<?xml version="1.0" encoding="UTF-8"?><rss version="2.0"
	xmlns:content="http://purl.org/rss/1.0/modules/content/"
	xmlns:wfw="http://wellformedweb.org/CommentAPI/"
	xmlns:dc="http://purl.org/dc/elements/1.1/"
	xmlns:atom="http://www.w3.org/2005/Atom"
	xmlns:sy="http://purl.org/rss/1.0/modules/syndication/"
	xmlns:slash="http://purl.org/rss/1.0/modules/slash/"
	>

<channel>
	<title>Lịch sử</title>
	<atom:link href="https://phatgiaovinhphuc.vn/category/lich-su/feed/" rel="self" type="application/rss+xml" />
	<link>https://phatgiaovinhphuc.vn</link>
	<description></description>
	<lastBuildDate>Thu, 29 May 2025 08:48:05 +0000</lastBuildDate>
	<language>vi</language>
	<sy:updatePeriod>
	hourly	</sy:updatePeriod>
	<sy:updateFrequency>
	1	</sy:updateFrequency>
	<generator>https://wordpress.org/?v=6.8.2</generator>

<image>
	<url>https://phatgiaovinhphuc.vn/wp-content/uploads/2024/10/cropped-Logo-Giao-hoi-Phat-Giao-VN-1-1-32x32.jpg</url>
	<title>Lịch sử</title>
	<link>https://phatgiaovinhphuc.vn</link>
	<width>32</width>
	<height>32</height>
</image> 
	<item>
		<title>Hòa thượng Bảo Ân &#8211; Cánh nhạn phương Nam giữa Vọng Các thành</title>
		<link>https://phatgiaovinhphuc.vn/2025/05/29/hoa-thuong-bao-an-canh-nhan-phuong-nam-giua-vong-cac-thanh/</link>
		
		<dc:creator><![CDATA[trast1]]></dc:creator>
		<pubDate>Thu, 29 May 2025 08:48:05 +0000</pubDate>
				<category><![CDATA[Lịch sử]]></category>
		<category><![CDATA[Tự viện]]></category>
		<guid isPermaLink="false">https://phatgiaovinhphuc.vn/?p=3641</guid>

					<description><![CDATA[GNO &#8211; Tổ sư Nhật Đáp Bảo Ân hay Luang phor Bảo Ân &#8211; vị Tổ sư có những đóng góp không nhỏ đối với Phật giáo Thái Lan và nước nhà Việt Nam đặc biệt là vai trò của một người con xa xứ, một chí sĩ yêu nước trong phong trào Phật giáo [...]]]></description>
										<content:encoded><![CDATA[


<p>GNO &#8211; Tổ sư Nhật Đáp Bảo Ân hay Luang phor Bảo Ân &#8211; vị Tổ sư có những đóng góp không nhỏ đối với Phật giáo Thái Lan và nước nhà Việt Nam đặc biệt là vai trò của một người con xa xứ, một chí sĩ yêu nước trong phong trào Phật giáo Cứu quốc tại Tây Nam Bộ…<br><br>Nói đến An Nam tông hay Phật giáo Việt tông tại Thái Lan thì không thể không nhắc đến Tổ sư Nhật Đáp Bảo Ân hay Luang phor Bảo Ân &#8211; vị Tổ sư có những đóng góp không nhỏ đối với Phật giáo Thái Lan và nước nhà Việt Nam đặc biệt là vai trò của một người con xa xứ, một chí sĩ yêu nước trong phong trào Phật giáo Cứu quốc tại Tây Nam Bộ và là một nhánh nhỏ quan trọng trong tuyến đường Xuyên Tây huyền thoại của Dương Quang Đông nối kết Thái Lan và chiến trường miền Nam Việt Nam.</p>



<p>Giữa thủ đô Bangkok (Vọng Các) hoa lệ, có một ngôi chùa cổ mang tên Sắc tứ Trấn Quốc &#8211; Cảnh Phước tự (Wat Samananamborihan, số 416 đường Lan Luang, sapankhao, quận Dusit) – nơi vị Tổ sư đã tu tập và hành đạo cho đến ngày viên tịch mùng 4 tháng 3 năm 1964 và nhục thân của người cũng được tôn trí tại nhà kỷ niệm Tổ sư hết sức trang nghiêm thanh tịnh, và đặc biệt hơn cả là hàng ngày vẫn có rất nhiều Phật tử gồm Việt kiều, Hoa kiều và người Thái đến thắp hương cầu nguyện. Một điều rất hiếm thấy đối với các Tổ sư Việt tông Thái khác sau khi đã viên tịch và có lẽ do những hành trạng tu tập nghiêm mật và công đức to lớn của người đối với Thái Lan và nước nhà Việt Nam. Trước thềm Kỷ niệm 50 năm ngày Giải phóng miền Nam, thống nhất Tổ quốc và chào mừng Đại lễ Vesak Liên Hiệp Quốc 2025 được tổ chức tại thành phố Hồ Chí Minh, thì tại Thái Lan đây cũng là dịp Kỷ niệm 100 năm đánh dấu hành trạng Tổ Bảo Ân đến Thái Lan hành đạo vào cuối năm 1925, chúng tôi xin tiếp tục khảo cứu về công đức “hộ quốc an dân” của ngài đối với nước nhà Việt Nam.</p>



<p>Tổ Bảo Ân thế danh Nguyễn Văn Báo, sinh năm Đinh Mùi (1906) tại xã Vĩnh Thanh Vân, huyện Châu Thành, tỉnh Rạch Giá (nay là phường Vĩnh Thanh Vân, thành phố Rạch Giá, tỉnh Kiên Giang). Hòa thượng đồng chơn xuất gia, thọ giới Sa-di năm 1921 tại chùa Sắc tứ Tam Bảo và được Bổn sư đạo hiệu Hồng Nguyện &#8211; Trí Thiền đặt pháp danh là Nhật Đáp, tự Bảo Ân. Trong thời gian này, ngoài lúc theo Thầy học đạo, Tổ còn tham gia các lớp học Phật pháp do Hòa thượng Khánh Hòa tổ chức, vừa học chữ Hán và y học cổ truyền với một cụ đồ họ Vương, pháp danh Nhật Sắc, người từ miền Trung vào. Bốn năm sau, khi vừa tròn 20 tuổi, ngài thọ giới Tỳ-kheo tại Trường Hương chùa Long Phước, tỉnh Trà Vinh do Hòa thượng Khánh Hòa làm Pháp sư. Cùng năm đó, Tổ được thầy Bổn sư gửi qua Siam (Xiêm-la) tham học và hành đạo cuối năm 1925.</p>



<p>Trong lúc Tổ Bảo Ân đang tu học và hành đạo tại chùa Cam Lộ (Wat Thipvarivihan) ở Bangkok, Thái Lan thì ở Việt Nam vào những ngày toàn quốc chuẩn bị kháng chiến, vấn đề chi viện, trang bị vũ khí cho chiến trường toàn miền Nam là vô cùng cấp bách. Qua nhật ký “Dương Quang Đông Xuyên Tây” của tác giả Nguyên Hùng, chúng ta sẽ thấy rõ mối quan hệ mật thiết giữa Tổ Bảo Ân và con đường Xuyên Tây huyền thoại của Dương Quang Đông diễn ra rất cụ thể và sinh động như một thước phim tài liệu về hành trình Xuyên Tây này.</p>



<p>Vấn đề mua sắm võ khí là vấn đề sống chết, cần giải quyết ngay… Phan Trọng Tuệ đưa ra ý kiến nên cho người qua Xiêm mua súng. [Sở dĩ] Tuệ đưa ra ý kiến đó là vì trước kia đã từng hoạt động ở hai nước Thái và Lào. Đồng chí Bường tán thành ý kiến qua Xiêm mua súng vì qua Xiêm gần hơn ra Bắc, huống gì Trung ương còn có nhiệm vụ tiếp tế võ khí cho cả nước. Nam Bộ tự lo liệu được, thì nhẹ gánh cho Trung ương. Năm Đông được ông Tuệ chỉ định đảm trách công việc này. Theo lệnh ông Tuệ, đồng chí Nguyễn Văn Xô giao 25kg vàng cho Năm Đông đi mua súng (Nguyên Hùng 2004, hồi 7, tr.70).</p>



<p>Để rút ngắn các chương hồi trong cuốn sách này và dễ nắm bắt quá trình Xuyên Tây &#8211; tức hành trình qua Thái Lan mua vũ khí về cho Nam Bộ đánh Tây thống nhất sơn hà, chúng tôi xin đúc kết nội dung hồi ký Xuyên Tây thông qua các giai đoạn ngắn cũng như thêm phần phụ chú tư liệu lịch sử từ phía Thái Lan để hồi ký xuyên Tây đến với người đọc trọn vẹn hơn.</p>



<p>Hành trình Xuyên Tây</p>



<p>Chiều ngày 20-2-1946, chờ máy bay và tàu chiến của địch về căn cứ nghỉ ngơi, chiếc ghe cửa kéo buồm rời kênh Biện Nhị, giữa sự chia tay lưu luyến của các đồng chí và đồng bào địa phương… hết đêm rồi lại ngày, sau 5 ngày lênh đênh trên biển, ghe [cũng đã đến nơi] và làm giấy tờ nhập cảnh vào Bangkok tại bến Klong-tơi vào ngày 25-2-1946. (sđd, tr.71).</p>



<p>Cuộc tiếp xúc đầu tiên của đoàn với Hòa thượng Bảo Ân trên đất Thái</p>



<p>Lần đầu tiên bước lên bờ thủ đô Bangkok, Năm Đông hơi bỡ ngỡ, [vì] đường xa, xứ lạ, phong tục tập quán, ngôn ngữ bất đồng, nhưng đã dấn thân vào nơi vô định, phải có dũng khí của người thám hiểm. [Rồi] đang đi trên đường phố, bỗng nghe có ai đó nói tiếng Việt Nam. Thật là vui mừng khôn tả xiết. Nhìn kỹ, thì thấy một nhà sư đi với hai người có vẻ Việt Nam.</p>



<p>Sau khi hỏi thăm, chào nhau thì mới biết rằng ngài là Hòa thượng Bảo Ân, người Rạch Giá, đã qua Bangkok lâu rồi, hiện trú trong một ngôi chùa tên Thi-oa-thi(*), và được ngài mời về chùa đàm đạo (sđd, hồi 9, tr.78).</p>



<p>Qua cuộc tiếp xúc đó, Hòa thượng Bảo Ân đã nói:</p>



<p>Bần đạo là Hòa thượng Bảo Ân. Giới tu hành qua đây còn có Sư Ba (cụ Bình Lương, chùa Từ Tế) người miền Bắc. Tại chùa Năng Lớn (Cảnh Phước) có sư Giác Mẫn(**)và chùa Bang-phô (Quảng Phước) có sư Bích Vân. Tất cả đều là những người có tâm huyết với đất nước, quê hương. Trong tín hữu người Thái, có rất nhiều người có cảm tình với Việt Nam, nổi bật nhất là Mỏ Sang (Bác sĩ Sang). Mỏ Sang ủng hộ thuốc men cho bà con Việt kiều ở đây rất nhiều (sđd, hồi 9, tr.79).</p>



<p>Qua lời đàm đạo giữa Tổ Bảo Ân và phái đoàn, chúng ta hiểu thêm rằng ngoài Tổ Bảo Ân, các ngài Bình Lương (Hà Tĩnh), Giác Mẫn, Bích Vân, Nguyễn Văn Khước (Huế)… đều là những Tăng sĩ, chí sĩ yêu nước yêu quê hương. Tuy nhiên, trong tình hình hiện tại chúng ta cũng chỉ mới viết sơ khảo về ngài Bình Lương và Tổ Bảo Ân mà thôi. Còn quý ngài khác thì hy vọng sẽ có những khảo cứu sau này. Trong những lần hầu chuyện với ngài Tăng trưởng An Nam tông hiện tại là Hòa thượng Diệu Giác &#8211; Tịnh Liên nay đã 98 tuổi, vị học trò xuất sắc, người kế vị trụ trì sau Tổ Bảo Ân tại chùa Cảnh Phước và được ngài dạy rằng: “Các Hòa thượng Việt Nam chỉ dạy tôi học chữ Hán cổ để đọc kinh điển, cũng như thực hành các khoa nghi lễ, còn chữ Quốc ngữ thì chỉ dạy vừa đủ đọc bảng chữ cái và nói những câu đơn giản thôi, chứ không dạy sâu, vì các ngài sợ tôi hiểu và đọc được các văn bản cách mạng của các ngài. Chùa Cảnh Phước không chỉ là nơi giao tiếp, hội họp và lưu trú của những ‘khách lạ từ Việt Nam sang’, mà còn là nơi tập kết vũ khí trước khi được đưa về Việt Nam. Rất nhiều lần cảnh sát và mật thám đánh hơi được và đem máy dò đến chùa dò tìm vũ khí đạn dược, nhưng rất may là không tìm được gì cả nên Luang phor Bảo Ân vẫn bình yên tu học và hành đạo…”.</p>



<p>Cuộc đàm thoại giữa đoàn và Tổ Bảo Ân đã diễn ra bên chung trà đạo vị, Năm Đông cho biết tình hình chiến sự Việt Nam, về “Trạm số 1” đặt tại chùa Tam Bảo, Hòa thượng Trí Thiền bị đày đi Côn Đảo, sư Thiện Ân (Huyền Thanh &#8211; sư huynh Tổ Bảo Ân) đã viên tịch tại chùa, về nhóm các nhà hoạt động tại chùa Tam Bảo gồm: Võ Văn Kiệt, Phan Văn Bảy, Ngô Tám, Mỹ Hòa, Hữu Phước, Hai Thơ, Lọ Nhỏ, Râu Già, Trần Văn Tám, sư Nhật Quang… Nghe hết câu chuyện, Tổ Bảo Ân chỉ thở dài, và niệm Phật. Sau đó, Tổ bảo Năm Đông đưa hết anh em dưới ghe lên chùa tạm trú và nói qua tình hình Việt kiều Thái Lan cho đoàn nắm bắt.</p>



<p>Tôi đã đi nhiều nơi nhưng chưa thấy nơi nào Việt kiều có tinh thần tương thân, tương ái như ở đây. Chừng ở lâu mới biết, Việt kiều Thái, Lào khoảng 100 ngàn [người], trong đó khoảng 60.000 từ Lào sang… Việt kiều Lào chạy qua đây [Thái Lan] sau khi mặt trận Lào thất thủ vào đầu năm 1946. Khoảng 60.000 đồng bào này chính là lực lượng yêu nước mà chúng ta kỳ vọng trong công cuộc vận động mua sắm võ khí đưa về nước (sđd hồi 9, trang 80-1).</p>



<p>Hội ngộ Trần Văn Giàu và bộ 3 chủ chốt</p>



<p>Một hôm Vân Anh đưa hai anh Năm Đông và Sơn Ngọc Minh về nhà mình chơi. Đang đi bách bộ trên phố, bỗng Năm Đông nghe có tiếng ai kêu ‘Dương Quang Đông’. Anh quay lại thì thấy một người bước vội vô nhà đóng cửa lại… Sau đó Quang Đông trở lại thì mới biết người vừa gọi mình là Trần Văn Giàu… Ngày hôm sau, tại nhà Sáu Giàu, một Ban Nghiên cứu được thành lập gồm chỉ có 2 thành viên là Năm Đông và Sáu Giàu, cố vấn là Hòa thượng Bảo Ân. Từ đó tất cả hoạt động của đường Xuyên Tây, đều do bộ 3 này quyết định (sđd, hồi 9, tr.83).</p>



<p>Kể từ đó, trên con đường Xuyên Tây lại có thêm một bóng áo vàng trong vai trò cố vấn. Ban Nghiên cứu đã hoạch định việc dạy tiếng Thái cho cán bộ, liên hệ chủ tàu ghe, tiếp xúc đồng bào Việt kiều tìm kiếm thêm nguồn tài chính, tạo mối liên kết với các ngài Giác Mẫn, Bích Vân, đề cử các đồng chí đại biểu Quốc hội đi Hà Nội, liên lạc với Thủ tướng Thái Lan đương thời là Luang Pradit (người từng học với Sáu Giàu tại Pháp), lập các trại huấn luyện tại Thái và tìm mua nguồn vũ khí đạn dược.</p>



<p>Sau khi bàn bạc với Sáu Giàu và Hòa thượng Bảo Ân, Năm Đông quyết định lập một trạm tại May-luột, một trạm tại Kokong. Trạm May-luột giao 4 đồng chí là Thành, Tho, Thọ và Lầu. Trạm Kokong do hai đồng chí là Nhơn và Nghĩa. Bông Văn Dìa được anh em tín nhiệm giao chỉ huy cả 2 trạm nói trên. Vậy là đến đầu tháng 3-1946, đường Xuyên Tây đã hình thành (sđd, hồi 9, tr.84).</p>



<p>Với sự sắp xếp và chuẩn bị chu đáo về nhân sự và phương án hoạt động nên đoàn đã nhận được kết quả xứng đáng.</p>



<p>Trong khi anh Năm Đông và Sơn Ngọc Minh chuyên tổ chức các trung đội hải ngoại đưa về nước, thì các anh Thiệt, Sáu, sát cánh cùng Hòa thượng Bảo Ân bí mật mua sắm võ khí. Phấn khởi nhất là Thủ tướng Thái Lan Luang Pradit tặng cuộc kháng chiến của nhân dân Việt Nam 50 tấn súng đạn và hóa chất… Võ khí, lớp xin, lớp mua được bí mật đưa về các chùa Thi-oa-thi, Năng Lớn và Bang-phô và cần đưa về nước theo chỉ thị của Xứ ủy. Muốn chở hàng “quốc cấm” này về nước phải nhờ nhà chùa vì lính không bao giờ lục soát các xe cộ nhà chùa. Thế là đích thân Hòa thượng Bảo Ân ngồi trên xe chở võ khí xuống bến… Đặc biệt, Thủ tướng Pradit còn điều thiếu tướng Luang-phạt, cùng 3 công an Xà-viễng túc trực tại hai tư dinh bộ trưởng Thông-in, Nai-tiêu, cùng các chùa Thi-oa-thi, Năng Lớn, Bang-phô, để hộ tống các xe chở võ khí xuống bến… Sau bao vất vả, đoàn đã về bến an toàn tại Vàm Ông Trang, thuộc xã An Viên vào ngày 14-7-1946 (sđd, hồi 13, tr.107-8).</p>



<p>Với những thành tựu như vừa nêu, về sau con đường Xuyên Tây trở thành con đường quan trọng có ý nghĩa chiến lược, cung cấp nhân sự và vũ khí đạn dược cho cả chiến trường Đông Dương (Việt Nam – Lào – Cam-pu-chia) và công trạng của những con người tham gia vào con đường huyền thoại này thật lớn lao, trong đó phải kể đến những Tăng sĩ Việt tông với tinh thần “hộ quốc an dân”, thực hiện hạnh nguyện Bồ-tát đạo đi vào cuộc đời để cứu quốc và nhân dân. Nước nhà có độc lập thống nhất thì mọi người dân mới được ấm no, hạnh phúc và có đủ quyền lợi để mưu cầu hạnh phúc mà trong đó là quyền tự do thực hành đời sống tôn giáo của mình.</p>



<p>Tổ Bảo Ân &#8211; vị cố vấn trong con đường Xuyên Tây như cánh nhạn phương Nam giữa bầu trời đầy mây trắng của thủ đô Bangkok tươi đẹp. Ngài đã đến và đi như hạnh nguyện của mình và để lại cho hậu thế bao bài học quý giá. Tại ngôi chùa Cảnh Phước, nơi nhục thân của ngài còn nằm lại tại xứ người, nhưng trong lòng những người con của đất nước Việt Nam thân thương vẫn luôn hướng về người như một sự tri ân sâu sắc về một hành trạng cao cả mà công đức và sự nghiệp đã đi vào lịch sử. Kỷ niệm 50 năm ngày đất nước thống nhất, non sông thu về một mối, xin một lần nữa kính dâng ba nén tâm hương để tỏ bày lòng tri ân vô hạn về bậc phi tích cao tăng của Phật giáo Việt tông Thái Lan.</p>



<p>Bangkok, chiều Quý Xuân &#8211; Ất Tỵ 2025</p>



<hr class="wp-block-separator has-alpha-channel-opacity"/>



<p>Tài liệu tham khảo</p>



<ol class="wp-block-list">
<li>Nguyên Hùng, (2004) Dương Quang Đông Xuyên Tây. TP.Hồ Chí Minh: NXB Trẻ.</li>



<li>Thanh Vân, (1974) Lược khảo Phật giáo sử Việt Nam qua các thời đại và phát nguồn của các giáo phái Phật giáo. Sài gòn: Phật học viện và các chùa xuất bản (nội bộ).</li>



<li>Nguyên Chơn, Đạo Bình, (2015) Phật giáo An Nam tông trên dòng Mê-kông. Sài gòn: Học viện Phật giáo TP.HCM và Đại học Khoa học Xã hội và Nhân văn xuất bản (Kỷ yếu Hội thảo khoa học).</li>



<li>Nguyên Chơn, (2018), Tổ Bảo Ân &#8211; bậc danh tăng An Nam tông tại Thái Lan. TP.Hồ Chí Minh,Báo Giác Ngộ.</li>
</ol>



<p>(*) Tổ Bảo Ân thường ở chùa Cảnh Phước hay wat Samananamborihan, Bangkok. Chùa có nhiều tên gọi khác như chùa Sapankhao, Bạch Kiều, Năng Lớn. Trước đó, ngài cũng từng ở chùa Thi-oa-thi hay chùa Cam Lộ (wat Thipvarivihan) nằm trọn giữa khu phố Tàu như mô tả trong hồi ký, nhưng hiện tại chùa Cam Lộ đã thuộc về Hoa tông (Chinnikai or Chinese Nikaya) vì những lý do khác nhau không còn trong hệ thống An Nam tông nữa.</p>



<p>(**) Cụ Giác Mẫn là đệ tử của ngài Bản Mặc &#8211; Viên Mãn chùa Phổ Phước, Bangkok, chứ không phải chùa Phổ Phúc Phong như các tư liệu báo chí đăng tải.</p>



<p>Nguyên Chơn &#8211; Khả Đạo/Báo Giác Ngộ</p>
]]></content:encoded>
					
		
		
			</item>
		<item>
		<title>Góp thêm những tư liệu về Chủ tịch Hồ Chí Minh với Phật giáo</title>
		<link>https://phatgiaovinhphuc.vn/2025/05/19/gop-them-nhung-tu-lieu-ve-chu-tich-ho-chi-minh-voi-phat-giao/</link>
		
		<dc:creator><![CDATA[trast1]]></dc:creator>
		<pubDate>Mon, 19 May 2025 07:17:23 +0000</pubDate>
				<category><![CDATA[Lịch sử]]></category>
		<category><![CDATA[Phật học vấn đáp]]></category>
		<category><![CDATA[Tự viện]]></category>
		<category><![CDATA[Xã hội]]></category>
		<guid isPermaLink="false">https://phatgiaovinhphuc.vn/?p=3595</guid>

					<description><![CDATA[Nghiên cứu cuộc đời hoạt động cách mạng của Chủ tịch Hồ Chí Minh, điều chúng ta dễ dàng bắt gặp là ở chỗ Người có nhiều mối quan hệ gắn bó với Phật giáo, không chỉ ở mặt tư tưởng, tình cảm mà cả chính bằng những việc làm cụ thể. Trên bình diện [...]]]></description>
										<content:encoded><![CDATA[


<p>Nghiên cứu cuộc đời hoạt động cách mạng của Chủ tịch Hồ Chí Minh, điều chúng ta dễ dàng bắt gặp là ở chỗ Người có nhiều mối quan hệ gắn bó với Phật giáo, không chỉ ở mặt tư tưởng, tình cảm mà cả chính bằng những việc làm cụ thể.<br><br>Trên bình diện tư tưởng, Chủ tịch Hồ Chí Minh có nhiều mặt gần gũi, gặp gỡ với giáo lý Phật giáo. Cốt tủy của Phật giáo là Từ bi hỷ xả, Vô ngã vị tha, Cứu khổ cứu nạn. Chủ tịch Hồ Chí Minh viết: “Tôn chỉ mục đích của đạo Phật nhằm xây dựng cuộc đời thuần mỹ, chí thiện, bình đẳng, yên vui và no ấm”(1).</p>



<p>Mang khát vọng giải phóng nhân quần ra khỏi cảnh khổ đau, Thái tử Tất Đạt Đa đã rời bỏ cảnh sống vương giả, xuất gia tìm đạo: “Ta không muốn sống trong cung vàng điện ngọc, Ta không muốn sống trong cảnh vương giả trị vì thiên hạ, hưởng cuộc đời sung sướng cao sang trên mồ hôi nước mắt của lê dân. Ta không muốn sống trong xã hội bất công mà Ta đã chứng kiến. Ta quyết định ra đi, dù phải xông pha trên gió bụi lao lung, Ta cố tìm ra mối đạo giải thoát cho nhân loại muôn loài”(2).</p>



<p>Cùng với hạnh nguyện trên đây của Thái tử Tất Đạt Đa, người thanh niên yêu nước Nguyễn Tất Thành lớn lên trong cảnh nước mất nhà tan, đã sớm nhận ra cảnh:</p>



<p>Trên đời nghìn vạn điều cay đắng<br>Cay đắng chi bằng mất tự do.</p>



<p>Điều đó thôi thúc Nguyễn Tất Thành bất chấp mọi gian khổ hiểm nguy, bôn ba khắp năm châu bốn biển để tìm đường cứu nước, cứu dân. “Tôi muốn đi ra nước ngòai xem nước Pháp và các nước khác. Sau khi xem xét họ làm như thế nào tôi sẽ trở về giúp đồng bào ta”(3). Với ý chí và quyết tâm đó, nên ngay giữa thủ đô Paris, trong sự bủa vây của mật thám Pháp, Nguyễn Ái Quốc vẫn không hề nao núng về lý tưởng cứu nước, cứu dân của mình: “Tôi thích làm chính trị thì tôi chẳng sợ chết, cũng chẳng sợ tù đày. Trong đời này chúng ta chỉ chết có một lần, tại sao lại sợ?”(4).</p>



<p>Cách đây trên 2.500 năm, khát vọng công bằng xã hội đã được Đức Thế Tôn nêu lên như một quy luật xã hội, cô đọng lại trong lời dạy nổi tiếng, mang tính vượt thời gian: “Không có đẳng cấp trong dòng máu cùng đỏ, không có đẳng cấp trong giọt nước mắt cùng mặn. Mỗi người khi mới sanh không phải có sẵn dấu tin-ca (tilca) trên trán, không đeo sẵn dây chuyền trong cổ”(5). Phật dạy các đệ tử: “Này các Tỳ kheo! Hãy tu hành vì hạnh phúc cho quần chúng, vì an lạc cho quần chúng, vì lòng thương tưởng cho đời, vì hạnh phúc và an lạc cho chư Thiên và loài người” (Tương Ưng Bộ kinh); “Này các Tỳ kheo! Xưa và nay Ta chỉ nói lên sự khổ và diệt khổ” (Trung Bộ kinh).</p>



<p>Với Hồ Chí Minh thì “tất cả mọi người đều sinh ra có quyền bình đẳng… Tất cả các dân tộc trên thế giới đều sinh ra bình đẳng, dân tộc nào cũng có quyền sống, quyền sung sướng và quyền tự do”(6). Vì vậy đối với Người, “bất kỳ bao giờ, bất kỳ ở đâu tôi cũng chỉ theo đuổi một mục đích là làm sao ích quốc lợi dân. Một ngày mà Tổ quốc chưa thống nhất, đồng bào còn đau khổ là một ngày tôi ăn không ngon, ngủ không yên”.</p>



<p>Phật giáo chủ trương: “Dĩ chúng tâm kỷ tâm”. Đối với Phật giáo, con người là cao hơn tất cả: “Nhân thị tối thắng”. Với Chủ tịch Hồ Chí Minh: “Dân chúng công nông là gốc cách mệnh” (7) và “nhân nghĩa là nhân dân. Trong bầu trời không có gì tốt đẹp vẻ vang bằng phục vụ lợi ích cho nhân dân”(8).</p>



<p>Trong Phật giáo, các vị Bồ tát xem nỗi đau khổ của chúng sinh là nỗi đau khổ của minh, bao giờ nỗi đau khổ của chúng sinh chưa dứt thì thề chưa thành Phật, ngài Địa Tạng Bồ tát thệ nguyện:</p>



<p>&#8220;Chúng sanh độ tận phương chứng Bồ đề,<br>Địa ngục vị không thệ bất thành Phật”.</p>



<p>(Chúng sinh độ hết mới chứng đạo Bồ đề,<br>Địa ngục nếu còn thề không thành Phật).</p>



<p>Với Chủ tịch Hồ Chí Minh thì “suốt đời, tôi chỉ có một ham muốn tột bậc, là làm sao cho nước ta được hoàn toàn độc lập, dân ta được hoàn toàn tự do, đồng bào ta ai cũng có cơm ăn, áo mặc, ai cũng được học hành”(9). Nhân bản Hồ Chí Minh nói theo cách nói của Phật giáo là sự “kết tinh bằng Từ bi, Trí tuệ, Dũng mãnh, hướng dẫn chúng sinh đạt tới mục đích Giác ngộ và Giải thoát, chuyển cõi Sa bà này thành cõi Tịnh độ, và cuộc đời cơ cực này thành nếp sống Cực lạc”(10).</p>



<p>Nhận rõ những giá trị cao đẹp của Phật giáo, có sự gần gũi, gặp nhau với tư tưởng Phật giáo trên những nét lớn, Chủ tịch Hồ Chí Minh bao giờ cũng nhìn Phật giáo với một thái độ trân trọng: “Nền tảng và truyền thống của triết học Ấn Độ là lý tưởng hòa bình bác ái. Liên tiếp trong nhiều thế kỷ, tư tưởng của Phật giáo, nghệ thuật khoa học Ấn Độ đã lan khắp thế giới”(11). Năm 1958, khi sang thăm Ấn Độ, Chủ tịch Hồ Chí Minh nói: “Chúng tôi rất sung sướng được thăm quê hương Đức Phật, quê hương của một trong những nền văn minh lâu đời nhất thế giới”(12). Nhà thơ Huy Cận viết: “Khi bình sinh, Chủ tịch Hồ Chí Minh luôn luôn có một tấm long kính mộ sâu sắc và cảm động đối với Đức Phật Thích Ca &#8211; người sáng lập ra đạo Phật, cũng như đối với tất cả các vị sáng lập những tôn giáo lớn. Người đã cảm nhận ở các vị giáo chủ này trước hết là lòng thương cảm sâu sắc đối với số phận của những chúng sinh và ý muốn thiết tha làm sao giảm nhẹ hoặc xóa bỏ những nỗi đau khổ của con người trên trái đất”(13).</p>



<p>Trong hành động cụ thể, Chủ tịch Hồ Chí Minh có nhiều gắn bó với Phật giáo. Theo nghị sĩ Thái Lan Si-pha-nôn Vi-shit Va-ra-ron, năm 1927, khi hoạt động ở Thái Lan, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã xây dựng điện Phật to nhất của chùa Phô-thi-sôm tỉnh U-đon, Đông Bắc Thái Lan. Chủ tịch Hồ Chí Minh là người đã vận động Việt kiều góp sức, góp của và đứng ra chủ trì việc xây dựng. Cũng thời gian này, chùa Lô-ka-nu-kho (Băng-cốc) là cơ sở hoạt động của Chủ tịch Hồ Chí Minh. Ở đây, Người đã được Hòa thượng Thích Bình Lương hết lòng giúp đỡ.</p>



<p>Khi nước nhà được độc lập, nhà sư về nước. Lúc nhà sư lâm bệnh điều trị ở Bệnh viện Việt &#8211; Xô, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã đến thăm. Khi nhà sư viên tịch, Người đã gửi vòng hoa đến viếng với nội dung: “Kính viếng Hòa thượng Thích Bình Lương”, dòng chữ nhỏ dưới đề: “Đồng chí Hồ Chí Minh”. Giáo sư Trần Văn Giàu cũng cho biết thêm khi hoạt động cách mạng ở Thái Lan, Chủ tịch Hồ Chí Minh sống rất giản dị và kham khổ như một nhà tu hành, có khi Người đã mặc áo cà sa của nhà sư.</p>



<p>Năm 1941, khi về nước trực tiếp lãnh đạo cách mạng Việt Nam, trong điều kiện hết sức khó khăn giữa núi rừng Pắc Bó, Nguyễn Ái Quốc đã vẽ ảnh Phật treo trên vách đá để quần chúng có nơi chiêm ngưỡng vào những dịp lễ Tết.</p>



<p>Sau Cách mạng Tháng Tám 1945, mặc dầu bề bộn với nhiều công việc, Chủ tịch Hồ Chí Minh vẫn dành thời gian đến thăm chùa Quán Sứ, chùa Bà Đá. Nói chuyện với Tăng Ni, tín đồ Phật tử ở đây, Chủ tịch Hồ Chí Minh khẳng định: “Nhà nước chúng tôi luôn luôn tôn trọng tự do tín ngưỡng, Phật giáo Việt Nam với dân tộc như hình với bóng, tuy hai mà một. Tôi mong các Hòa thượng, Tăng Ni và Phật tử hãy tích cực thực hiện tinh thần Tư bi, Vô ngã, Vị tha trong sự nghiệp cứu nước, giữ nước và giữ đạo để cùng toàn dân sống trong Độc lập, Tự do, Hạnh phúc&#8221;(14). Đối với Người, làm được như vậy tức là “đã làm theo lòng Đại từ, Đại bi của Đức Phật Thích Ca”(15).</p>



<p>Trong thời gian từ năm 1954 đến lúc qua đời, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã đi thăm nhiều chùa, nhiều cơ sở Phật giáo ở miền Bắc, tiếp xúc với nhiều Tăng Ni, Phật tử. Ngày 19-5-1960, trong lúc Hoà thượng Thích Thanh Chân, trụ trì chùa Hương, đang chuẩn bị vào Phủ Chủ tịch để chúc thọ Hồ Chủ tịch tròn 70 tuổi, thì 5 giờ sáng hôm đó, Người lại vào thăm chùa Hương. Tại đây, Người đã chỉ thị cho chính quyền địa phương phải sửa lại những con thuyền, bắc thêm cầu phao và làm thêm một con đường mới, để các Tăng Ni, Phật tử đi lại chiêm bái được dễ dàng và an toàn.</p>



<p>Khi ở miền Nam, chính quyền Ngô Đình Diệm thực hiện chính sách kỳ thị tôn giáo, âm mưu chia cắt lâu dài đất nước ta, Chủ tịch Hồ Chí Minh kêu gọi Tăng Ni, Phật tử “hãy ra sức giúp đỡ cán bộ, hăng hái thực hiện mọi công tác của Chính phủ, chấp hành đúng chính sách tôn trọng tự do tín ngưỡng, ngăn chặn âm mưu của Mỹ &#8211; Diệm và bọn tay sai chia rẽ khối đoàn kết dân tộc, hãy ra sức đấu tranh giành thống nhất đất nước”(16). Khi chính quyền Ngô Đình Diệm tiến đến chính sách tiêu diệt Phật giáo bằng việc ra lệnh cấm treo cờ Phật giáo thế giới vào dịp Lễ Phật đản năm 1963, Tăng Ni, Phật tử miền Nam đã đứng dậy đấu tranh quyết liệt.</p>



<p>Để phản đối chính sách bất công, gian ác của chính quyền Ngô Đình Diệm, ngày 11-6-1963, Hòa thượng Thích Quảng Đức tự thiêu tại Sài Gòn với hạnh nguyện:</p>



<p>&#8220;Khói thơm cảnh tỉnh bao người ác,<br>Tro trắng phẳng san hố bất bình”(17).</p>



<p>Trước sự hy sinh phi thường và dũng cảm của Hòa thượng Thích Quảng Đức, Chủ tịch Hồ Chí Minh hết sức cảm động và Người đã có câu đối kính viếng Hòa thượng:</p>



<p>&#8220;Vị pháp thiêu thân, vạn cổ hùng huy thiên nhật nguyệt;<br>Lưu danh bất hủ, bách niên chính khí địa sơn hà”(18).</p>



<p>Đêm 20 rạng ngày 21-8-1963, chính quyền Ngô Đình Diệm tiến hành “Kế hoạch nước lũ”, cho quân tấn công hầu hết các ngôi chùa dùng làm cơ sở đấu tranh trên khắp miền Nam. Tiếp theo, chính quyền Ngô Đình Diệm đàn áp khốc liệt cuộc đấu tranh của sinh viên, học sinh Sài Gòn phản đối Diệm đàn áp tôn giáo. Ngày 25-8-1963, nữ sinh Quách Thị Trang bị bắn chết trước bùng binh chợ Bến Thành (Sài Gòn). Ngày 28-8-1963, Chủ tịch Hồ Chí Minh ra Lời tuyên bố, nghiêm khắc lên án chính quyền Ngô Đình Diệm đàn áp dã man Tăng Ni, Phật tử và khủng bố, bắt bớ giáo sư, sinh viên, học sinh miền Nam: “Gần đây, ở miền Nam Việt Nam lại xảy ra thêm một tình trạng cực kỳ nghiêm trọng và đau thương. Bọn Ngô Đình Diệm đốt phá chùa chiền, khủng bố sư sãi và đồng bào theo đạo Phật. Chúng đóng cửa các nhà trường, bắt bớ hàng loạt giáo sư và sinh viên, học sinh. Tội ác của chúng, nhân dân ta đều căm giận. Cả thế giới đều lên tiếng phản đối, nhân dân tiến bộ Mỹ cũng tỏ lòng bất bình… Trước tình hình ấy, đồng bào miền Nam ta đã đoàn kết nhất trí, không phân biệt sĩ nông công thương, không phân biệt chính kiến, tôn giáo, kiên quyết đấu tranh để giành lại tự do dân chủ, tự do tín ngưỡng”. Chủ tịch Hồ Chí Minh khẳng định cuộc đấu tranh của nhân dân miền Nam tất yếu sẽ thắng lợi: “Dưới ngọn cờ của Mặt trận Dân tộc Giải phóng, cuộc đấu tranh chính nghĩa của đồng bào miền Nam được sự ủng hộ của nhân dân yêu chuộng hòa bình thế giới, nhất định giành được thắng lợi”; đồng thời bày tỏ sự cảm ơn đối với nhân dân thế giới đã ủng hộ cuộc đấu tranh của Tăng Ni, tín đồ Phật tử miền Nam chống chế độ bạo quyền Ngô Đình Diệm: “Thay mặt nhân dân Việt Nam, tôi chân thành cảm ơn nhân dân và chính phủ các nước Phật giáo, các nước xã hội chủ nghĩa anh em, cảm ơn nhân dân yêu chuộng hòa bình và chính nghĩa trên thế giới, cảm ơn nhân dân và nhân sĩ tiến bộ nước Mỹ đã nghiêm khắc lên án Mỹ &#8211; Diệm và nhiệt tình ủng hộ nhân dân miền Nam”(19).</p>



<p>Chủ tịch Hồ Chí Minh đánh giá cao những đóng góp, hy sinh của Tăng Ni, tín đồ Phật giáo trong hai cuộc kháng chiến. Năm 1964, trong thư gửi Đại hội kỳ 3 Hội Phật giáo thống nhất Việt Nam, Người viết: “Các vị Tăng Ni, tín đồ Phật giáo trước đây có công với kháng chiến, nay thì đang góp sức cùng toàn dân xây dựng miền Bắc giàu mạnh và đấu tranh thực hiện hòa bình thống nhất nước nhà”. Hòa thượng Thích Đôn Hậu (chùa Linh Mụ, Huế), người thoát ly tham gia kháng chiến vào dịp quân và dân miền Nam mở cuộc Tổng tiến công và nổi dậy Tết Mậu Thân 1968, rất có lý khi khẳng định rằng: “Sự hiểu biết của Người rất uyên bác, không những Người nắm chắc lịch sử yêu nước của Phật giáo Việt Nam trong quá khứ, mà Người còn theo dõi rất cụ thể những hoạt động yêu nước của Phật giáo nước ta hiện nay”(20). Ông Srivalisnha, Chủ tịch Hội Truyền bá đạo Phật Mahabodi ở Ấn Độ phát biểu trong lần tiếp Chủ tịch Hồ Chí Minh, khi Người sang thăm Ấn Độ (1958): “Chúng tôi kính cẩn và nhiệt liệt hoan nghênh ngài Chủ tịch đã từ bỏ những hào nhoáng lộng lẫy… Cũng như Hoàng đế Asoka, một Phật tử đầy lòng hy sinh, Chủ tịch đã nêu cao trước thế giới một lý tưởng mà chỉ có thể thực hiện bởi một người đầy lòng tin tưởng… Chủ tịch thật là một người kiêm cả công, nông, trí thức cách mạng với một lòng từ bi là đạo đức quý nhất của tín đồ Phật giáo. Các Phật tử Ấn Độ chúng tôi rất lấy làm tự hào mà xem Ngài là một con người của một nước đã có quan hệ mật thiết về văn hóa và tín ngưỡng hơn hai ngàn năm với Ấn Độ chúng tôi”(21). Và, thực tế là đã có một con đường mang tên Hồ Chí Minh ở thủ đô New Delhi, Ấn Độ.</p>



<p>Những dòng tư liệu trên đây giúp chúng ta hiểu rõ hơn và đầy đủ hơn về mối quan hệ gắn bó sâu sắc của Chủ tịch Hồ Chí Minh với Phật giáo trong quá trình hoạt động cách mạng của Người, cả trong nhận thức và trong hành động; nó giải thích rõ vì sao Tăng Ni, Phật tử Việt Nam trong hai cuộc kháng chiến đã đi theo con đường mà Chủ tịch Hồ Chí Minh đã chọn và đã có những đóng góp hết sức to lớn trong sự nghiệp giải phóng dân tộc, thống nhất đất nước trước đây và ngày nay đang chung lưng đấu cật cùng với toàn dân bảo vệ và xây dựng đất nước Việt Nam thân yêu ngày càng “đàng hoàng hơn, to đẹp hơn” như điều mà Chủ tịch Hồ Chí Minh hằng mong muốn.</p>



<p>Lê Cung (PGS.TS.Khoa Lịch sử)</p>



<p>(1) Những lời kêu gọi của Hồ Chủ tịch. Tập IV, NXB Sự Thật, Hà Nội, 1958, tr.39.<br>(2) Thích Diệu Niệm. Tư tưởng Hồ Chí Minh gần gũi với tư tưởng Phật giáo. Nội san Nghiên cứu Phật giáo số 1, Hà Nội, 1991, tr.33.<br>(3) Trần Dân Tiên. Những mẩu chuyện về đời hoạt động của Hồ Chủ tịch. NXB Văn Học, Hà Nội, 1970, tr.11.<br>(4) Nguyễn Phan Quang. Thêm một số tư liệu về hoạt động của Nguyễn Ái Quốc ở Pháp 1917-1923. NXB TP.HCM, 1995, tr.47.<br>(5) Võ Đình Cường. Ánh đạo vàng. Phật học Viện Quốc tế xuất bản, USA, 1987, tr.92-93.<br>(6) Hồ Chí Minh. Toàn tập, Tập IV. NXB Sự Thật, Hà Nội, 1984, tr.1.<br>(7) Hồ Chí Minh. Toàn tập, Tập II. NXB Sự Thật, Hà Nội, 1984, tr.197.<br>(8) Hồ Chí Minh. Phát huy tinh thần cầu học cầu tiến. NXB Sự Thật, Hà Nội, 1960, tr.62-63.<br>(9) Hồ Chí Minh. Toàn tập, Tập IV. NXB Sự Thật, Hà Nội, 1984, tr.100.<br>(10) Thích Đức Nghiệp. Hồ Chủ tịch, một biểu trưng nhân bản Việt Nam, trong Đạo Phật Việt Nam. NXB TP.HCM, 1995, tr.318.<br>(11) Hồ Chí Minh. Truyện và ký. NXB Văn Học, Hà Nội, 1985, tr.201.<br>(12) Hồ Chí Minh. Sđd, tr.208<br>(13) Cù Huy Cận. Hồ Chí Minh &#8211; nhà văn hóa lớn, một người hiền của thời đại chúng ta. Báo Nhân Dân ngày 1-9-1989.<br>(14) Thích Đức Nghiệp, Sđd, tr.321-322.<br>(15) Thư Hồ Chủ tịch gởi Hội Phật tử Việt Nam, ngày 30-8-1947.<br>(16) Những lời kêu gọi của Hồ Chủ tịch, Tập IV. NXB Sự Thật, Hà Nội, 1958, tr.39.<br>(17) Kệ thiêu thân cúng dường Chánh pháp của Hòa thượng Thích Quảng Đức viết trước lúc tự thiêu.<br>(18) Phạm Hoài Nam. Bồ tát Thích Quảng Đức, ngọn đuốc xả thân vì Đạo pháp và Tổ quốc. Báo Sài Gòn Giải Phóng, ngày 30-5-2005.<br>(19) Lời tuyên bố của Chủ tịch Hồ Chí Minh về tình hình miền Nam Việt Nam hiện nay. Báo Quân Đội Nhân Dân, ngày 29-8-1963, tr.1.<br>(20) Bác Hồ trong lòng dân Huế. Thành ủy Huế, 1990, tr.35.<br>(21) Hồ Chí Minh &#8211; Anh hùng giải phóng dân tộc, danh nhân văn hóa. NXB Khoa Học Xã Hội, Hà Nội, 1990, tr.30.</p>
]]></content:encoded>
					
		
		
			</item>
		<item>
		<title>Từ tín ngưỡng đến bất hoại tín</title>
		<link>https://phatgiaovinhphuc.vn/2025/05/19/tu-tin-nguong-den-bat-hoai-tin/</link>
		
		<dc:creator><![CDATA[trast1]]></dc:creator>
		<pubDate>Mon, 19 May 2025 07:15:58 +0000</pubDate>
				<category><![CDATA[Lịch sử]]></category>
		<category><![CDATA[Phật học vấn đáp]]></category>
		<category><![CDATA[Tự viện]]></category>
		<guid isPermaLink="false">https://phatgiaovinhphuc.vn/?p=3592</guid>

					<description><![CDATA[NSGN &#8211; Là hữu tình, loài nào cũng tham sống sợ chết, luôn muốn có được cuộc sống hạnh phúc an vui, một nơi nương tựa an ổn vững chắc. Khi còn nhỏ, chúng ta tin tưởng, nương tựa vào cha mẹ, ông bà, hoặc người thân… để được bảo hộ, trưởng dưỡng an lành. [...]]]></description>
										<content:encoded><![CDATA[


<p>NSGN &#8211; Là hữu tình, loài nào cũng tham sống sợ chết, luôn muốn có được cuộc sống hạnh phúc an vui, một nơi nương tựa an ổn vững chắc.<br><br>Khi còn nhỏ, chúng ta tin tưởng, nương tựa vào cha mẹ, ông bà, hoặc người thân… để được bảo hộ, trưởng dưỡng an lành. Đến tuổi trưởng thành, hầu hết chúng ta đều tin theo một học thuyết, một hệ tư tưởng nào đó, hoặc tín ngưỡng dân gian, hoặc truyền thống tập tục, tôn giáo… để làm nơi nương tựa tinh thần cho chính mình.</p>



<p>Theo thường pháp (quy luật tự nhiên), những ai còn bị vô minh che lấp, tham ái trói buộc thì dù giàu hay nghèo, sang hay hèn, khôn hay dại, đẹp hay xấu, già hay trẻ… không có người nào mà không lo âu sợ hãi, không ai mà không tìm kiếm cho mình một chỗ nương tựa, che chở an toàn. Vì bị thúc đẩy bởi sự sợ hãi, nên chúng ta luôn luôn tìm cầu, nương tựa vào một đấng nào đó để được bảo hộ. Như kinh Pháp cú nói:</p>



<p>Loài người sợ hoảng hốt</p>



<p>Tìm nhiều chỗ quy y,</p>



<p>Hoặc rừng rậm, núi non,</p>



<p>Hoặc vườn cây, đền tháp(1).</p>



<p>Tín ngưỡng</p>



<p>Tín ngưỡng thì không có sai, đó là quyền tự do của mỗi con người, nhưng tín ngưỡng như thế nào để đem lại lợi ích cho mình, cho người cả đời này và đời sau, đó là điều cần được phát triển, khích lệ và tán thán.</p>



<p>Tín ngưỡng, tiếng Sanskrit là śraddhā, tiếng Pāli là saddhā: tin tưởng, tin cậy, tin phục, tôn kính, sùng đạo, tin ngưỡng. Tín ngưỡng như vậy có hai loại: mê tín và chánh tín. Tín mà không có sự hiểu biết đúng đắn, tin tưởng một cách mù quáng, không phù hợp với chân lý, với phép tắc tự nhiên, được gọi là mê tín. Ngược lại là chánh tín.</p>



<p>Như vậy, những người con Phật như chúng ta, tin vào Đức Phật, thờ kính Phật, chúng ta cần phải hiểu và hành như thế nào để phù hợp với lời Phật dạy, đúng với pháp luật thiện thuyết(2). Nếu mang danh là một Phật tử, tôn kính Phật, phụng thờ Phật mà không có sự hiểu biết đúng đắn, phù hợp với chân lý, với lời Phật dạy, làm điều phi pháp hại mình, hại người thì Phật gọi người đó là mê tín, là phỉ báng Như Lai.</p>



<p>Vậy để có được sự hiểu biết đúng đắn, phù hợp với chân lý, tránh làm điều phi pháp, hại mình hại người, chúng ta cần phải thân cận thầy lành, bạn tốt, lắng nghe, học hỏi, tư duy pháp một cách đúng đắn, không nên vội tin vào bất cứ điều gì mà không có sự suy xét, phân tích đối chiếu, thể nghiệm. Như trong Pháp uẩn túc luận nói: “Ta nên gần gũi các bậc thiện tri thức, cung kính nhất tâm lắng nghe Chánh pháp, như lý quán sát nghĩa lý thâm diệu, tinh tấn tu tập pháp tùy hành pháp”(3).</p>



<p>Cũng như trong kinh Kesamuttisuttaṃ, Đức Phật dạy cho dân chúng Kālāmā cách thức tin hiểu và hành pháp như sau:</p>



<p>“…Này các Kālāmā, chớ có tin vì nghe báo cáo, chớ có tin vì nghe truyền thuyết; chớ có tin vì theo truyền thống; chớ có tin vì được kinh điển truyền tụng; chớ có tin vì lý luận suy diễn; chớ có tin vì diễn giải tương tự; chớ có tin vì đánh giá hời hợt các dữ kiện; chớ có tin vì phù hợp với định kiến; chớ có tin vì phát xuất từ nơi có uy quyền, chớ có tin vì vị Sa-môn là bậc đạo sư của mình.</p>



<p>Nhưng này các Kālāmā, khi nào tự mình biết rõ như sau: ‘Các pháp này là bất thiện; các pháp này là đáng chê; các pháp này bị các người có trí chỉ trích; các pháp này nếu thực hiện và chấp nhận đưa đến bất hạnh khổ đau’, thời này Kālāmā, hãy từ bỏ chúng!</p>



<p>…Nhưng này các Kālāmā, khi nào tự mình biết như sau: ‘Các pháp này là thiện; các pháp này là không đáng chê; các pháp này không bị những người có trí chỉ trích; các pháp này nếu thực hiện và chấp nhận, đưa đến hạnh phúc an lạc’, thời này Kālāmā, hãy tự đạt đến và an trú!”(4).</p>



<p>Cũng vậy, nói về niềm tin, sự học hiểu và hành pháp như thế nào cho đúng, cho được tăng thượng, tăng ích, trong kinh Thiện pháp, Đức Phật dạy:</p>



<p>“…Thế gian có hai hạng người: người có tín và người bất tín, người có tín là hơn, người bất tín là kém.</p>



<p>Người có tín lại có hai hạng: Thường đến gặp Tỷ-kheo và không thường đến gặp Tỷ-kheo. Người thường đến gặp Tỷ-kheo là hơn, người không thường đến gặp Tỷ-kheo là kém.</p>



<p>Người thường đến gặp Tỷ-kheo lại có hai hạng: có lễ kính và không lễ kính. Người có lễ kính là hơn; người không lễ kính là kém.</p>



<p>Người có lễ kính lại có hai hạng: có hỏi kinh và không hỏi kinh. Người có hỏi kinh là hơn, người không hỏi kinh là kém.</p>



<p>Người có hỏi kinh lại có hai hạng: nhất tâm nghe kinh và không nhất tâm nghe kinh. Người nhất tâm nghe kinh là hơn, người không nhất tâm nghe kinh là kém.</p>



<p>Người nhất tâm nghe kinh có hai hạng: nghe rồi thọ trì pháp và nghe rồi không thọ trì pháp. Người nghe rồi thọ trì pháp là hơn, người nghe rồi không thọ trì pháp là kém.</p>



<p>Người nghe rồi thọ trì pháp lại có hai hạng: nghe pháp có quán sát nghĩa và nghe pháp không quán sát nghĩa. Người nghe pháp có quán sát nghĩa là hơn, người nghe pháp không quán sát nghĩa là kém.</p>



<p>Hạng nghe pháp quán sát nghĩa lại có hai: biết pháp, biết nghĩa, hướng đến pháp và tùy pháp, tùy thuận pháp, thực hành đúng như pháp; và hạng không biết pháp, không biết nghĩa, không hướng về pháp và tùy pháp, không tùy thuận pháp và không thực hành đúng như pháp. Người biết pháp, biết nghĩa, hướng về pháp và tùy pháp, tùy thuận pháp, thực hành đúng như pháp là hơn; người không biết pháp, không biết nghĩa, không hướng đến pháp và tùy pháp, không tùy thuận pháp, không thực hành đúng như pháp là thấp kém…”(5).</p>



<p>Bốn chi Dự lưu</p>



<p>Như vậy, để có được niềm tin đúng đắn, không lầm lạc, biết thế nào là thiện &#8211; ác, thật &#8211; giả, chánh &#8211; tà, pháp nên tu, pháp không nên tu…, nhất định chúng ta phải siêng năng tu học Phật pháp một cách đúng đắn với sự hỗ trợ của chư thiện tri thức, các bậc có giới, định, tuệ, giải thoát, giải thoát tri kiến. Như trong Pháp uẩn túc luận nói:</p>



<p>“Sở dĩ được nhập vào chánh tánh ly sanh(6) là do tinh tấn tu pháp tùy pháp hành.(7) Sở dĩ tu pháp tùy pháp hành là do như lý quán sát nghĩa lý thâm diệu. Sở dĩ quán sát nghĩa lý thâm diệu là do cung kính lắng nghe Chánh pháp. Sở dĩ được nghe Chánh pháp là do thân cận cúng dường thiện sỹ. Nếu hay thân cận cúng dường thiện sỹ, liền được nghe Chánh pháp. Nghe Chánh pháp rồi liền có thể như lý quán sát nghĩa lý thâm diệu. Như lý quán sát nghĩa lý thâm diệu rồi liền có thể tinh tấn tu pháp tùy pháp hành. Tu pháp tùy pháp hành rồi liền có thể nhập vào chánh tánh ly sanh”(8).</p>



<p>Năm thiện pháp</p>



<p>Một khi sự tin hiểu đúng đắn đã phát sinh mạnh mẽ, thì các thiện pháp khác như thí, giới, văn, tuệ cũng theo đó ngày càng tăng trưởng, làm cho ba nghiệp thân, ngữ, ý trở nên trong sạch. Người nào tu tập nhiều năm thiện pháp tín, thí, giới, văn, tuệ này, thì ngay hiện tại sống được an lạc, sau khi chết nhất định sinh vào cõi người, thiên giới, cõi tịnh, tùy theo tâm nguyện của mình, như trong kinh Hành sanh Đức Phật dạy:</p>



<p>“…Ở đây, này các Tỷ-kheo, Tỷ-kheo đầy đủ tín, đầy đủ giới, đầy đủ văn (lắng nghe, học hỏi Chánh pháp), đầy đủ thí, đầy đủ trí tuệ. Vị ấy nghĩ như sau: ‘Mong rằng sau khi thân hoại mạng chung, ta sẽ sinh cộng trú trong đại gia tộc Sát-đế-lỵ, hay trong đại gia tộc Bà-la-môn, hay trong đại gia tộc cư sĩ’. Vị ấy chuyên định tâm ấy, an trú tâm ấy, tu tập tâm ấy. Những hành ấy của Tỷ-kheo được an trú, tu tập, làm cho sung mãn như vậy đưa vị ấy thọ sinh tại chỗ ấy. Này các Tỷ-kheo, đây là đạo, đây là lộ trình đưa đến tái sinh tại chỗ ấy.</p>



<p>Lại nữa, này các Tỷ-kheo, Tỷ-kheo đầy đủ tín, đầy đủ giới, đầy đủ văn, đầy đủ thí, đầy đủ trí tuệ. Vị ấy được nghe: ‘Bốn Ðại thiên vương, chư thiên Tavatimsa (Tam thập tam thiên)…, chư thiên Yama (Dạ-ma)…, chư thiên Tusita (Ðâu-suất-đà)…, chư thiên Nimmanarati (Hóa lạc)…, chư thiên Paramimmitavasavatti (Tha hóa tự tại), có thọ mạng lâu dài, có mỹ tướng, có nhiều lạc thọ’. Vị ấy nghĩ: ‘Mong rằng sau khi thân hoại mạng chung, ta được sinh cộng trú với chư thiên ở cõi trời Tứ thiên…’. Vị ấy chuyên định tâm ấy, an trú tâm ấy, tu tập tâm ấy. Những hành ấy của Tỷ-kheo được an trú, tu tập, làm cho sung mãn như vậy, đưa đến tái sinh tại chỗ ấy.</p>



<p>Lại nữa, này các Tỷ-kheo, Tỷ-kheo đầy đủ tín, đầy đủ giới, đầy đủ văn, đầy đủ thí, đầy đủ trí tuệ. Vị ấy được nghe: ‘Ngàn Phạm thiên có thọ mạng lâu dài, có mỹ tướng, có nhiều lạc thọ’… Này các Tỷ-kheo, ngàn Phạm thiên sống thấm nhuần, biến mãn một ngàn thế giới. Và vị ấy sống thấm nhuần, biến mãn các chúng sinh được sinh lên thế giới ấy. Ví như, này các Tỷ-kheo, một người có mắt cầm một trái amanda (a-ma-lặc) trong tay và nhìn trái ấy; cũng vậy, này các Tỷ-kheo, ngàn Phạm thiên sống thấm nhuần, biến mãn một ngàn thế giới. Và vị ấy sống thấm nhuần, biến mãn các chúng sinh được sinh lên thế giới ấy. Vị ấy nghĩ: ‘Mong rằng sau khi thân hoại mạng chung, ta sẽ được sinh cộng trú với ngàn Phạm thiên!’ Vị ấy chuyên định tâm ấy, an trú tâm ấy, tu tập tâm ấy. Những hành ấy của Tỷ-kheo được an trú, tu tập, làm cho sung mãn như vậy, đưa đến tái sinh tại chỗ ấy”(9).</p>



<p>Như vậy, các thiện pháp tín, thí, giới, văn, tuệ là nhân lành cho những ai còn chìm đắm trong biển sinh tử, muốn có được cuộc sống an lành, hạnh phúc trong cõi người, cõi trời ngay đời này và đời sau. Vì hạnh phúc hay khổ đau đều do chính mình tạo ra, chứ chẳng do ai ban phát hay trừng phạt cả. Chúng ta suy nghĩ và hành động như thế nào thì nhận lấy kết quả tương ứng như thế đó.</p>



<p>Tứ bất hoại tín</p>



<p>Năm thiện pháp này không chỉ là nhân lành trong cõi trời, cõi người mà còn là tư lương, hành trang, làm nền tảng cơ bản cho sự giải thoát. Bởi có văn tuệ, học hiểu như thật về Bốn Thánh đế, vị ấy chuyên tâm, hướng tâm tu tập năm thiện căn tín, tấn, niệm, định, tuệ. Mỗi khi tín đi với tuệ phân tích, tư duy như lý, thấy biết như thật về Bốn Thánh đế, nhất định chứng đắc quả Tu-đà-hoàn(10), dự vào dòng Thánh, thành tựu tứ bất hoại tín(11). Vì thấy được Bốn Thánh đế, nên giai đoạn này các kinh, luận gọi là kiến đạo. Một vị Dự lưu như vậy đã vĩnh viễn đoạn sạch ba kiết sử thân kiến(12), hoài nghi, giới cấm thủ; không còn bị đọa vào ba cõi ác địa ngục, bàng sinh, ngạ quỷ. Vì vị này còn phải tái sinh trong cõi dục tối đa bảy lần nữa mới chứng quả A-la-hán nên gọi là Thất lai. Trong những người quy y Tam bảo, ai thấy được Bốn Thánh đế, người đó được Phật khen là quy y tối thượng:</p>



<p>Ai quy y Phật-đà</p>



<p>Chánh pháp và chư Tăng,</p>



<p>Ai dùng chánh tri kiến</p>



<p>Thấy được Bốn Thánh đế.</p>



<p>Thấy khổ và khổ tập</p>



<p>Thấy sự khổ vượt qua,</p>



<p>Thấy đường Thánh tám ngành</p>



<p>Đưa đến khổ não tận.</p>



<p>Thật quy y an ổn</p>



<p>Thật quy y tối thượng,</p>



<p>Có quy y như vậy</p>



<p>Mới thoát mọi khổ đau(13).</p>



<p>Người chứng quả Dự lưu như vậy nhất định hướng về Niết-bàn, xuôi về Niết-bàn, được lợi ích an ổn vô cùng lớn, hơn cả vua Chuyển luân vương, Đế thích. Như kinh Pháp cú nói:</p>



<p>Hơn thống lãnh cõi đất</p>



<p>Hơn được sinh cõi trời,</p>



<p>Hơn chủ trì vũ trụ,</p>



<p>Quả Dự lưu tối thắng(14).</p>



<p>Cực hoan hỷ địa</p>



<p>Với hành giả theo truyền thống Đại thừa (Mahāyāna), do ý thức sâu sắc về chuỗi luân hồi sinh tử khổ, noi theo gương chư Phật, vì lòng đại bi muốn cứu mình và người thoát khỏi nanh vuốt tử sinh, cùng được giải thoát như mình, nên đã phát Bồ-đề tâm, hành Bồ-đề hạnh, cầu chứng được Phật quả, Chánh đẳng Chánh giác (Sammasambuddha). Những hành giả này, nếu khi tu tập hiện quán Thánh đế, thấy được Bốn Thánh đế ngay trong hiện tại, chứng được ngã không pháp không, thì giai đoạn này được gọi là Sơ địa Bồ-tát, hay Cực hoan hỷ địa Bồ-tát. Lúc này hành giả mới thật sự là một Thánh giả Bồ-tát, thuộc vào gia tộc của các Đức Như Lai. Vì vượt qua phàm phu địa, được nhập vào gia tộc của các Đức Như Lai, vị ấy rất hoan hỷ. Cho nên địa này gọi là Cực hoan hỷ địa, hay Hoan hỷ địa. Bồ-tát ở địa này ngang với quả vị Tu-đà-hoàn trong Thanh văn thừa, hoàn toàn dứt sạch ba kết sử, thành tựu tứ bất hoại tín, nhưng công đức của địa này hơn hẳn Thanh văn và Duyên giác. Như kinh Di Lặc giải thoát nói:</p>



<p>“Thiện nam tử! Như vương tử mới vừa sinh ra đầy đủ vương tướng, do oai lực tôn quý của chủng tánh kia nên hơn hẳn tất cả đại thần kỳ cựu. Cũng vậy, Bồ-tát mới khởi nghiệp, phát tâm Bồ-đề tuy chưa lâu, nhưng sinh trong nhà Pháp vương của Như Lai, bằng lực đại bi và tâm Bồ-đề nên vượt thắng tất cả Thanh văn và Độc giác đã tu phạm hạnh lâu dài.</p>



<p>Thiện nam tử! Như con của diệu xí điểu vương, tuy mới sinh chưa lâu nhưng phẩm chất của cặp mắt trong sáng và sức vỗ đôi cánh của nó, tất cả chim lớn khác đều không thể bằng. Cũng vậy, Bồ-tát mới phát tâm Bồ-đề, sinh trong nhà diệu xí điểu vương của Như Lai, với công đức đôi mắt thanh tịnh, ý lạc tăng thượng và sức mạnh cặp cánh phát tâm Nhất thiết trí của vương tử diệu xí điểu này, thì các vị Thanh văn, Độc giác kia tuy tu hạnh xuất ly trải qua trăm ngàn kiếp cũng không thể sánh bằng”.</p>



<p>Sau khi chứng được Sơ địa Bồ-tát, vị ấy tiếp tục tinh cần tu tập mười Ba-la-mật(15). Nhưng trong địa này, tu tập chính yếu là bố thí Ba-la-mật, được dẫn đầu bởi Bát-nhã Ba-la-mật. Vì lòng đại bi, hành giả tinh cần tu tập tất cả thiện pháp với tâm không chấp thủ, trải qua mười địa Bồ-tát(16), cho đến ngày đắc thành Phật quả(17).</p>



<p>Kết luận</p>



<p>Qua các đoạn kinh luận được trích dẫn ở trước, chúng ta thấy rằng Phật dạy người có tín ngưỡng thì vẫn hơn người không có tín ngưỡng. Vì những người không có tín ngưỡng, nhất là người tà kiến, không tin nhân quả, không tin có đời này đời sau, không tin có quả báo lành, dữ… thì không có việc ác nào mà không làm. Vì họ không có chút gì e dè, kiêng sợ với những tâm tư, hành vi ác, bất thiện. Khi thọ quả khổ, họ mới ưu sầu, khóc than, sợ hãi. Nhưng người có tín ngưỡng mà không chịu học hỏi, si mê, vô trí, không phân biệt được pháp nên tu, pháp không nên tu… thì dễ rơi vào cuồng tín, mê tín, tà tín, thường hay bị đám đông u mê lôi kéo, vô tình làm việc hại mình, hại người. Khi quả báo đến thì không thể không sầu than, bi khóc, sợ hãi.</p>



<p>Cho nên tín cần phải đi cùng với tuệ, với sự tư duy phân tích, hiểu biết đúng đắn, phù hợp với chân lý, khi ấy tín sẽ làm cho các thiện pháp khác phát sinh, làm cho tâm lắng trong, thanh tịnh, an lạc, sáng suốt. Tín như vậy được gọi là tịnh tín, chánh tín, tâm trừng, tâm tịnh, bất hoại tín, là nguồn gốc của đạo, là mẹ của các công đức, là nơi nương tựa an ổn tối thượng. Như vậy, nhờ sự học hỏi Phật pháp với các bậc thiện tri thức bên ngoài, chúng ta biết cách tu tập tâm, điều phục tâm mình, chuyển hóa nhận thức và hành vi của mình, trở về nương tựa nơi tự tâm thanh tịnh, Phật tánh, giác tánh thanh tịnh sáng suốt vốn có của mình(18). Như kinh Pháp cú nói:</p>



<p>Tự mình nương tựa mình</p>



<p>Nào có nương tựa khác,</p>



<p>Nhờ khéo tự điều phục</p>



<p>Được y chỉ khó được(19).</p>



<p>Trong xã hội công nghệ hiện đại ngày nay, trước làn sóng thông tin đa chiều, với vô số tin tức, hình ảnh báo chí thật hư lẫn lộn, nhiều kẻ lừa đảo, mượn đạo tạo đời, tự đánh bóng mình bằng các chiêu trò lừa bịp tinh vi, nhắm vào tâm lý ủy mị, nhẹ dạ cả tin của quần chúng thiếu hiểu biết, để trục lợi. Do vậy, là người con Phật, hơn bao giờ hết, dù tại gia hay xuất gia, chúng ta cần phải thân cận, tham học với các bậc thiện tri thức, các bậc có giới &#8211; định &#8211; tuệ, chăm học Phật pháp, ghi nhớ tư duy, phân tích một cách đúng đắn, xem điều đó có phù hợp với chân lý, có làm cho tâm tư ta an bình, tỉnh lặng sáng suốt không, hẳn rồi mới tin để không bị dẫn dắt, lầm đường lạc lối.</p>



<p>Với cuộc sống đầy biến động, vật dục ngày càng cao, càng hấp dẫn lôi cuốn các giác quan, làm cho người xuất gia dễ ngã lòng, đi lệch hướng, đánh mất sơ tâm Bồ-đề cao quý của mình. Do vậy chúng ta cần phải trang bị cho mình thật đầy đủ kiến thức đúng đắn cả pháp học lẫn pháp hành, định hướng rõ ràng con đường tu giác ngộ giải thoát, luôn lấy giới luật làm thầy, hỷ túc với tứ vật dụng, vui thích học pháp và hành pháp, làm cho tâm Bồ-đề ngày càng tăng trưởng, không bị xói mòn, tiêu mất.</p>



<p>Theo luật Tứ phần, một người xuất gia nếu chưa thấy pháp (kiến đế) thì chưa phải là người thừa hưởng gia tài của cha mẹ (Như Lai) để lại, mà chỉ là người đang vay mượn của đàn-na tín thí để ăn, nhất định phải trả nợ cơm, áo… Nếu phạm giới, hoặc sống tà mạng, giả trang thiền tướng, cầu người cung kính, lừa đảo tín thí để ăn, ắt phải đọa vào ba đường ác. Để tránh rơi vào đường ác, sống theo tà mạng, hèn hạ, thấp kém, làm mất niềm tin của tín đồ, nhất định chúng ta phải tinh cần tu học, thực hành từ tâm, siêng năng tu tập chỉ quán, thường xuyên tư duy về sự hạ liệt, sự nguy hiểm của năm dục trần, hướng tâm đến cái vui an tịnh, tĩnh lặng, sự lợi ích to lớn do ly dục sinh. Một khi tâm an tịnh, tĩnh lặng, trí tuệ sáng suốt, ắt sẽ thấy biết các pháp một cách như thật. Do thấy pháp một cách như thật, tâm sẽ ly tham, từ bỏ, không chấp thủ, được an bình, giải thoát, tự tại ngay trong thế gian này. Có như vậy chúng ta mới đem lại sự an ổn chân thật cho mình và người, làm cho người chưa có niềm tin Tam bảo liền phát sinh lòng tin Tam bảo, người đã có tín tâm thì được tăng trưởng. Như vậy sự xuất gia của chúng ta mới không uổng phí, không hổ danh là bậc xuất trần thượng sĩ, tiếp nối dòng Thánh, báo Phật ân đức, làm ngọn hải đăng cho thế gian này. Như kinh Pháp cú nói:</p>



<p>Tỳ-kheo tuy tuổi trẻ</p>



<p>Siêng tu giáo pháp Phật</p>



<p>Soi sáng thế gian này</p>



<p>Như trăng thoát mây che(20).</p>



<hr class="wp-block-separator has-alpha-channel-opacity"/>



<p>(1)Kinh Pháp cú, phẩm Phật-đà, câu 188. HT.Minh Châu dịch.</p>



<p>(2)善說法律 thiện thuyết pháp luật. 善說. Pāli. svākkhāto: thuyết một cách thiện xảo. Visuddhimagga: pháp được Phật thuyết khoảng đầu thiện xảo, khoảng giữa thiện xảo, khoảng cuối thiện xảo (ādimajjhapariyosānakalyāṇattā: sơ thiện, trung thiện, hậu thiện), có mục đích, có âm vận, soi sáng phạm hạnh thuần nhất, hoàn hảo, thanh tịnh (sāttha-sabyañjana-kevala-paripuṇṇa-parisuddha-brahmacariya-ppakāsanattā). Du-già sư địa luận (tr.788b11): Ở trong pháp luật thiện thuyết, tất cả chúng khổ được lìa xa, tất cả phiền não kết phược được đoạn tận. Ngược lại, trong pháp luật ác thuyết, không có hai điều này.</p>



<p>(3)T26n1537, tr.458c01.</p>



<p>(4)Tăng chi bộ, chương Ba pháp, 65. Hòa thượng Thích Minh Châu dịch.</p>



<p>(5)Kinh Thiện pháp, Trung A-hàm I, Hòa thượng Thích Tuệ Sỹ dịch.</p>



<p>(6)入正性離生, Skt. samyaktvaniyāmāvakramaṇa: nhập chánh tánh quyết định, trong ba tụ: chánh định tụ, quyết định (niyāma) đạt đến Niết-bàn; tà định tụ, quyết định không thể đạt Niết-bàn; bất định tụ, tùy cơ duyên. Sau bốn thiện căn trong thuận quyết trạch phần: noãn, đảnh, nhẫn, thế đệ nhất, ngay một sát-na vô gián, vị ấy từ địa vị phàm phu bước vào địa vị Thánh giả, được gọi là nhập chánh tánh lý sanh, hay chánh tánh quyết định. Câu-xá (Việt dịch 2016) tập IV, tr.365-366, phẩm vi Hiền thánh, tụng 26a, cht. 409, Huyền Trang diễn giải: “Hoặc từ chánh tín (samyak) chỉ các Thánh đạo. Sinh (yāma), chỉ các phiền não. Hoặc căn chưa thuần thục, bằng Thánh đạo mà vượt qua, nên gọi là ly sinh (niyāma). Khả năng quyết định đi đến Niết-bàn, hoặc quyết định thông hiểu hành tướng của Thánh đế, do đó các Thánh đạo được gọi là quyết định (avakramaṇa/avakrānti). Sự đạt đến trong phần vị này gọi là nhập”. (Theo chú thích Pháp uẩn túc luận, bản Việt của Hòa thượng Tuệ Sỹ).</p>



<p>(7)法隨法行. Pāli: Dhammānudhammapaṭipanna: pháp là Niết-bàn, tùy pháp là Thánh đạo tám chi, thực hành Thánh đạo tám chi hướng đến Niết-bàn, gọi là pháp tùy pháp hành.</p>



<p>(8)T26n1537; tr.459c21.</p>



<p>(9)Kinh Hành sanh, Trung bộ III, Hòa thượng Thích Minh Châu dịch.</p>



<p>(10)Skt. Srotāpattiphala; Pāli. Sotāpattiphala. 須陀洹果 Tu-đà-hoàn quả, 預流果 Dự lưu quả, 入流 Nhập lưu.</p>



<p>(11)Skt. Avetyaprasāda, Tứ bất hoại tín, còn gọi là bốn chứng tịnh: Chứng tịnh nơi Phật, chứng tịnh nơi Pháp, chứng tịnh nơi Tăng, chứng tịnh nơi Thánh giới. Thế Thân định nghĩa: “Chứng tịnh (avetya-prasāda) có nghĩa là gì? Sau khi chứng giác (avabuddhya) các Thánh đế như thật, vị ấy khởi tịnh tín (prasāda), nói là chứng tịnh”. Huyền Trang giải thích: “Tín nơi Tam bảo và diệu thi-la, đều gọi là tịnh. Vì đã gột sạch cáu bẩn của bất tín và cáu bẩn của phá giới, do chứng đắc tịnh mà lập danh “chứng tịnh”. (Theo Câu-xá bản Việt dịch 2016, tập IV, tr.498, phẩm vi Hiền thánh, cht.1074).</p>



<p>(12)Pāli. Sakkāya-ditthi:Cho rằng, thân năm uẩn này là của ta, là ta, là tự ngã của ta.</p>



<p>(13)Kinh Pháp cú, phẩm Phật-đà, câu 190, 191, 192. Hòa thượng Thích Minh Châu dịch.</p>



<p>(14)Kinh Pháp cú, phẩm Thế gian, câu 178. Hòa thượng Thích Minh Châu dịch.</p>



<p>(15)Ba-la-mật-đa (Skt. Pāramitā, Pl. Pāramī, 波羅蜜多, Ti. Pha rol tu phyin pa ཕ་རོལ་ཏུ་ཕྱིན་པ་): là phiên âm thuật ngữ tiếng Phạn pāramitā, gọi tắt là Ba-la-mật; nghĩa là: đến bờ kia (đáo bỉ ngạn 到彼岸), sự toàn hảo, sự cứu cánh, (事究竟). Mười Ba-la-mật-đa (dasa-pāramitā) gồm: 1. Bố thí Ba-la-mật-đa (布施波羅蜜多, Skt. dāna-pāramitā): Sự toàn hảo trong việc hiến tặng, xả ly; 2. Giới Ba-la-mật-đa (戒波羅蜜多, Skt. śīla-pāramitā): sự toàn hảo trong việc chấp trì giới luật; 3. Nhẫn Ba-la-mật-đa (忍波羅蜜多, Skt. kṣānti-pāramitā): sự toàn hảo trong việc kham nhẫn, chấp nhận; 4. Tinh tấn Ba-la-mật-đa (精進波羅蜜多, Skt. vīrya-pāramitā): sự toàn hảo trong việc nổ lực đoạn ác, tu thiện; 5. Thiền định Ba-la-mật-đa (禪波羅蜜多, Skt. dhyāna-pāramitā): sự toàn hảo trong lĩnh vực thiền định; 6. Trí huệ Ba-la-mật-đa (慧波羅蜜多, Skt. prajñā-pāramitā): sự toàn hảo trong lĩnh vực trí tuệ; 7. Phương tiện Ba-la-mật-đa (方便波羅蜜多, Skt. upāya-pāramitā): Sự toàn hảo trong lúc dùng các phương tiện (giáo hoá); 8. Nguyện Ba-la-mật-đa (願波羅蜜多, Skt. praṇidhāna-pāramitā): lòng quyết tâm, ý nguyện thực hiện toàn hảo; 9. Lực Ba-la-mật-đa (力波羅蜜多, Skt. bala-pāramitā): sự toàn hảo của năng lực; 10. Trí Ba-la-mật-đa (智波羅蜜, Skt. jñāna-pāramitā): sự toàn hảo của trí lực. Đây là mười Ba-la-mật theo Phạn văn; ngoài ra, còn có mười Ba-la-mật theo bản Pāli cũng gần tương đồng.</p>



<p>(16)Mười địa (dasa-bhūmi): 1. Cực hoan hỷ địa (極歡喜地, Skt. pramuditā-bhūmi), 2. Ly cấu địa (離垢地, Skt. vimalā bhūmi), 3. Phát quang địa (發光地, Skt. prabhākārī bhūmi), 4. Diệm huệ địa (燄慧地, Skt. arciṣmatī bhūmi), 5. Cực nan thắng địa (極難勝地, Skt. sudurjayā bhūmi), 6. Hiện tiền địa (現前地, Skt. abhimukhī bhūmi), 7. Viễn hành địa (遠行地, Skt. dūraṅgamā bhūmi), 8. Bất động địa (不動地, Skt. acalā bhūmi), 9. Thiện huệ địa (善慧地, Skt. sādhumatī bhūmi), 10. Pháp vân địa (法雲地, Skt. dharmameghā bhūmi).</p>



<p>(17)Nhập Trung luận tự thích của ngài Nguyệt Xứng (Chandrakīrti) và phẩm Thập địa, kinh Hoa nghiêm.</p>



<p>(18)Kinh Tăng chi, chương Một pháp, phẩm Búng ngón tay: “Tâm này, này các Tỷ-kheo, là sáng chói. Và tâm này bị ô nhiễm bởi các cấu uế từ ngoài vào. Kẻ phàm phu ít nghe, không như thật rõ biết tâm ấy. Do vậy, Ta nói rằng tâm kẻ phàm phu ít nghe, không được tu tập”. (HT.Thích Minh Châu dịch). Accharāsaṅghātavaggo: “Pabhassaramidaṃ, bhikkhave, cittaṃ. Tañca kho āgantukehi upakkilesehi upakkiliṭṭhaṃ. Taṃ assutavā puthujjano yathābhūtaṃ nappajānāti. Tasmā ‘assutavato puthujjanassa cittabhāvanā natthī’ti vadāmī’’ti. Paṭhamaṃ”.</p>



<p>(19)Kinh Pháp cú, phẩm Tự ngã, câu 160. Hòa thượng Thích Minh Châu dịch.</p>



<p>(20)Kinh Pháp cú, phẩm Tỳ-kheo, câu 382.</p>



<p>(NSGN 350)</p>



<p>Nguyên An/Nguyệt san Giác Ngộ</p>
]]></content:encoded>
					
		
		
			</item>
		<item>
		<title>Xá-lợi Đức Phật: Từ lòng đất đến hàng triệu con tim</title>
		<link>https://phatgiaovinhphuc.vn/2025/05/19/xa-loi-duc-phat-tu-long-dat-den-hang-trieu-con-tim/</link>
		
		<dc:creator><![CDATA[trast1]]></dc:creator>
		<pubDate>Mon, 19 May 2025 07:13:24 +0000</pubDate>
				<category><![CDATA[Lịch sử]]></category>
		<category><![CDATA[Tự viện]]></category>
		<category><![CDATA[Văn hóa]]></category>
		<guid isPermaLink="false">https://phatgiaovinhphuc.vn/?p=3587</guid>

					<description><![CDATA[GNO &#8211; Khi một mảnh xá-lợi được an trí nơi phòng trưng bày, đó không đơn thuần là việc đặt một di vật vào lồng kính, mà đã mở ra một không gian cho tâm hồn người đối diện được lắng xuống và chạm vào điều thiêng liêng vượt ngoài ngôn từ. Việc chiêm bái [...]]]></description>
										<content:encoded><![CDATA[


<p>GNO &#8211; Khi một mảnh xá-lợi được an trí nơi phòng trưng bày, đó không đơn thuần là việc đặt một di vật vào lồng kính, mà đã mở ra một không gian cho tâm hồn người đối diện được lắng xuống và chạm vào điều thiêng liêng vượt ngoài ngôn từ.<br><br>Việc chiêm bái xá-lợi, vì thế, không phải là cúi đầu trước một di vật quá khứ, mà là cúi đầu trước phần cao quý nhất trong chính mình, nơi mà khả tính giác ngộ vẫn còn nguyên ở đó, và chờ được đánh thức.</p>



<p>Trong số 22 mảnh xá-lợi được nhà khảo cổ học K.M. Srivastava và đội khai quật của Cục Khảo cổ Ấn Độ phát hiện tại bảo tháp Piprāhwā, Uttar Pradesh, hai mảnh hiện được lưu giữ tại Bảo tàng Ấn Độ ở Kolkata, và 20 mảnh còn lại được gìn giữ cẩn thận tại Bảo tàng Quốc gia Delhi.</p>



<p>Thuở xưa, Đức Phật để lại xá-lợi vì lòng từ bi vô lượng của Ngài đối với chúng sanh. Vì thương chúng sanh nên Ngài đã thị hiện ở đời và mang lấy tấm thân ngũ uẩn như hòn sắt nóng, và vì thương chúng sanh (nhất là những chúng sinh sau khi Phật nhập diệt) mà Ngài để lại một phần thân thể, vốn là “sự kết tinh kỳ diệu của sự chứng ngộ tâm linh, của sự phát triển tột cùng của hạnh từ bi và trí tuệ”. Đức Phật dạy A Nan rằng: “Trà-tỳ xong lượm lấy xá-lợi, dựng tháp treo phan thờ tại ngã tư đường để dân chúng đi ngang trông thấy tháp của Phật mà tưởng nhớ lại đạo hóa của Pháp vương Như Lai, sống thì được phước lợi, chết thì sanh thiên” (Kinh Du hành, Trường A-hàm).</p>



<figure class="wp-block-image size-large"><img fetchpriority="high" decoding="async" width="536" height="800" src="https://phatgiaovinhphuc.vn/wp-content/uploads/2025/05/cut-2-1917-6063-536x800.png" alt="" class="wp-image-3588" srcset="https://phatgiaovinhphuc.vn/wp-content/uploads/2025/05/cut-2-1917-6063-536x800.png 536w, https://phatgiaovinhphuc.vn/wp-content/uploads/2025/05/cut-2-1917-6063-268x400.png 268w, https://phatgiaovinhphuc.vn/wp-content/uploads/2025/05/cut-2-1917-6063.png 645w" sizes="(max-width: 536px) 100vw, 536px" /></figure>



<p class="has-text-align-center"><br><em>Xá-lợi được tôn trí tại Bảo tàng Quốc gia Delhi</em></p>



<p>Nương theo lời dạy ấy của Đức Phật, nên sau khi quy ngưỡng Phật giáo, vua Aśoka đã mở cửa 8 bảo tháp xá-lợi ban đầu, và phân chia xá-lợi thành 84.000 phần để phụng thờ rộng rãi khắp tiểu lục địa Ấn Độ, với niềm tin rằng ai chiêm bái với lòng tin chân thật đều được lợi lạc. Cho đến ngày nay, tinh thần đó vẫn tiếp tục, nhưng trong hình thức hiện đại hơn thông qua các cuộc triển lãm xá-lợi được tổ chức tại các bảo tàng, trung tâm văn hóa, chùa viện cổ kính… Không chỉ tu sĩ, mà bất cứ ai, từ bác sĩ, kỹ sư đến nghệ sĩ, từ người hữu tín đến người vô thần, đều có thể bước vào không gian thiêng ấy và cảm nhận điều gì đó rất sâu lắng.</p>



<p>Tại Kolkata, kể từ năm 1994, sau khi được Mông Cổ thỉnh đến thủ đô Ulaanbaatar tôn trí để đại chúng chiêm bái, thì hai mảnh xá-lợi của Đức Phật đã được thỉnh về an trí tại Bảo tàng Ấn Độ ở Kolkata. Những người quản lý ở đây đã quyết định xây dựng một phòng trưng bày dành riêng cho xá-lợi của Đức Phật cũng như những di vật Phật giáo được khai quật và các tác phẩm liên quan đến cuộc đời của Ngài. Tuy vậy, phải đến năm 2018, Bảo tàng Ấn Độ tại Kolkata mới mở cửa cho công chúng tham quan và chiêm bái hai mảnh xá-lợi này.</p>



<p>Tầm quan trọng của xá-lợi được nâng lên một cấp độ cao hơn vào năm 2015, khi Chính phủ Ấn Độ chính thức xếp các di vật này vào loại “AA”, đây là cấp độ cao nhất dành cho cổ vật và báu vật nghệ thuật quốc gia. Điều này đồng nghĩa rằng xá-lợi không còn được phép mang ra khỏi đất nước để triển lãm, vì lý do bảo tồn và tính chất vô cùng dễ vỡ của chúng. Việc xếp hạng này cho thấy Ấn Độ không chỉ nhìn xá-lợi như Thánh tích tôn giáo, mà còn như một phần cốt lõi của di sản văn hóa và tâm linh quốc gia, tượng trưng cho sự gắn kết giữa Phật giáo và bản sắc Ấn Độ cổ đại.</p>



<p>20 mảnh xá-lợi còn lại được lưu giữ tại Bảo tàng Quốc gia Delhi trong một khung tháp vàng được cúng dường bởi Hoàng gia Thái Lan vào năm 1997. Ở đây, xá-lợi của Đức Phật được đặt trong một phòng riêng biệt và có cả không gian để những người thăm viếng có thể đảnh lễ, hành thiền, nhiễu tháp và cầu nguyện đối với di vật quý giá này. Xá-lợi được tôn trí tại đây đã khiến Bảo tàng Quốc gia Delhi trở thành điểm chiêm bái quan trọng của các đoàn hành hương từ khắp nơi trên thế giới, không kém gì Tứ Thánh tích của Phật giáo.</p>



<p>Tại những nơi trưng bày xá-lợi, người ta dễ bắt gặp những hình ảnh lặng thầm nhưng thấm đẫm tâm linh: một vị sư già lặng lẽ chắp tay, giọt nước mắt nhẹ rơi trên má nhăn nheo; một cư sĩ trung niên quỳ xuống thật lâu, như muốn dâng cả tâm mình trong từng khoảnh khắc lễ lạy; hay một thanh thiếu niên mặc áo tràng nâu, ánh mắt rực sáng khi chiêm ngưỡng viên xá-lợi trong lồng kính. Không ai được răn dạy hay thúc ép, nhưng giữa giây phút tĩnh lặng ấy, mỗi người đều cảm nhận một điều gì đó sâu xa, như một phút diện kiến Như Lai từ nghìn năm trước và như một tiếng gọi thầm từ bên trong, nhắc họ trở về với phần thanh tịnh, thuần khiết và cao quý nhất trong tâm mình.</p>



<p>Là một trong những bảo vật quốc gia quý giá bậc nhất của Ấn Độ, xá-lợi Đức Phật được bảo quản nghiêm ngặt và rất hiếm khi được phép đưa ra khỏi đất nước. Tính chất mong manh sau hơn hai thiên niên kỷ nằm dưới lòng đất, cùng giá trị tâm linh và biểu tượng đặc biệt, khiến việc cấp phép cho xá-lợi “xuất ngoại” trở thành một sự kiện hiếm hoi &#8211; chỉ diễn ra trong những dịp mang ý nghĩa tôn giáo, văn hóa và ngoại giao sâu sắc.</p>



<figure class="wp-block-image size-full"><img decoding="async" width="645" height="430" src="https://phatgiaovinhphuc.vn/wp-content/uploads/2025/05/cut-4-9186-6316.png" alt="" class="wp-image-3589" srcset="https://phatgiaovinhphuc.vn/wp-content/uploads/2025/05/cut-4-9186-6316.png 645w, https://phatgiaovinhphuc.vn/wp-content/uploads/2025/05/cut-4-9186-6316-600x400.png 600w" sizes="(max-width: 645px) 100vw, 645px" /></figure>



<p class="has-text-align-center"><em><br>Xá-lợi Đức Phật được cung thỉnh đến Bangkok, Thái Lan vào tháng 2-2024</em></p>



<p>Gần đây nhất là lần cung rước xá-lợi đến Thái Lan vào tháng 2-2024 trong một sự kiện mang tầm vóc lịch sử không chỉ với cộng đồng Phật tử, mà với cả những ai quan tâm đến di sản tinh thần của nhân loại. Được chuyên chở bằng loại máy bay đặc biệt của Không quân Ấn Độ (IAF), 4 trong số 20 mảnh xá-lợi của Đức Phật tại Bảo tàng Quốc gia Delhi đã được Thủ tướng Thái Lan và các thành viên của Hội đồng Bộ trưởng cung đón và tiếp nhận một cách đầy trang trọng. Trong 25 ngày tại Thái Lan, xá-lợi của Đức Phật đã được tôn trí tại nhiều nơi ở các thành phố lớn như Bangkok, Chiang Mai,… để người dân của xứ sở chùa vàng được chiêm bái và cầu nguyện. Sự kiện trọng đại này đã thu hút hàng triệu người từ khắp nơi của Thái Lan cũng như các nước lân cận đến tham dự và đảnh lễ xá-lợi.</p>



<p>Từ nửa sau thế kỷ XX, Chính phủ Ấn Độ cũng đã cho phép tổ chức các cuộc cung rước xá-lợi tại những quốc gia có truyền thống Phật giáo lâu đời như một hình thức giao lưu văn hóa và kết nối tâm linh với các cộng đồng Phật tử ở nhiều nước khác nhau. Hành trình này không chỉ nhằm tôn vinh mối liên hệ sâu xa giữa Ấn Độ và các nền văn hóa Phật giáo trong khu vực, mà còn lan tỏa những giá trị cốt lõi như từ bi, tỉnh thức và hòa bình của Phật giáo.</p>



<p>Với sự hộ tống nghiêm mật và nghi lễ long trọng, xá-lợi đã được cung thỉnh đến Śrī Laṇkā (1976, 2012), Mông Cổ (1993, 2022), Singapore (1994, 2007), Hàn Quốc (1995) và Thái Lan (1995, 2024). Mỗi cuộc cung rước xá-lợi không chỉ là hoạt động tôn giáo, mà là một sự kiện văn hóa lớn, quy tụ nguyên thủ quốc gia, các học giả, giới trí thức và hàng vạn người dân thành kính.</p>



<p>Điểm đặc biệt của các lần cung rước xá-lợi gần đây đó là việc không giới hạn trong phạm vi tôn giáo hay nghi lễ truyền thống. Chúng được tổ chức tại nhiều không gian mở như bảo tàng, trung tâm văn hóa, quảng trường, hay thậm chí là trường học để tạo điều kiện cho nhiều người có cơ hội chiêm bái. Không giống như những pháp hội chỉ dành cho các Phật tử tu học, việc chiêm bái xá-lợi mở ra cho tất cả mọi người. Người đến có thể là một vị tu sĩ với hàng chục năm hành trì, hay một thanh niên lần đầu biết đến Phật giáo. Có người đã thành công trong đời sống thế tục, nhưng cũng có người vừa trải qua biến cố đời sống và tìm đến không gian này như một chốn nương tựa tinh thần. Điều đặc biệt là, rất nhiều người không phải Phật tử &#8211; những du khách, nhà nghiên cứu, hay người dân địa phương &#8211; khi đến chiêm bái xá-lợi cũng cảm nhận được một điều gì đó vượt khỏi ngôn từ. Không ít người mô tả cảm giác ấy là “bình an”, “rung động nhẹ trong lồng ngực”, hoặc đơn giản là một khoảnh khắc “muốn đứng im và không nói gì cả”.</p>



<p>Chính điều này làm nên tính phổ quát và phi tôn giáo của xá-lợi: không cần danh xưng “tín đồ”, cũng không cần hiểu rõ giáo lý, người ta vẫn có thể đồng cảm được với năng lượng của lòng từ, của an lạc và buông xả. Xá-lợi trở thành biểu tượng nhân loại cho hòa bình nội tâm, cho sự thức tỉnh tinh thần không phân biệt chủng tộc, tôn giáo hay hệ tư tưởng.</p>



<p>Xá-lợi không chỉ là một di vật cổ mà là sự hiện diện sống động của Đức Phật. Trong từng mảnh xá-lợi là sự kết tinh của đời sống thanh tịnh, đại bi và trí tuệ viên mãn, là năng lực tỏa ra từ một tâm hoàn toàn thanh tịnh. Người chiêm bái, dù chỉ trong giây lát, cũng có thể khởi phát lòng tin, cảm hứng tu tập và sự tỉnh thức. Hơn thế nữa, xá-lợi là minh chứng hùng hồn cho một chân lý thẳm sâu: giác ngộ không phải là đặc ân của một vị thần linh siêu việt, mà là thành tựu có thật nơi một con người từng sống giữa trần thế. Đó là thân xác hữu hạn đã vượt qua vô lượng thử thách của phiền não và khổ đau, để trở thành biểu hiện rực rỡ của sự thanh tịnh, giải thoát và từ bi tuyệt đối.</p>



<p>Khi chiêm bái xá-lợi, ta không chỉ đối diện với một di tích tâm linh, mà đang đối diện với chính tiềm năng giác ngộ nơi mình, một điều đã từng hiện hữu nơi Đức Phật, và cũng đang âm thầm chờ được đánh thức bên trong mỗi người. Trong ánh hào quang trầm lặng của một mảnh xá-lợi nhỏ bé, có thể bừng lên niềm tin vững chắc rằng: Con đường giác ngộ không nằm ở đâu xa, mà khởi đi từ thân này, tâm này và ngay trong đời sống hôm nay.</p>



<p>Thiện Quang/Báo Giác Ngộ</p>
]]></content:encoded>
					
		
		
			</item>
	</channel>
</rss>
