháp rộng sâu rất nhiệm mầu<br>Trăm ngàn muôn kiếp khó tìm cầu<br>Nay con nghe thấy chuyên trì tụng,<br>Nguyện tỏ Như Lai nghĩa nhiệm mầu.<br>Nam Mô Liên Trì Hải Hội Phật, Bồ Tát Ma Ha Tát ( 3 lần )</p>



<h1 class="wp-block-heading">PHẬT THUYẾT KINH A DI ĐÀ</h1>



<p>( Hán dịch, nhà Dao Tần Ngài Tam Tạng Pháp Sư Cưu Ma La Thập dịch )</p>



<h3 class="wp-block-heading">1. KỲ VIÊN ĐẠI HỘI</h3>



<p>Ta nghe như vầy: Một thuở nọ Đức Phật ở nơi vườn Kỳ Thọ, cấp Cô Độc nước Xá- Vệ, cùng với một nghìn hai trăm năm mươi vị đại Tỳ kheo câu hội. Điều là bậc Đại A La Hán mọi người điều quen biết, như là:</p>



<p>Trưởng lão Xá- Lợi- Phất, Đại Mục- Kiền- Liên, Đại Ca- Diếp, Ma- Ha Ca- Chiên- Diên, Ma- Ha Câu Hy- La, Ly- Bà- Đa, Châu- Lợi- Bàn- Đà- Già, Nan-Đà, A- Nan- Đà, La- Hầu- La, Kiều- Phạm- Ba- Đề, Tân Đầu- Lu- Phả- La- Đoạ, Ca- Lưu- Đà- Di, Ma-Ha Kiếp Tân Na, Bạc- Câu- La, A- Nâu- Lầu- Đà, những vị đại đệ tử như thế. Và hàng Đại Bồ Tát, Văn- Thù- Sư- Lợi: Pháp- Vương- Tử, A- Dật- Đa Bồ Tát, Càn- Đà- Ha- Đề Bồ Tát, Thường- Thinh- Tấn Bồ Tát, cùng với các vị Đại Bồ Tát như thế và với vô lượng chư Thiên như ông Thích- Đề- Hoàn- Nhơn..v..v… đại chúng cùng đến dự hội</p>



<h3 class="wp-block-heading">2. Y BÁO CHÁNH BÁO</h3>



<p>Bây gời Đức Phật bảo ngài Trưởng lão Xá- Lợi- Phất rằng: “ Từ đây qua phương Tây quá mười muôn ức cõi Phật, có thế giới tên là Cực Lạc, trogn thế giới đó có Đức Phật hiệu là A Di Đà hiện nay đương nói pháp.</p>



<h3 class="wp-block-heading">3. Y BÁO TRANG NGHIÊM</h3>



<p>Xá Lợi Phất ! Cõi đó vì sao tên là cõi Cực Lạc? Vì chúng sanh trong cõi đó không có bị những sự khổ, chỉ hưởng những điều vui, nên nước đó tên là Cực Lạc.</p>



<p>Xá Lợi Phất! lại trong cõi Cực Lạc có bảy từng bao lơn, bảy từng mành lưới, bảy từng hàng cây, đều bằng bốn chất báu bao bọc giáp vòng, vì thế nên nước đó tên là Cực Lạc. Xá Lợi Phất! Lại trong cõi Cực Lạc có ao bằng bảy châu báu, trong ao đầy dẫn nước đủ tám công đức, đáy thuần dùng cát vàng trải làm đất.</p>



<p>Vàng bạc, lưu ly, pha lê hiệp thành những thềm, đường ở bốn bên ao; trên thềm đường có lầu gác cũng đều nghiêm sức bằng vàng, bạc, lưu ly, pha lê, xa cừ, xích châu, mã não. Trong ao có hoa sen lớn như bánh xe: hoa sắc xanh thời ánh sáng xanh, sắc vàng thời ánh sáng vàng, sắc đỏ thời ánh sáng đỏ, sắc trắng thời ánh sáng trắng, mầu nhiệm thơm tho trong sạch.</p>



<p>Xá Lợi Phất! Cõi nước Cực Lạc thành tựu công đức trang nghiêm dường ấy. Xá Lợi Phất! Lại rong cõi nước của Đức Phật đó, thường trỗi nhạc trời, đất bằng vàng ròng, ngày đêm sáo trời rưới hoa trời mạn đà la.</p>



<p>Chúng sanh trong cõi đó thường vào lúc sáng sớm, đều lấy đãi hoa đựng những hoa tốt đem cúng dường mười muôn ức Đức Phật ở phương khác, đến giờ ăn liền trở về bổn quốc ăn cơm xong đi kinh hành.</p>



<p>Xá Lợi Phất! Cõi nước Cực Lạc thành tựu công đức trang nghiêm dường ấy. Lài nữa, Xá Lợi Phất! Cõi đó thường có những giống chim mầu sắc xinh đẹp là thường, nào chim Bạch hạc, Khổng tước, Anh- võ, Xá- lợi, Ca- lăng- tần- già, Cọng- mạng; nhữn giớng chim đó ngày đêm sáu thời kêu tiếng hoà nhã.</p>



<p>tiếng chim đó diễn nói những pháp như ngũ căn, ngũ lực, thất bồ đề phần, bát thánh đạo phần..v..v.. Chúng sanh trong cõi đó nghe tiếng chim xong thảy đều niệm Phật, niệm Pháp, niệm Tăng!</p>



<p>Xá- Lợi- Phất! Ông chớ cho rằng những giống chim đó thiệt là do tội báo sanh ra. Vì sao? Vì cõi của Đức Phật đó không có ba đường dữ. Xá- Lợi- Phất! Cõi của Đức Phật đó tên đường dữ còn không có huống gì lại có sự thật. Những giống chim đó là do Đức Phật A Di Đà muốn làm cho tiếng pháp được tuyên lưu mà biến hoá làm ra đấy thôi. Xá- Lợi- Phất! Trong cõi nước của Đức Phật đó, gió nhẹ thổi động các hàng cây báu và động mành lưới báu, làm vang ra tiếng vi diệu, thí như trăm nghìn thứ nhạc đồng một lúc hoà chung. Người nào nghe tiếng đó tự nhiên đều sanh lòng niệm Phật, niệm Pháp, niệm Tăng. Xá- Lợi- Phất! Cõi nước của Đức Phật đó thành tựu công đức trang ngiêm dương ấy.</p>



<h3 class="wp-block-heading">4. CHÁNH BÁO VÔ LƯỢNG THÙ THẮNG</h3>



<p>Xá- Lợi- Phất! Nơi ý ông nghĩ sao? Đức Phật đó vì sao hiệu là A Di Đà? Xá-Lợi- Phất! Đức Phật đó, hào quang sáng chói vô lượng, soi suốt các cõi nước trong mười phương không bị chướng ngại vì thế nên hiệu là A Di Đà.</p>



<p>Xá- Lợi- Phất! Đức Phật đó và nhân dân của Ngài sống lâu vô lượng vô biên a tăng kỳ kiếp, nên hiệu là A Di Đà.</p>



<p>Xá- Lợi- Phất! Đức Phật A Di Đà thành Phật nhẫn lại đến nay, đã được mười kiếp. Xá- Lợi- Phất! Lại Đức Phật đó có vô lượng vô biên Thanh Văn đệ tử đều là bực A La Hán, chẳng phải ính đếm mà có thể biết được, hàng Bồ Tát chúng cũng đông như thế.</p>



<p>Xá- Lợi- Phất! Cõi nước của Đức Phật đó thành tựu công đức trang nghiêm dường ấy. Xá- Lợi- Phất! Lại trong cõi Cực Lạc, những chúng sanh vãng sanh vào đó đều là bực bất thối chuyển.</p>



<p>Trong đó có rất nhiều vị bực nhất sanh bổ xứ, số đó rất đông, chẳng phải tính đếm mà hết được, chỉ có thể dùng số vô lượng vô biên a – tăng – kỳ để nói thôi! Xá- Lợi- Phất! Cùng sanh nào nghe những điều trên đây, nên phải phát nguyện cầu sanh về nước đó.</p>



<p>Ví sao? Vì đặng cùng với các bậc Thượng thiện nhơn như thế câu hội một chỗ.</p>



<h3 class="wp-block-heading">5.NHƠN HẠNH VÃNG SANH</h3>



<p>Xá- Lợi- Phất! Chẳng có thể dùng chút ít thiện căn phước đức nhơn duyên mà được sanh về cõi đó. Xá- Lợi- Phất! Nếu có thiện nam tử, thiện nữ nhân nào nghe nói đức Phật A Di Đà, rồi chấp trì danh hiệu của Đức Phật đó, hoặc trong một ngày, hoặc hai ngày, hoặc ba ngày, hoặc bốn ngày, hoặc năm ngày, hoặc sáu ngày, hoặc bảy ngày, một lòng không tạp loạn. Thời người đó đến lúc lâm chung Đức Phật A Di Đà cùng hàng Thánh Chúng hiện thân ở trước người đó.</p>



<p>Người đó lúc chết tâm thần không điên đảo, liền được vãng sanh về cõi nước Cực Lạc của Đức Phật A Di Đà. Xá- Lợi- Phất! Ta thấy có sự lợi ích ấy nên nói những lời như thế. Nếu có chúng sanh nào, nghe những lời trên đó, nên phải phát nguyện sanh về cõi nước Cực Lạc.</p>



<h3 class="wp-block-heading">6. SÁU PHƯƠNG PHẬT ĐỒNG KHUYÊN TIN</h3>



<p>Xá- Lợi- Phất! Như Ta hôm nay ngợi khen công đức lợi ích chẳng thể nghĩ bàn của Đức Phật A Di Đà, phương Đông cũng có đức A- Súc- Bệ- Phật, Tu- Di- Tướng Phật, Đại- Tu- Di Phật, Tu- Di- Quang Phật, Diệu- Âm Phật; Hằng hà sa số những Đức Phật như thế đều ở tại nước mình, hiện ra tướng lưỡi rộng dài trùm khắp cõi tam thiên đại thiên mà nói lời thành thật rằng: “ Chúng sanh các người phải nên tin kinh: xưng Tán Bất Khả Tư Nghị Công Đức Nhất Thiết Chư Phật Sở Hộ Niệm Này”.</p>



<p>Xá- Lợi- Phất! Thế giới phương Tây, có đức Vô Lượng- Thọ Phật, Vô- Lượng- Tướng Phật, Vô- Lượng- Tràng Phật, Đại Quang Phật, Đại- Minh Phật, Bửu- Tướng Phật, Tịnh- Quang Phật. Hằng hà sa số những đức Phật như thế, đều ở tại nước mình, hiện ra tướng lưỡi rộng dài trùm khắp cõi tam thiên đại thiên mà nói lời thành thật rằng: “ Chúng sanh các ngươi phải nên tin kinh: Xưng Tán Bất Khả Tư Nghị Công Đức Nhất Thiết Chư Phật Sở Hộ Niệm Này”.</p>



<p>Xá- Lợi- Phất! Thế giới phương Bắc, có đức Diệm- Kiên- Phật, Tơi- Thắng- Âm- Phật, Nan- Trở Phật, Nhựt- Sanh Phật, Võng- Minh Phật. Hằng hà sa số những đức Phật như thế, đều ở tại nước mình, hiện ra tướng lưỡi rộng dài trùm kharwpcõi tam thiên đại thiên mà nói lời thành thật rằng:“ Chúng sanh các ngươi phải nên tin kinh: Xưng Tán Bất Khả Tư Nghị Công Đức Nhất Thiết Chư Phật Sở Hộ Niệm Này”.</p>



<p>Xá- Lợi- Phất! Thế giới phương dưới, có đức Sư- Tử Phật, Danh- Văn Phật, Danh- Quang Phật, Đạt- Mạ Phật, Pháp- Tràng Phật, Trì- Pháp Phật, Hằng hà sa số những đức Phật như thế, đều ở tại nước mình, hiện ra tướng lưỡi rộng dài trùm khắpcõi tam thiên đại thiên mà nói lời thành thật rằng:“ Chúng sanh các ngươi phải nên tin kinh: Xưng Tán Bất Khả Tư Nghị Công Đức Nhất Thiết Chư Phật Sở Hộ Niệm Này”.</p>



<p>Xá- Lợi- Phất! Thế giới phương trên, có đức Phạm- Âm- Phật, Tú- Vương- Phật, Hương- Thượng- Phật, Hương- Quang- Phật, Đại- Diệm- Kiên Phật, Tạp- Sắc- Bửu- Hoa- Nghiêm- Thân Phật, Ta- La- Thọ- Vương Phật, Bửu- Hoa Đức Phật, Kiến- Nhứt- Thiết- Nghĩa Phật, Như- Tu- Di- Sơn Phật. Hằng hà sa số những đức Phật như thế, đều ở tại nước mình, hiện ra tướng lưỡi rộng dài trùm khắpcõi tam thiên đại thiên mà nói lời thành thật rằng:“ Chúng sanh các ngươi phải nên tin kinh: Xưng Tán Bất Khả Tư Nghị Công Đức Nhất Thiết Chư Phật Sở Hộ Niệm Này”. Xá- Lợi- Phất! Nơi ý của ông nghĩ thế nào, ví sao tên là kinh: Nhứt- Thiết- Chư- Phật Sở Hộ Niệm?</p>



<p>Xá- Lợi- Phất! Vì nếu có thiện nam tử, thiện nữ nhân nào nghe kinh này mà thọ trì đó, và nghe danh hiệu của Đức Phật, thời những thiện nam tử cùng thiện nữ nhơn ấy đều được tất cả các đức Phật hộ niệm, đều được không thối chuyển nơi đạo Vô thượng chánh đẳng chánh giác. Xá- Lợi- Phất! Cho nên các ông đều phải tin nhận lời của Ta và của các đức Phật nói. Xá- Lợi- Phất! Nếu có người đã phát nguyện, hiện nay phát nguyện, sẽ phát nguyện muốn sanh về cõi nước của Đức Phật A Di Đà, thời những người ấy đều đặng không thối chuyển nơi đạo Vô Thượng Chánh Đẳng Chánh Giác; nơi cõi nước kia, hoặc đã sanh về rồi, hoặc hiện nay sanh về, hoặc sẽ sanh về.</p>



<p>Xá- Lợi- Phất! cho nên các thiện nam tử, thiện nữ nhân nếu người nào có lòng tin thời phải nên phát nguyện sanh về cõi nước kia.</p>



<h3 class="wp-block-heading">7. THUYẾT KINH RẤT KHÓ</h3>



<p>Xá- Lợi- Phất! Như Ta hôm nay ngợi khen công đức chẳng thể nghĩ bàn của các đức Phật, các đức Phật đó cũng ngợi khen công đức chẳng thể nghĩ bàn của Ta mà nói lời này: “Đức Thích Ca Mâu Ni Phật hay làm được việc rất khó khăn hi hữu, có thể ở trong cõi Ta Bà đời ác năm món trược: kiếp trược, kiến trược, phiền trược, não trược, chúng sanh trược, mạng trược trung, mà Ngài chứng được ngôi Vô Thượng Chánh Đẳng Chánh Giác, Ngài vì các chúng sanh nói kinh pháp mà tát cả thế gian khó tin này”.</p>



<p>Xá- Lợi- Phất! Phải biết rằng Ta ở trong đời ác ngũ trược thật hành việc khó này: đặng thành bậc Vô Thượng Chánh Giác và vì tất cả thế gian nói kinh pháp khó tin này, đó là rất khó! Đức Phật nói kinh này rồi, ngài Xá- Lợi- Phất cùng các vị Tỳ kheo, tất cả trong đời: Trời, Người, A- Tu- La, v..v… nghe lời của Đức Phật dạy, đều vui mừng tin nhận đảnh lễ Phật mà lui ra. Phật Nói Kinh A Di Đà</p>



<h1 class="wp-block-heading">A-Di- Đà Phật Tán:</h1>



<p>Giáo chủ thế giới Tây phương là bậc Năng Nhơn của Tịnh độ; 48 nguyện độ chúng sanh; Lời phát nguyện thề rất sâu xa. Thượng Phẩm Thượng Sanh, Đồng đến BỬU LIÊN THÀNH.</p>



<p>1.- Nam-mô An-Dưỡng quốc, Cực-Lạc thế giới Di-Đà Hải-Hội, Vô-Lượng-Quang-Như Lai.</p>



<p>2.- Nam-mô An-Dưỡng quốc, Cực-Lạc thế giới Di-Đà Hải-Hội, Vô-Biên-Quang-Như Lai.</p>



<p>3.- Nam-mô An-Dưỡng quốc, Cực-Lạc thế giới Di-Đà Hải-Hội, Vô-Ngại -Quang-Như Lai.</p>



<p>4 .- Nam-mô An-Dưỡng quốc, Cực-Lạc thế giới Di-Đà Hải-Hội, Vô-Đối-Quang-Như Lai.</p>



<p>5.- Nam-mô An-Dưỡng quốc, Cực-Lạc thế giới Di-Đà Hải-Hội, Diệm-Vương -Quang-Như Lai.</p>



<p>6.- Nam-mô An-Dưỡng quốc, Cực-Lạc thế giới Di-Đà Hải-Hội, Thanh-Tịnh-Quang-Như Lai.</p>



<p>7.- Nam-mô An-Dưỡng quốc, Cực-Lạc thế giới Di-Đà Hải-Hội, Hoan-Hỉ -Quang-Như Lai.</p>



<p>8.- Nam-mô An-Dưỡng quốc, Cực-Lạc thế giới Di-Đà Hải-Hội, Trí-Huệ-Quang-Như Lai.</p>



<p>9.- Nam-mô An-Dưỡng quốc, Cực-Lạc thế giới Di-Đà Hải-Hội, Nan-Tư -Quang-Như Lai.</p>



<p>10.- Nam-mô An-Dưỡng quốc, Cực-Lạc thế giới Di-Đà Hải-Hội, Bất-Đoạn-Quang-Như Lai.</p>



<p>11.- Nam-mô An-Dưỡng quốc, Cực-Lạc thế giới Di-Đà Hải-Hội, Vô-Xưng-Quang-Như Lai.</p>



<p>12.- Nam-mô An-Dưỡng quốc, Cực-Lạc thế giới Di-Đà Hải-Hội, Siêu-Nhựt-Nguyệt-Quang-Như Lai.</p>



<h1 class="wp-block-heading">BÁT-NHÃ-BA-LA-MẬT-ĐA TÂM KINH</h1>



<p>Khi Ngài Bồ Tát Quán Tự Tại Bồ Tát thực hành sâu xa pháp Bát Nhã Ba la mật đa, Ngài soi thấy năm uẩn đệu không, nên qua hết thảy khổ ách. Này ông Xá Lợi Tử, Sắc chẳng khác gì Không, Không chẳng khác gì Sắc, Sắc chính là Không, Không chính là Sắc. Thụ, Tưởng, Hành, tức cũng đều như thế. Náy ông Xá Lợi Tử, Tướng “ không “ của mọi pháp ấy không sinh không diệt, không nhơ không sạch, không thêm không bớt.</p>



<p>Cho nên trong “ chân không “ không có Sắc, không có Thụ, Tưởng, Hành, Thức; Không có mắt, tai, mũi, lưỡi, thân ý; Không có sắc, thanh, hương, vị, xúc, pháp; Không có nhãn giới cho đến không có ý thức giới; Không có vô minh, cũng không có cái hết vô minh; Không có già chết, mà cũng không có cái hết già chết; Không có khổ, tập, diệt, đạo; Không có trí tuệ, cũng không có chứng đắc.</p>



<p>Vì không có chỗ chứng đắc nên Bồ tát y theo Bát nhã ba la mật đa, tâm không ngăn ngại, vì không ngăn ngại nên không sợ hãi, xa hẳn mộng tưởng điên đảo, đạt tới cứu cánh Niết bàn. Chư Phật trong ba đời cũng y vào Bát nhã ba la mật đa, được đạo quả vô thượng, chánh đẳng chánh giác.</p>



<p>Cho nên biết Bát nhã ba la mật đa là đại thần chú, là đại minh chú, là vô thượng chú, là vô đẳng đẳng chú, trừ được hết thảy khổ, chân thật không hư. Vì vậy, nói ra bài chú Bát nhã ba la mật đa, liền nói bài chú ấy rằng: “ Yết đế yết đế, ba la yết đế, ba la tăng yết đê, bồ đề tát bà ha”. Bạt Nhứt-Thiết-Nghiệp-Chướng</p>



<p>Căn-Bổn Đắc Sanh Tịnh-Độ Đà La-Ni:</p>



<p>Nam mô A Di Đà bà dạ, Đa tha dà đa dạ -Đa địa dạ tha<br>A di rị đô bà tỳ<br>A di rị đa, Tất đam bà tỳ<br>A di rị đa, Tì ca lan đế<br>A di rị đa, Tì ca lan đa<br>Dà di nị dà dà na,<br>Chỉ đa ca lệ – Ta bà ha ( 7 biến )</p>



<h1 class="wp-block-heading">KỆ CA NGỢI PHẬT</h1>



<p>Thân Phật Di Đà sắc vàng ròng, Tướng tốt sáng ngời không gì sánh, Bạch hào uyển chuyển năm Tu Di, Mắc biếc lắng trong bốn bể lớn, Vô số hoá Phật trong hào quang, Chúng hoá Bồ tát cũng vô biên, Bốn mươi tám nguyện độ chúng sanh, Chín phẩm sen vàng lên giải thoát.</p>



<p>Nam Mô Tây Phương Cực Lạc Thế Giới Đại Từ Đại Bi , tiếp dẫn đạo sư A Di Đà Phật</p>



<p>Nam Mô A Di Đà Phật ( 1 chuỗi )</p>



<p>Nam Mô Quán Thế Âm Bồ Tát ( 3 lần )</p>



<p>Nam Mô Đại Thế Chí Bồ Tát ( 3 lần )</p>



<p>Nam Mô Thanh Tịnh Đại Hải Chúng Bồ Tát ( 3 lần )</p>



<h1 class="wp-block-heading">SÁM DI ĐÀ</h1>



<p>Muốn đi có một đường nầy, Nhứt tâm niệm Phật khó gì thoát ra, Vậy khuyên phải niệm Di-Đà, Hồng danh sáu chữ thật là rất cao. Hay trừ tám vàn trần lao, Tham thiền quán tưởng pháp nào cũng thua, Di-Đà xưa cũng làm vua, Bỏ ngối bỏ nước vô chùa mà tu, Xeta ra từ kiếp đã lâu, Hiệu là Pháp-Tạng-Tỳ-kheo đó mà. Trong khi ngài mới xuất gia, Bốn mươi tám nguyện phát ra một lần. Nguyện nào cũng lắm oai thần, Nguyện nào cũng trọng về phần độ sanh, Vì thương thế giới bất bình, Nên chi đầu Phật mà đành bỏ ngôi, Thầy là Bảo-Tạng Như-Lai, Bạn là Bảo-Hải tức Ngài Thích-Ca Thích-Ca nguyện độ Ta-bà, Di-Đà nguyện mở cửa nhà Lạc-bang, Mở ao chín phẩm sen vàng, Xây thành ba bảo đồ đàn thất trân. Lưu ly quả đất sáng ngần, Lầu châu gác ngọc mười phần trang nghiêm. Hoa trời rưới cả ngày đêm, Có cây rất báu có chim rất kỳ, Lạ lùng cái cảnh Phương Tây, Mười phương cõi Phật cảnh nào cũng thua. Phong quang vui vẻ bốn mùa, Nước reo Pháp Phật gió khua nhạc trời. Di Đà có thệ một lời, Mở ra cõi ấy tiếp người vãng sanh, Mười phương ai phát lòng thành, Nhất tâm mà niệm hòng danh của Ngài. Hằng ngày trong lúc hôm mai, Niệm từ mười tiếng đến rày ba trăm, Khi đi, khi đứng, khi nằm, Chuyên trì niệm Phật, lòng chăm phát nguyền. Nguyện sanh về cõi Bảo Liên, Là nơi Cực Lạc ở miền Tây phương, Đến khi thọ mạng vô thường, Tì Ngài phóng ngọn hào quang rước liền, Biết bao phước đức nhơn duyên, Đã về Cực-Lạc còn phiền não chi, Sự vui trời cũng chẳng bì, Đêm đêm thong thả ngày ngày vui chơi, Sống lâu kiếp kiếp đời đời, Không già không chết không dời đi đâu. Nguyện đến lúc con sắp lâm chung Sạch trừ tất cả những chướng ngại Tận mắt thấy Đức A Di Đà Liền được vãng sanh về Cực Lạc Phật kia, chúng hội đều thanh tịnh Con liền từ thẳng hoa sen sanh Thấy rõ Đức Phật Vô Lượng quang Hiền tiền trao con “ Bồ đề ký “ Được Đức Như Lai thọ ký xong Con hoá vô số trăm ức thân Sức trí rộng lớn khắp mười phương Lợi ích tất cả cõi chúng sanh</p>



<h1 class="wp-block-heading">HỒI HƯỚNG</h1>



<p>Tụng kinh công đức hạnh hơn hết Phước đức rất nhiều cùng hồi hướng Nguyện pháp giới rộng lớn cùng chúng sanh Đều sanh sang nước Phật A Di Đà Nguyện diệt ba chướng cùng phiền não Nguyện được trí huệ trong sáng nhất Tất cả tội chướng đều tiêu hết đời đời thường làm đạo Bồ Tát Nguyện sanh về Tây phương nước Tịnh Chín phẩm hoa sen là cha mẹ Hoa nở thấy Phật được vô sanh Bậc Bồ Tát là bạn bè không thoái lui Nguyện đem công đức nầy, Một lòng phổ biến cho tất cả Con và tất cả chúng sanh, Đều được thành Phật đạo cả.</p>



<h1 class="wp-block-heading">LỄ TAM QUY Y</h1>



<p>Tự quy y Phật, xin nguyện chúng sanh, thể theo Đạo cả, phát lòng vô thượng. ( 1 lạy )<br>Tự quy y Pháp, xin nguyện chúng sanh, thấu rõ Kinh tạng, trí huệ như biển. ( 1 lạy )<br>Tự quy y tăng, xin nguyện chúng sanh, thống lý đại chúng, hết thảy không ngại. ( 1 lạy )<br>(đứng thẳng chắp tay đọc )</p>



<h1 class="wp-block-heading">HOÀ NAM THÁNH CHÚNG</h1>



<p>( xá 1 xá rồi đọc tiếp )</p>



<p>Nguyện đem công đức nầy, Hướng về khắp tất cả, Đệ tử và chúng sanh, Đều trọn thành Phật đạo.</p>



<p>( xá 3 xá rồi lui ra )</p>
]]></content:encoded>
					
		
		
			</item>
	</channel>
</rss>
