<?xml version="1.0" encoding="UTF-8"?><rss version="2.0"
	xmlns:content="http://purl.org/rss/1.0/modules/content/"
	xmlns:wfw="http://wellformedweb.org/CommentAPI/"
	xmlns:dc="http://purl.org/dc/elements/1.1/"
	xmlns:atom="http://www.w3.org/2005/Atom"
	xmlns:sy="http://purl.org/rss/1.0/modules/syndication/"
	xmlns:slash="http://purl.org/rss/1.0/modules/slash/"
	>

<channel>
	<title>Luận tạng</title>
	<atom:link href="https://phatgiaovinhphuc.vn/category/luan-tang/feed/" rel="self" type="application/rss+xml" />
	<link>https://phatgiaovinhphuc.vn</link>
	<description></description>
	<lastBuildDate>Fri, 08 Nov 2024 02:11:00 +0000</lastBuildDate>
	<language>vi</language>
	<sy:updatePeriod>
	hourly	</sy:updatePeriod>
	<sy:updateFrequency>
	1	</sy:updateFrequency>
	<generator>https://wordpress.org/?v=6.8.2</generator>

<image>
	<url>https://phatgiaovinhphuc.vn/wp-content/uploads/2024/10/cropped-Logo-Giao-hoi-Phat-Giao-VN-1-1-32x32.jpg</url>
	<title>Luận tạng</title>
	<link>https://phatgiaovinhphuc.vn</link>
	<width>32</width>
	<height>32</height>
</image> 
	<item>
		<title>HỎI ĐÁP PHẬT PHÁP</title>
		<link>https://phatgiaovinhphuc.vn/2024/11/08/hoi-dap-phat-phap/</link>
		
		<dc:creator><![CDATA[trast1]]></dc:creator>
		<pubDate>Fri, 08 Nov 2024 02:11:00 +0000</pubDate>
				<category><![CDATA[Luận tạng]]></category>
		<guid isPermaLink="false">https://phatgiaovinhphuc.vn/?p=2498</guid>

					<description><![CDATA[HỎI ĐÁP&#160;PHẬT PHÁPTâm Diệu&#160;biên soạn Hỏi:&#160;Đạo Phật&#160;là gì? Danh từ&#160;Đạo Phật&#160;&#8220;Buddhism&#8221; là một danh từ của người phương Tây dùng để gọi một&#160;tôn giáo&#160;xây dựng&#160;trên nền tảng các lời dạy của&#160;Đức Phật.&#160;Tuy nhiên, tại các&#160;quốc gia&#160;Nam Á và Đông Nam Á, danh từ&#160;thường dùng&#160;là &#8220;Buddha-Sasana&#8221;, có nghĩa là lời dạy của&#160;Đức Phật,&#160;Phật pháp&#160;hay&#160;Phật Giáo. Từ [...]]]></description>
										<content:encoded><![CDATA[


<p><strong>HỎI ĐÁP&nbsp;PHẬT PHÁP</strong><br>Tâm Diệu&nbsp;biên soạn<br><br><br></p>



<p><strong><em>Hỏi:&nbsp;Đạo Phật&nbsp;là gì?</em></strong></p>



<p>Danh từ&nbsp;Đạo Phật&nbsp;&#8220;Buddhism&#8221; là một danh từ của người phương Tây dùng để gọi một&nbsp;tôn giáo&nbsp;xây dựng&nbsp;trên nền tảng các lời dạy của&nbsp;Đức Phật.&nbsp;Tuy nhiên, tại các&nbsp;quốc gia&nbsp;Nam Á và Đông Nam Á, danh từ&nbsp;thường dùng&nbsp;là &#8220;Buddha-Sasana&#8221;, có nghĩa là lời dạy của&nbsp;Đức Phật,&nbsp;Phật pháp&nbsp;hay&nbsp;Phật Giáo.</p>



<p>Từ Buddha được phiên âm ra tiếng Việt là Bụt hay Phật, không phải là tên riêng. Đó là một&nbsp;quả vị, có nghĩa là người&nbsp;Giác ngộ, người&nbsp;Tỉnh thức, hoặc là người Biết&nbsp;như thật, là người đã&nbsp;hoàn toàn&nbsp;giải thoát, không còn bị&nbsp;sinh tử luân hồi. Tên riêng của&nbsp;Đức Phật&nbsp;là Sĩ-Đạt-Đa Cồ-Đàm (Siddhattha&nbsp;<a href="https://thuvienhoasen.org/p22a9122/1/chuong-1-hoi-dap-phat-phap">Gotama</a>).&nbsp;Tuy nhiên, ngày nay có rất ít người dùng tên gọi nầy.&nbsp;Chúng ta&nbsp;thường gọi Ngài là&nbsp;Đức Phật.</p>



<p>Phật giáo&nbsp;bắt nguồn từ&nbsp;Ấn Độ&nbsp;vào hơn hai ngàn năm trăm năm trước, khi Ngài Sĩ-Đạt-Đa Cồ-Đàm, hay&nbsp;Đức Phật, tự mình&nbsp;giác ngộ&nbsp;vào lúc 35 tuổi. Sau khi Ngài&nbsp;Niết Bàn&nbsp;gần hai trăm năm mươi năm thì&nbsp;Phật giáo&nbsp;trở thành&nbsp;tôn giáo&nbsp;mang tính&nbsp;thế giới, do công của&nbsp;vua A Dục&nbsp;đã lập những đoàn&nbsp;truyền giáo&nbsp;mang&nbsp;giáo lý&nbsp;Phật truyền sang Á Châu và một số&nbsp;quốc gia&nbsp;Châu Âu.</p>



<p><strong><em>Hỏi:&nbsp;Đạo Phật&nbsp;có phải là một&nbsp;Tôn giáo&nbsp;không?</em></strong></p>



<p>Đối với nhiều người,&nbsp;Phật Giáo&nbsp;không phải chỉ là một&nbsp;tôn giáo&nbsp;mà còn có thể&nbsp;xem như&nbsp;là một&nbsp;triết học, hay đúng hơn là &#8220;một lối sống&#8221;. Gọi&nbsp;Phật Giáo&nbsp;là một&nbsp;triết học, vì danh từ &#8220;triết học – philosophy &#8221; &#8211; bắt nguồn từ hai chữ &#8220;philo&#8221; nghĩa là &#8220;tình thương&#8221; và &#8220;Sophia&#8221; nghĩa là &#8220;trí tuệ&#8221;. Do vậy &#8211;&nbsp;triết học, nói gọn là&nbsp;tình thương&nbsp;và trí tuê. Với&nbsp;ý nghĩa&nbsp;nầy, không&nbsp;thể không&nbsp;cho rằng&nbsp;Phật Giáo&nbsp;là một&nbsp;triết học&nbsp;được vì&nbsp;Phật Giáo&nbsp;là&nbsp;đạo từ&nbsp;bi và&nbsp;trí tuệ.&nbsp;Tuy nhiên,&nbsp;Phật giáo&nbsp;không thể&nbsp;hoàn toàn&nbsp;được&nbsp;xem như&nbsp;một&nbsp;triết học.&nbsp;Triết học&nbsp;liên quan&nbsp;chính yếu&nbsp;đến sự&nbsp;tìm hiểu&nbsp;biết và không chú trọng đến phần&nbsp;thực hành, trong khi đó&nbsp;Phật Giáo&nbsp;đặc biệt&nbsp;quan tâm&nbsp;đến sự&nbsp;thực hành&nbsp;và&nbsp;chứng ngộ. Có nhiều người cho rằng&nbsp;Phật giáo&nbsp;siêu việt&nbsp;trên cả&nbsp;triết học&nbsp;và&nbsp;tôn giáo.</p>



<p><strong><em>Hỏi: Nếu nói&nbsp;Đạo Phật&nbsp;là một&nbsp;tôn giáo, vậy&nbsp;Đạo Phật&nbsp;có gì khác biệt với các&nbsp;tôn giáo&nbsp;khác không?</em></strong></p>



<p>Học giả&nbsp;Smith Huston, trong cuốn The Religions of Man trình bày những&nbsp;tôn giáo&nbsp;lớn của&nbsp;nhân loại, ông nêu ra sáu điểm&nbsp;đặc biệt&nbsp;khác đời của&nbsp;Phật Giáo&nbsp;là: (1) một&nbsp;tôn giáo&nbsp;không&nbsp;quyền lực, (2) một&nbsp;tôn giáo&nbsp;không&nbsp;nghi lễ, (3) một&nbsp;tôn giáo&nbsp;không tính&nbsp;toán, suy lường, (4) một&nbsp;tôn giáo&nbsp;không tập&nbsp;tục truyền&nbsp;thống, (5) một&nbsp;tôn giáo&nbsp;không có khái niệm về quyền&nbsp;tối thượng&nbsp;và ân điển của một đấng Thượng-đế, (6) một&nbsp;tôn giáo&nbsp;không&nbsp;thần bí.</p>



<p>Ông cũng nhắc lại câu truyện một người hỏi Phật: “Ngài có phải là&nbsp;Thượng Đế&nbsp;không?”.&nbsp;Đức Phật&nbsp;trả lời: “Không”. “Là một bậc Thánh?”. “Không”. Là một Thiên Thần?. “Không”. “Vậy Ngài là người thế nào?”.&nbsp;Đức Phật&nbsp;đáp: “Ta là người đã giác ngộ”. Câu&nbsp;trả lời&nbsp;của&nbsp;đức Phật&nbsp;đã&nbsp;trở thành&nbsp;danh hiệu&nbsp;của Ngài, bởi đây là điều&nbsp;đức Phật&nbsp;đã thuyết bày.</p>



<p><strong><em>Hỏi:&nbsp;Đức Phật&nbsp;là người&nbsp;Giác ngộ.&nbsp;Đạo Phật&nbsp;là đạo&nbsp;Giác Ngộ. Vậy&nbsp;Đức Phật&nbsp;giác ngộ&nbsp;cái gì?</em></strong></p>



<p>Sau bốn mươi chín ngày&nbsp;thiền định&nbsp;dưới cội&nbsp;bồ đề,&nbsp;Đức Phật&nbsp;đã tự&nbsp;thân chứng&nbsp;nghiệm nguyên lý&nbsp;duyên khởi, thấu rõ mối quan hệ&nbsp;hỗ tương&nbsp;của mọi sự vật&nbsp;hiện tượng, thấy rõ&nbsp;bản thể&nbsp;của&nbsp;nhân sinh&nbsp;vũ trụ. Nguyên lý&nbsp;duyên khởi&nbsp;nói rằng, tất cả&nbsp;hiện hữu&nbsp;trong&nbsp;thế giới&nbsp;bao la&nbsp;mênh mông&nbsp;này, không một&nbsp;hiện hữu&nbsp;nào có thể&nbsp;tồn tại&nbsp;một cách&nbsp;độc lập&nbsp;mà không nương tựa vào nhau. Sự nương tựa và&nbsp;tùy thuộc&nbsp;nhau để hình thành và&nbsp;tồn tại..vv.. là nguyên lý&nbsp;vận hành&nbsp;của&nbsp;vũ trụ&nbsp;nhân sinh&nbsp;này,&nbsp;tương tự&nbsp;như thế đối với&nbsp;hằng hà sa&nbsp;thế giới. [01]



<p><strong><em>Hỏi:&nbsp;Con người&nbsp;bình thường&nbsp;có thể&nbsp;giác ngộ&nbsp;như Ngài được không?</em></strong></p>



<p>Đối với&nbsp;Phật Giáo,&nbsp;con người&nbsp;có thể&nbsp;giải thoát&nbsp;khỏi khổ đau,&nbsp;sinh tử luân hồi&nbsp;bằng các&nbsp;nỗ lực&nbsp;tu tập&nbsp;tự thân: làm lành, tránh ác và tự&nbsp;thanh tịnh&nbsp;hoá tâm ý. Bốn&nbsp;chân lý&nbsp;nền tảng của&nbsp;Phật giáo&nbsp;cho rằng mọi khổ đau (Khổ đế) của&nbsp;chúng sinh&nbsp;đều có một hay nhiều&nbsp;nguyên nhân&nbsp;(Tập đế) gây nên, chúng có thể bị&nbsp;giải trừ&nbsp;(Diệt đế) và có&nbsp;con đường&nbsp;để&nbsp;giải trừ&nbsp;khổ đau đó (Đạo đế).&nbsp;Con đường&nbsp;đó chính là&nbsp;con đường&nbsp;giải thoát, là&nbsp;Bát Chánh Đạo&nbsp;trong&nbsp;giáo lý căn bản&nbsp;của nhà Phật.&nbsp;Giáo lý&nbsp;này được qui thành ba bộ môn: Giới, Định và Tuệ.&nbsp;Thực hành&nbsp;Giới và Định là&nbsp;đưa tới&nbsp;trí Tuệ, là&nbsp;giải thoát&nbsp;khỏi sự&nbsp;mê muội, lòng&nbsp;ích kỷ&nbsp;và khổ đau, là đạt tới&nbsp;cảnh giới Niết Bàn.</p>



<p><strong><em>Hỏi: Vậy&nbsp;Niết bàn&nbsp;là gì?</em></strong></p>



<p>Niết bàn&nbsp;được xem là&nbsp;mục đích&nbsp;cứu cánh&nbsp;của&nbsp;đạo Phật, chỉ&nbsp;trạng thái&nbsp;tâm thức&nbsp;đã thanh lọc hết mọi&nbsp;vô minh&nbsp;phiền não, sự giải thóat khỏi tất cả mọi khổ đau, sự đọan diệt hòan tòan mọi&nbsp;tham ái, sự&nbsp;dập tắt&nbsp;tham sân si.&nbsp;Trạng thái&nbsp;an tịnh&nbsp;tuyệt đối&nbsp;không còn bị bốn tướng sanh lão&nbsp;bệnh tử&nbsp;chi phối&nbsp;nữa. Sự tận diệt tánh tham, sự tận diệt tánh sân và sự tận diệt tánh si là&nbsp;Niết Bàn. [02]



<p><strong><em>Hỏi:&nbsp;Niết bàn&nbsp;ở đâu?</em></strong></p>



<p>Niết Bàn&nbsp;có thể&nbsp;chứng nghiệm&nbsp;được ngay trong xác thân này, trong&nbsp;thế giới&nbsp;này, trong cuộc sống&nbsp;hiện tại&nbsp;này, nghĩa là bất cứ trong giây phút nào&nbsp;con người&nbsp;không&nbsp;khởi tâm&nbsp;điên đảo,&nbsp;phân biệt&nbsp;chấp trước&nbsp;đối với cuộc sống,&nbsp;xa lìa&nbsp;được&nbsp;chấp ngã, không còn chấp cái tôi, cái của tôi và cắt đứt được cội nguồn tâm ý&nbsp;tham lam,&nbsp;sân hận&nbsp;và&nbsp;si mê&nbsp;là&nbsp;tâm hồn&nbsp;được&nbsp;thanh thản,&nbsp;tự do,&nbsp;tự tại, thì ngay giây phút đó là&nbsp;an lạc,&nbsp;giải thoát, là&nbsp;Niết bàn.</p>



<p><strong><em>Hỏi:&nbsp;Đức Phật&nbsp;đã dạy những gì?</em></strong></p>



<p>Sau sáu năm&nbsp;khổ hạnh&nbsp;và bốn mươi chín ngày&nbsp;tịnh tọa&nbsp;dưới gốc cây&nbsp;bồ đề, Ngài bừng tỉnh,&nbsp;trở thành&nbsp;bậc&nbsp;Giác Ngộ. Từ sự&nbsp;giác ngộ&nbsp;này, Ngài thấu suốt&nbsp;nguyên nhân&nbsp;mọi nỗi&nbsp;thống khổ&nbsp;của&nbsp;kiếp người&nbsp;và&nbsp;phương pháp&nbsp;để&nbsp;chấm dứt&nbsp;nỗi&nbsp;thống khổ&nbsp;đó, đó là&nbsp;Tứ Diệu Đế, tức là bốn&nbsp;chân lý&nbsp;hay bốn&nbsp;sự thật&nbsp;nhiệm mầu. Bài giảng về bốn&nbsp;chân lý&nbsp;nhiệm mầu có thể&nbsp;xem như&nbsp;là những lời dạy của một vị y sĩ: định bệnh (Khổ đế), xác định&nbsp;nguyên nhân&nbsp;của bệnh (Tập đế),&nbsp;mô tả&nbsp;trạng thái&nbsp;khi lành bệnh (Diệt đế), và cách thức trị bệnh (Đạo đế). Bốn&nbsp;chân lý&nbsp;đó là:</p>



<p><strong><em>Sự Thật&nbsp;Về Khổ</em></strong>: Đây là&nbsp;sự thật&nbsp;về khổ kinh qua các&nbsp;vấn đề&nbsp;của&nbsp;đời sống, qua sinh, già, bệnh, chết,&nbsp;mong ước&nbsp;mà không được&nbsp;toại nguyện,&nbsp;thương yêu&nbsp;nhau mà phải chia lìa nhau, ghét nhau mà cứ phải&nbsp;gặp nhau&nbsp;và&nbsp;thân tâm&nbsp;thay đổi bất thường. Dù&nbsp;chúng ta&nbsp;có chối bỏ đến đâu đi nữa, thân này rồi một ngày sẽ&nbsp;già nua,&nbsp;bệnh hoạn&nbsp;và chết đi. Dù ta có tìm&nbsp;quên lãng&nbsp;trong những thú vui bao nhiêu đi chăng nữa, thì sự có mặt của&nbsp;tham luyến, giận hờn, thù ghét,&nbsp;lo âu,&nbsp;bối rối&nbsp;và&nbsp;căng thẳng&nbsp;vẫn còn&nbsp;tồn tại.</p>



<p><strong><em>Sự Thật&nbsp;Về Tập</em></strong>: Còn gọi là&nbsp;nguyên nhân&nbsp;của khổ.Cái gì đã&nbsp;trói buộc&nbsp;chúng ta&nbsp;vào vòng bánh xe khổ lụy?&nbsp;Đức Phật&nbsp;thấy rằng sự&nbsp;trói buộc&nbsp;ấy nằm ngay trong tâm của mỗi người&nbsp;chúng ta,&nbsp;chúng ta&nbsp;bị&nbsp;trói buộc&nbsp;vì lòng&nbsp;ái dục,&nbsp;cố chấp&nbsp;vào&nbsp;quan điểm&nbsp;và&nbsp;ý kiến&nbsp;của mình,&nbsp;mê tín&nbsp;tin rằng những&nbsp;lễ nghi,&nbsp;hình thức&nbsp;bên ngoài có khả năng diệt được khổ đau, và nhất là&nbsp;cố chấp&nbsp;vào một cái tôi&nbsp;thường hằng,&nbsp;bất biến.&nbsp;Chúng ta&nbsp;lăn theo bánh xe khổ đau vì ta đeo theo nó, và&nbsp;chúng ta&nbsp;đeo theo nó cũng chỉ vì&nbsp;vô minh&nbsp;của mình.</p>



<p><strong><em>Sự Thật&nbsp;Về Dứt Khổ</em></strong>:&nbsp;Sự thật&nbsp;thứ ba là kết quả sau khi&nbsp;con người&nbsp;đã&nbsp;diệt trừ&nbsp;và&nbsp;chấm dứt&nbsp;được&nbsp;ái dục, nguồn gốc của mọi khổ đau. Đó gọi là&nbsp;sự thật&nbsp;về sự&nbsp;chấm dứt&nbsp;khổ, là&nbsp;Niết Bàn. Nếu ai&nbsp;giải thoát&nbsp;được mọi&nbsp;trói buộc&nbsp;đau khổ&nbsp;bằng cách không&nbsp;khởi tâm&nbsp;điên đảo,&nbsp;phân biệt&nbsp;chấp trước&nbsp;đối với cuộc sống, thì người đó sẽ&nbsp;đạt được&nbsp;Niết Bàn&nbsp;ngay trong cuộc sống này.</p>



<p><strong><em>Sự Thật&nbsp;Về&nbsp;Con Đường&nbsp;Dứt Khổ</em></strong>:&nbsp;Sự thật&nbsp;thứ tư này là&nbsp;con đường&nbsp;trực tiếp đưa đến&nbsp;sự giải thoát,&nbsp;chấm dứt&nbsp;khổ đau.&nbsp;Con đường&nbsp;này thường được&nbsp;diễn tả&nbsp;là&nbsp;Bát chính đạo, tức tám&nbsp;con đường&nbsp;chân chính&nbsp;hay còn gọi là tám bước nhiệm mầu dẫn đến&nbsp;an lạc hạnh&nbsp;phúc. Đây không phải là&nbsp;con đường&nbsp;quá khích,&nbsp;sung sướng&nbsp;hay&nbsp;khổ hạnh, cũng không phải là&nbsp;con đường&nbsp;của sự&nbsp;chìm đắm&nbsp;trong&nbsp;sắc dục. Đây chính là&nbsp;con đường trung đạo. Còn đường của sự&nbsp;tỉnh thức. Tám bước nhiệm mầu là lời&nbsp;Đức Phật&nbsp;dạy về cách thức&nbsp;tu tập&nbsp;để&nbsp;Phật tử&nbsp;nương theo mà&nbsp;hành trì, ngõ hầu&nbsp;kết thúc&nbsp;được mọi nỗi&nbsp;thống khổ,&nbsp;đạt được&nbsp;trạng thái&nbsp;tâm&nbsp;an lạc. Gom chung tám bước này thành ba bộ môn&nbsp;tu tập, gọi là&nbsp;Tam Học, tức là&nbsp;ba môn học&nbsp;chung cho&nbsp;mọi người&nbsp;tu Phật&nbsp;là:&nbsp;Giới học,&nbsp;gồm có:&nbsp;Chính ngữ,&nbsp;Chính nghiệp&nbsp;và&nbsp;Chính mệnh.&nbsp;Định học,&nbsp;gồm có: Chính&nbsp;tinh tấn,&nbsp;Chính niệm&nbsp;và&nbsp;Chính định.&nbsp;Tuệ học,&nbsp;gồm có:&nbsp;Chính kiến&nbsp;và&nbsp;Chính tư duy.</p>



<p>Nói&nbsp;tóm lại,&nbsp;Sự thật&nbsp;về khổ phải được&nbsp;ý thức&nbsp;rõ ràng.&nbsp;Sự thật&nbsp;về&nbsp;nguyên nhân&nbsp;của khổ phải được thấu hiểu.&nbsp;Chân lý&nbsp;về sự&nbsp;chấm dứt&nbsp;khổ phải được&nbsp;kinh nghiệm. Và&nbsp;con đường&nbsp;để&nbsp;chấm dứt&nbsp;khổ đau ấy phải được bước đi bởi mỗi người trong&nbsp;chúng ta.&nbsp;Đức Phật&nbsp;đã&nbsp;giác ngộ&nbsp;giải thoát&nbsp;và Ngài đã vẽ lại&nbsp;con đường&nbsp;đó để&nbsp;chúng ta&nbsp;đi theo. Ngài không giúp&nbsp;chúng ta&nbsp;hết khổ đau được, Ngài chỉ cho&nbsp;chúng ta&nbsp;thấy một&nbsp;con đường&nbsp;để đi tới. Không có một&nbsp;công thức&nbsp;huyền bí nào có thể đem&nbsp;ta ra&nbsp;khỏi những khổ đau này. Mỗi người&nbsp;chúng ta&nbsp;phải tự thanh lọc tâm mình, bởi vì chỉ có những&nbsp;ái dục&nbsp;trong tâm mới có khả năng&nbsp;trói buộc&nbsp;được ta mà thôi.&nbsp;Trong suốt&nbsp;49 năm&nbsp;hoằng pháp&nbsp;Đức Phật&nbsp;đã giảng dạy rất nhiều đề tài, nhưng các điều&nbsp;căn bản&nbsp;trong&nbsp;Phật Giáo&nbsp;có thể&nbsp;tóm tắt&nbsp;trong&nbsp;Tứ Diệu Đế&nbsp;và&nbsp;Bát Chánh Đạo&nbsp;như trên.</p>



<p><strong><em>Hỏi: Xin tóm lược&nbsp;con đường tu tập&nbsp;của một người&nbsp;Phật tử.</em></strong></p>



<p>Giáo lý&nbsp;của nhà Phật có thể tóm gọn trong ba&nbsp;mục tiêu&nbsp;tu hành&nbsp;như sau:</p>



<p>Thứ nhất là&nbsp;chấm dứt&nbsp;làm các việc xấu, ác.<br>Thứ hai là siêng năng làm các&nbsp;việc lành, thiện.<br>Thứ ba là&nbsp;nỗ lực&nbsp;thực hành&nbsp;các&nbsp;pháp môn&nbsp;tu tập&nbsp;để cho&nbsp;tâm thức&nbsp;được đạt tới&nbsp;cảnh giới&nbsp;thanh tịnh&nbsp;tịch tĩnh.</p>



<p>Chấm dứt&nbsp;làm các việc xấu ác và siêng làm các việc&nbsp;tốt lành&nbsp;là&nbsp;mục tiêu&nbsp;của các&nbsp;tôn giáo&nbsp;và luôn cả các nền&nbsp;giáo dục&nbsp;của các&nbsp;quốc gia&nbsp;trên trên giới. Duy có sự&nbsp;phân biệt&nbsp;thế nào là xấu ác và thế nào là&nbsp;tốt lành&nbsp;thì các&nbsp;tôn giáo&nbsp;và các&nbsp;quốc gia&nbsp;trên&nbsp;thế giới&nbsp;lại có một số&nbsp;ý kiến&nbsp;khác nhau,&nbsp;tùy theo&nbsp;các nền&nbsp;văn hóa&nbsp;khác nhau, có những điều mà ở thời buổi này,&nbsp;tôn giáo&nbsp;này,&nbsp;xã hội&nbsp;này cho là điều lành thì ở thời buổi khác,&nbsp;tôn giáo&nbsp;khác và&nbsp;xã hội&nbsp;khác lại cho là điều xấu ác. Cho nên định nghĩa tốt xấu trong&nbsp;thế gian&nbsp;cũng chỉ là&nbsp;tương đối.</p>



<p>Theo&nbsp;quan điểm&nbsp;của nhà Phật thì nội dung của&nbsp;Năm Giới&nbsp;cấm đã&nbsp;phân biệt&nbsp;rõ ràng&nbsp;thế nào là&nbsp;tốt lành&nbsp;và xấu ác.&nbsp;Giữ gìn&nbsp;không&nbsp;vi phạm, sống một&nbsp;cuộc đời&nbsp;chân thật, không&nbsp;sát sinh, không&nbsp;trộm cắp, không&nbsp;tà dâm, không bị&nbsp;mê muội&nbsp;vì các chất men say và cần sa,&nbsp;ma túy, không&nbsp;điêu ngoa&nbsp;dối trá, nói lời&nbsp;thêu dệt, nói&nbsp;lời thô tục, chửi mắng người khác, v.v… là đã tránh được&nbsp;vấn đề&nbsp;làm điều xấu ác.</p>



<p>Trong&nbsp;bản kinh&nbsp;ngắn khi&nbsp;đức Phật&nbsp;dạy các hoàng tử Kalama, Ngài đã định nghĩa&nbsp;rõ ràng&nbsp;về những điều gì là điều lành (thiện) và những điều gì là điều không lành (bất thiện), như sau:</p>



<p>&#8220;<em>Hành động gì có hại cho mình, có hại cho người, có hại cho cả hai, bị người trí&nbsp;chỉ trích, nếu&nbsp;chấp nhận&nbsp;và&nbsp;thực hiện&nbsp;sẽ đem lại&nbsp;tâm khổ&nbsp;sở, tâm&nbsp;ưu phiền, hành động như vậy là hành động&nbsp;bất thiện, và&nbsp;chúng ta&nbsp;phải&nbsp;loại bỏ&nbsp;hành động ấy.</em></p>



<p><em>Hành động gì không có hại cho mình, không có hại cho người, không có hại cho cả hai, được người trí&nbsp;tán thán, nếu&nbsp;chấp nhận&nbsp;và&nbsp;thực hiện&nbsp;sẽ đem lại tâm&nbsp;an lạc, tâm&nbsp;hoan hỷ. Hành động như vậy là hành động thiện và&nbsp;chúng ta&nbsp;phải thực hành&#8221;</em>. [03]



<p>Như thế, đối với&nbsp;đạo Phật, có thể nói,&nbsp;tiêu chuẩn&nbsp;để xác định lành thiện hay xấu ác&nbsp;căn cứ vào&nbsp;hai&nbsp;yếu tố&nbsp;là&nbsp;hạnh phúc&nbsp;và khổ đau. Hành động đem lại&nbsp;hạnh phúc&nbsp;cho&nbsp;chúng sinh&nbsp;là lành thiện và hành động gây khổ đau cho&nbsp;chúng sinh&nbsp;là xấu ác.&nbsp;Việc làm&nbsp;nào có&nbsp;lợi ích&nbsp;cho mình và cho người là lành thiện.&nbsp;Trái lại, nếu chỉ đem lại&nbsp;hạnh phúc&nbsp;cho&nbsp;cá nhân&nbsp;mình mà gây khổ đau cho&nbsp;chúng sinh&nbsp;khác là xấu ác.</p>



<p>Tu là chuyển nghiệp, chuyển từ những hành động xấu ác tạo ra nghiệp xấu sang qua hành động lành thiện tạo ra&nbsp;nghiệp lành. Giai đoạn&nbsp;tu hành&nbsp;này có&nbsp;mục tiêu&nbsp;đào tạo&nbsp;nên những&nbsp;con người&nbsp;tốt lành&nbsp;để cùng sống chung với&nbsp;mọi người&nbsp;trong&nbsp;gia đình,&nbsp;xã hội, ngõ hầu cùng nhau&nbsp;xây dựng&nbsp;nếp sống&nbsp;lành mạnh&nbsp;trong&nbsp;một thế&nbsp;giới an vui, hòa bình, ổn định của&nbsp;đời sống&nbsp;tương đối&nbsp;tại thế&nbsp;gian.</p>



<p>Con đường tu tập&nbsp;của&nbsp;đạo Phật&nbsp;không dừng lại ở đây. Điều cốt tủy mà&nbsp;đức Phật&nbsp;muốn trao truyền lại cho&nbsp;chúng ta&nbsp;nằm ở giai đoạn thứ ba, giai đoạn &#8220;<strong><em>Tự tịnh kỳ ý&nbsp;</em></strong>&#8220;, tự mình thanh lọc tâm ý cho nó&nbsp;hoàn toàn&nbsp;tịch tịnh,&nbsp;trong sáng, vượt lên&nbsp;phạm trù&nbsp;đối đãi&nbsp;thiện ác, có không,.. vượt ra khỏi vòng&nbsp;luân hồi&nbsp;quanh co&nbsp;trong sáu nẻo nơi&nbsp;tam giới.</p>



<p>Trong&nbsp;kinh Pháp Cú,&nbsp;đức Phật&nbsp;dạy&nbsp;chúng ta&nbsp;phải vượt lên&nbsp;phạm trù&nbsp;đối đãi&nbsp;thiện ác&nbsp;như:</p>



<p>&#8220;<em>Người sống ở đời này</em><br><em>Không nhiễm cả&nbsp;thiện ác</em><br><em>Không sầu, sạch không bụi</em><br><em>Ta gọi [là]&nbsp;Bà La Môn.&#8221;</em><br><em>Ai&nbsp;vượt qua&nbsp;thiện ác</em><br><em>Chuyên sống đời&nbsp;Phạm Hạnh</em><br><em>Sống thẩm sát ở đời</em><br><em>Mới xứng danh&nbsp;Tỳ Kheo</em>&#8220;. [04]



<p><strong><em>Hỏi: Tại sao phải vượt lên trên cả Thiện và Ác?</em></strong></p>



<p>Tại vì&nbsp;hành động thiện tạo ra&nbsp;thiện nghiệp, hành động ác tạo ra&nbsp;ác nghiệp, cả hai đều gây nhân&nbsp;tái sinh&nbsp;để hưởng&nbsp;phước báo&nbsp;tốt hoặc chịu&nbsp;quả báo&nbsp;xấu, cũng như sợi dây xích dù có bằng vàng thì cũng&nbsp;trói buộc&nbsp;chúng ta&nbsp;mà thôi. Còn có hành động, dù là hành động ác hay hành động thiện, thì&nbsp;vọng tâm&nbsp;còn bay nhẩy, dòng&nbsp;suy nghĩ&nbsp;còn&nbsp;miên man&nbsp;không dừng, vòng&nbsp;luân hồi&nbsp;còn&nbsp;tùy theo&nbsp;nghiệp&nbsp;thiện ác&nbsp;mà trôi lăn&nbsp;miên viễn.</p>



<p><strong><em>Hỏi: Cái gì là cốt tuỷ của đạo Phật?</em></strong></p>



<p>Trong một bài&nbsp;giảng pháp,&nbsp;Tỳ kheo&nbsp;Buddhadasa đã nói: “Để nói cái gì là cốt tủy của&nbsp;Phật Pháp, tôi muốn đưa ra câu nói ngắn, “<strong><em>Đừng để dính mắc vào bất cứ gì cả.” (&#8220;</em></strong><em>Nothing whatsoever should be clung to”)</em>.&nbsp;Có một đoạn trong&nbsp;Trung Bộ Kinh, khi một người tới tìm&nbsp;Đức Phật&nbsp;và hỏi ngài là ngài có thể tóm gọn&nbsp;giáo pháp&nbsp;của ngài vào một câu, và&nbsp;nếu có thể, thì đó là câu gì.&nbsp;Đức Phật&nbsp;trả lời&nbsp;rằng ngài có thể, “<strong><em>Sabba dhamma nalam abhinivesaya</em></strong>.” Các từ “Sabbe dhamm” có nghĩa là “mọi thứ,&nbsp;mọi vật, mọi pháp,” còn &#8220;nalam&#8221; nghĩa là “không nên để,” và &#8220;abhinivesaya&#8221; nghĩa là “bị dính mắc vào.” Đừng để dính mắc vào bất cứ gì cả. Rồi Phật&nbsp;nhấn mạnh&nbsp;điểm này bằng cách nói rằng bất kỳ ai đã nghe câu này là đã nghe tòan bộ&nbsp;Phật Pháp, bất kỳ ai lấy câu này mà&nbsp;tu tập&nbsp;thì đã&nbsp;tu tập&nbsp;tất cả&nbsp;Phật Pháp, và bất kỳ ai đã nhận được quả của pháp&nbsp;tu tập&nbsp;điểm này thì đã nhận được tòan bộ quả của Phật Pháp”. [05]



<p><strong><em>Hỏi: Vậy,&nbsp;tu tập&nbsp;như thế nào để đừng để dính mắc vào bất cứ gì cả</em></strong></p>



<p>Bởi vì dính mắc vào bất cứ gì đều là sự&nbsp;trói buộc&nbsp;và đem lại&nbsp;đau khổ.&nbsp;Đức Phật&nbsp;là người chẳng hề dính mắc vào bất cứ gì. Ngài chỉ dạy sự&nbsp;thực hành&nbsp;<strong><em>buông xả</em></strong>.&nbsp;Tăng đoàn&nbsp;của Ngài từ&nbsp;thời xưa&nbsp;cho đến&nbsp;thời nay đều&nbsp;thực hành&nbsp;sự chẳng để dính mắc. Để&nbsp;thực hành&nbsp;điều này, Ngài chỉ dạy như sau:</p>



<p>&#8220;<em>Khi mắt thấy một vật, chỉ thấy vật ấy. Khi tai nghe một tiếng, chỉ nghe tiếng ấy. Khi mũi ngủi một mùi, chỉ ngửi mùi ấy. Khi lưỡi nếm món gì, chỉ nếm món đó. Khi có&nbsp;cảm xúc&nbsp;trên da hay trên thân, chỉ biết đến&nbsp;cảm xúc&nbsp;ấy. Và khi một&nbsp;ý nghĩ, một đối tượng&nbsp;tâm linh, khởi lên trong tâm, như một&nbsp;tư tưởng&nbsp;xấu chẳng hạn, chỉ biết&nbsp;tư tưởng&nbsp;ấy</em>.&#8221;</p>



<p>Điều này có nghĩa là&nbsp;không nên để cho&nbsp;tư tưởng phân biệt&nbsp;xấu, tốt,&nbsp;ưa thích&nbsp;hay ghét bỏ&nbsp;sanh khởi.&nbsp;Ưa thích&nbsp;cái gì có nghĩa là&nbsp;ham muốn&nbsp;cái ấy, không&nbsp;ưa thích&nbsp;cái gì có nghĩa là ghét bỏ cái ấy.&nbsp;Ham muốn&nbsp;hay ghét bỏ đều là&nbsp;ô nhiễm&nbsp;phát sinh từ tham, sân và si. Không để các&nbsp;ô nhiễm&nbsp;này trong tâm dấy lên, tức là không dính mắc. Không khai sinh thêm “người thương” hay “kẻ ghét” đấy là không dính mắc.&nbsp;Thực hành&nbsp;được điều này sẽ mang lại&nbsp;an lạc&nbsp;và&nbsp;hạnh phúc.</p>



<p>Đây là một&nbsp;pháp hành&nbsp;rất gọn và&nbsp;thẳng tắp, được cho là&nbsp;tuyệt hảo.&nbsp;Nếu còn dính mắc, ngay cả vào điều lành, ngay cả vào&nbsp;ý niệm&nbsp;“đừng dính mắc” này là trong tâm sẽ dấy lên&nbsp;tư tưởng&nbsp;nhiễm ô&nbsp;và tâm liền trở nên&nbsp;bất tịnh. Dính mắc vào bất cứ gì là mang&nbsp;gánh nặng&nbsp;trên mình. Dù gánh bên vai hay đội trên đầu một bao&nbsp;vàng bạc&nbsp;kim cương&nbsp;đá quý cũng nặng&nbsp;y như&nbsp;đang vác một bao cát đá.&nbsp;Vậy thì, theo&nbsp;lời Phật dạy, đừng mang cát đá, cũng đừng mang&nbsp;vàng bạc. Hãy buông chúng xuống.&nbsp;Đừng để bất cứ vật gì dù nặng hay nhẹ trên đầu&nbsp;(đầu, ở đây, có nghĩa là&nbsp;tâm thức).&nbsp;Hãy&nbsp;vô sở trụ.&nbsp;Thanh lọc tâm ý cũng chính là nghĩa đó.&nbsp;Thứ nhứt tránh việc ác, thứ hai siêng làm lành, còn thứ ba là thanh lọc tâm ý, đó là lời dạy của chư Phật.</p>



<p><strong><em>Hỏi: Làm sao để&nbsp;trở thành&nbsp;một Phật tử?</em></strong></p>



<p>Trong kinh Tăng Chi,&nbsp;đức Phật&nbsp;dạy: &#8220;<em>Ai nguyện nương tựa Phật, Pháp, Tăng, thì người ấy được gọi là&nbsp;Phật tử</em>&#8220;. Nguyên văn&nbsp;lời nguyện&nbsp;thành một&nbsp;Phật tử&nbsp;là:</p>



<p>Buddham saranam gacchàmi, (Con nay&nbsp;đi theo&nbsp;Phật)<br>Dhammam saranam gacchàmi, (Con nay&nbsp;đi theo&nbsp;Pháp)<br>Sangham saranam gacchàmi, (Con nay&nbsp;đi theo&nbsp;Tăng)<br>(Saranam = sự&nbsp;che chở, chổ ẩn trú, ngôi nhà ở,&nbsp;nơi nương tựa)</p>



<p><strong><em>Đi theo&nbsp;Phật</em></strong>&nbsp;là&nbsp;đi theo&nbsp;con đường&nbsp;mà Phật đã đi qua và đã giảng dạy lại cho đời. Ngài đã&nbsp;chứng kiến&nbsp;nổi khổ của sinh, già, bịnh, chết và đã&nbsp;từ bỏ&nbsp;đời sống&nbsp;thế tục&nbsp;để&nbsp;tu tập&nbsp;và&nbsp;chứng ngộ&nbsp;sự thật&nbsp;của duyên khởi-vô ngã.</p>



<p><strong><em>Đi theo&nbsp;Pháp</em></strong>&nbsp;hay&nbsp;thực hành Pháp&nbsp;là&nbsp;thực hành&nbsp;Bốn&nbsp;Chân Lý&nbsp;Nhiệm Mầu tức&nbsp;Tứ diệu đế,&nbsp;thực hành&nbsp;Giới, Định, Tuệ, là đi ra khỏi&nbsp;dục vọng&nbsp;hay&nbsp;đi vào&nbsp;sự&nbsp;ly dục&nbsp;để&nbsp;thoát khỏi&nbsp;khổ đau.</p>



<p><strong><em>Đi theo&nbsp;Tăng</em></strong>&nbsp;là đoàn thể sống theo&nbsp;tinh thần&nbsp;lục hòa&nbsp;(thân hòa đồng trú,&nbsp;khẩu hòa&nbsp;vô tránh, ý hòa đồng duyệt, lợi hòa đồng quân, giới hòa đồng tu và kiến hòa đồng giải) và&nbsp;đang&nbsp;tích cực&nbsp;thực hành Pháp&nbsp;ly dục.</p>



<p><strong><em>Hỏi: Đó là lời dạy của&nbsp;Đức Phật&nbsp;nhưng tôi muốn&nbsp;chính thức&nbsp;là một&nbsp;Phật tử, một&nbsp;Phật tử&nbsp;đúng nghĩa, thì tôi phải làm những việc gì?</em></strong></p>



<p>Vì&nbsp;đạo Phật&nbsp;chủ yếu là tự nguyện&nbsp;chuyển tâm&nbsp;nên không có sự áp đặt và lôi kéo. Người từ đạo khác chuyển qua&nbsp;đạo Phật&nbsp;thường là do&nbsp;nghiên cứu&nbsp;kinh sách&nbsp;Phật giáo, hiểu được cái&nbsp;tinh hoa&nbsp;thâm thúy&nbsp;của&nbsp;đạo Phật&nbsp;mà&nbsp;quay về&nbsp;đường Giác.</p>



<p>Người&nbsp;Phật tử&nbsp;đúng nghĩa là người có&nbsp;tham dự&nbsp;một lễ truyền thọ&nbsp;Tam Quy&nbsp;là&nbsp;Quy y Phật,&nbsp;Quy Y Pháp&nbsp;và&nbsp;Quy Y Tăng, gọi là&nbsp;Quy Y Tam Bảo.&nbsp;Quy y&nbsp;nghĩa là&nbsp;trở về&nbsp;và nương tựa, nhưng&nbsp;chúng ta&nbsp;trở về&nbsp;đâu và nương tựa cái gì?&nbsp;Chúng ta&nbsp;trở về&nbsp;với&nbsp;Phật giáo&nbsp;và nương tựa vào&nbsp;Tam Bảo, Phật, Pháp, và Tăng. Sau lễ&nbsp;quy y, người&nbsp;Phật tử&nbsp;được thầy truyền thọ&nbsp;Tam Quy&nbsp;đặt cho một&nbsp;pháp danh&nbsp;(Dharma name).&nbsp;Pháp danh&nbsp;này là&nbsp;biểu tượng&nbsp;chính thức&nbsp;của người&nbsp;Phật tử, nói lên sự&nbsp;chấp nhận&nbsp;nương tựa vào&nbsp;Tam Bảo&nbsp;về mặt&nbsp;tinh thần.</p>



<p>Quy y&nbsp;như thế có nghĩa là&nbsp;hoan hỷ&nbsp;chấp nhận&nbsp;sự hướng dẫn của&nbsp;Phật Bảo,&nbsp;Pháp Bảo&nbsp;và&nbsp;Tăng Bảo.&nbsp;Phật Bảo&nbsp;là chư Phật,&nbsp;Pháp Bảo&nbsp;là&nbsp;giáo pháp,&nbsp;cụ thể&nbsp;là&nbsp;Tam Tạng Kinh Điển,&nbsp;Tăng Bảo&nbsp;là&nbsp;Tăng đoàn, đoàn thể của những người đã ly gia cắt ái, đang&nbsp;tu hành&nbsp;thanh tịnh,&nbsp;đại diện&nbsp;Chư Hiền&nbsp;Thánh Tăng&nbsp;cả ba thời để hướng dẫn&nbsp;Phật tử&nbsp;trên&nbsp;con đường&nbsp;đến bờ Giác.&nbsp;Khi&nbsp;quy y Tam Bảo&nbsp;là&nbsp;chúng ta&nbsp;quy y&nbsp;Chư Phật,&nbsp;Chư Pháp&nbsp;và&nbsp;Chư Tăng. Thật ra,&nbsp;Đức Phật&nbsp;không nói&nbsp;chúng ta&nbsp;quy y&nbsp;là phải&nbsp;quy y&nbsp;với Phật, mà Ngài dạy&nbsp;chúng ta&nbsp;quy y&nbsp;là&nbsp;quy y&nbsp;với&nbsp;tự tính&nbsp;giác của mình. Giác là&nbsp;Phật Bảo, Phật có nghĩa là&nbsp;giác ngộ,&nbsp;quy y Phật&nbsp;là&nbsp;quy y&nbsp;với bậc&nbsp;giác ngộ. Như thế&nbsp;quy y Tam Bảo&nbsp;chính là&nbsp;Quy Y&nbsp;Tự Tính Tam Bảo&nbsp;[06], tức là&nbsp;quay về&nbsp;tự tính&nbsp;giác ngộ&nbsp;sẵn có của chính mình: Phật tức là Giác, Pháp tức là Chính, Tăng tức là Tịnh.</p>



<p>“<em>Tự tâm&nbsp;quy y&nbsp;Giác thì tà mê chẳng sanh,&nbsp;thiểu dục tri túc, hay lià&nbsp;tài sắc, gọi là&nbsp;Lưỡng Túc Tôn.</em><br><em>“Tự tâm&nbsp;quy y&nbsp;Chính,&nbsp;niệm niệm&nbsp;chẳng&nbsp;tà kiến, vì chẳng&nbsp;tà kiến&nbsp;nên chẳng có&nbsp;nhân ngã,&nbsp;cống cao,&nbsp;tham ái,&nbsp;chấp trước, gọi là&nbsp;Ly Dục&nbsp;Tôn.</em><br><em>“Tự tâm&nbsp;quy y&nbsp;Tịnh,&nbsp;tự tính&nbsp;đối với tất cả&nbsp;cảnh giới&nbsp;trần lao&nbsp;ái dục&nbsp;đều chẳng&nbsp;nhiễm trước, gọi là Chúng&nbsp;Trung Tôn</em>…”[07]



<p><strong><em>Quy y Phật&nbsp;Bảo</em></strong>&nbsp;là quay lưng với&nbsp;trạng thái&nbsp;tâm&nbsp;vô minh&nbsp;và nương tựa vào&nbsp;tâm giác&nbsp;ngộ.&nbsp;<strong><em>Quy y Pháp&nbsp;Bảo</em></strong>&nbsp;là quay lưng với&nbsp;trạng thái&nbsp;tâm&nbsp;tà kiến&nbsp;và nương tựa vào chính tri&nbsp;chính kiến, có nghĩa là nương tựa vào&nbsp;giáo nghĩa&nbsp;trong&nbsp;kinh điển&nbsp;để tự&nbsp;thực hành&nbsp;thanh tịnh&nbsp;hoá tâm ý, tức&nbsp;sửa đổi&nbsp;những&nbsp;hành vi&nbsp;thân, khẩu, ý&nbsp;sai lầm.&nbsp;<strong><em>Quy y Tăng&nbsp;Bảo</em></strong>, tức là thoát ra khỏi tâm&nbsp;nhiễm ô&nbsp;và bất hoà để nương tựa vào&nbsp;tâm thanh tịnh&nbsp;và sáu&nbsp;hoà hợp&nbsp;(six principles of harmony) của một đoàn thể Tăng. Vì thế,&nbsp;điều kiện&nbsp;cơ bản của người học Phật, là phải quay đầu với&nbsp;si mê&nbsp;tà kiến&nbsp;mà&nbsp;trở về&nbsp;nương tựa nơi Giác, Chính và Tịnh. Đó chính là&nbsp;quy y&nbsp;với&nbsp;tự tánh&nbsp;Tam bảo.</p>



<p>Nơi nương tựa&nbsp;thực sự là Pháp, vì nhờ sự&nbsp;nhận thức&nbsp;về Pháp, người&nbsp;Phật tử&nbsp;sẽ trở nên&nbsp;tự do&nbsp;và&nbsp;được giải thoát&nbsp;khỏi&nbsp;đau khổ. Pháp&nbsp;gồm có&nbsp;sự&nbsp;chấm dứt&nbsp;đau khổ&nbsp;và&nbsp;con đường&nbsp;đi tới sự&nbsp;chấm dứt.</p>



<p><strong><em>Hỏi: Đã được truyền thọ&nbsp;Tam Quy&nbsp;để&nbsp;trở thành&nbsp;Phật tử&nbsp;vậy có&nbsp;cần thiết&nbsp;phải&nbsp;thọ giới&nbsp;không?</em></strong></p>



<p>Ngoài&nbsp;Quy Y Tam Bảo, mỗi người&nbsp;Phật tử&nbsp;cũng&nbsp;cần phải&nbsp;biết và&nbsp;cố gắng&nbsp;tiến tới&nbsp;thọ từ một tới cả&nbsp;Năm Giới&nbsp;của giới&nbsp;Phật tử&nbsp;tại gia, đó là: (1) không&nbsp;sát sinh, (2) không&nbsp;trộm cắp, (3) không&nbsp;tà dâm, (4) không&nbsp;nói dối, nói&nbsp;vu cáo, nói&nbsp;thêm bớt&nbsp;thêu dệt, nói lời xấu ác, (5) không dùng các chất say làm mê mờ&nbsp;trí tuệ.</p>



<p>Kinh Phật nói:&nbsp;&#8220;<em>Giới như đất bằng, muôn điều lành từ đó sanh. Giới như thuốc hay, chữa lành các bệnh. Giới như hòn ngọc sáng, hay phá mờ tăm tối. Giới như chiếc thuyền, hay đưa người qua biển. Giới như chuỗi&nbsp;anh lạc,&nbsp;trang nghiêm&nbsp;pháp thân</em>&#8220;. Cho nên việc&nbsp;thọ giới&nbsp;là điều&nbsp;cần thiết. Nếu&nbsp;nhận thấy&nbsp;giữ được giới nào thị xin&nbsp;thọ giới&nbsp;đó.&nbsp;Tuy nhiên, vì&nbsp;đạo Phật&nbsp;là&nbsp;đạo tâm, hứa&nbsp;thọ giới&nbsp;thì phải&nbsp;giữ lời hứa. Cũng vì thế mà nhà Phật không áp đặt các em còn nhỏ tuổi phải&nbsp;quy y&nbsp;và&nbsp;thọ giới, vì các em chưa&nbsp;đủ trí khôn&nbsp;để&nbsp;nhận thức&nbsp;được tầm quan trọng của&nbsp;lời hứa, mà người&nbsp;thọ Giới&nbsp;phải&nbsp;trưởng thành, đã biết&nbsp;suy nghĩ&nbsp;chín chắn, thì mới có thể&nbsp;giữ Giới&nbsp;mà không&nbsp;vi phạm.</p>



<p><strong><em>Hỏi: Đã được truyền thọ&nbsp;Tam Quy&nbsp;và&nbsp;Năm giới&nbsp;vậy có phải&nbsp;ăn chay&nbsp;không?</em></strong></p>



<p>Người mới học Phật không&nbsp;nhất thiết&nbsp;là phải&nbsp;ăn chay.&nbsp;Tuy nhiên, các&nbsp;nghiên cứu&nbsp;khoa học&nbsp;cho biết&nbsp;việc&nbsp;ăn uống&nbsp;có quan hệ và&nbsp;ảnh hưởng&nbsp;đến tâm&nbsp;vật lý&nbsp;con người. Họ cho rằng&nbsp;ăn chay&nbsp;rất tốt cho sức khoẻ cả&nbsp;thân thể&nbsp;lẫn tánh tình.</p>



<p>Đối với&nbsp;đạo Phật,&nbsp;ăn chay&nbsp;có&nbsp;ba lợi&nbsp;ích.&nbsp;<strong><em>Một là&nbsp;nuôi dưỡng&nbsp;tâm từ&nbsp;bi</em></strong>. Dù là một con vật, nó cũng có cha, có mẹ như&nbsp;chúng ta, sao ta có thể nỡ lòng cướp đi sự sống của nó mà&nbsp;nuôi dưỡng&nbsp;sự sống cho mình.&nbsp;<strong><em>Thứ hai là tránh&nbsp;quả báo&nbsp;do không tạo nhân giết hại&nbsp;chúng sinh</em></strong>&nbsp;vì&nbsp;nhân quả&nbsp;đều&nbsp;đi theo&nbsp;như bóng theo hình.&nbsp;<strong><em>Thứ ba là&nbsp;nuôi dưỡng&nbsp;tâm bình&nbsp;đẳng</em></strong>.&nbsp;Đức Phật&nbsp;dạy&nbsp;chúng ta&nbsp;không những không&nbsp;sát hại&nbsp;mà còn khuyên&nbsp;chúng ta&nbsp;nên&nbsp;tôn trọng&nbsp;và&nbsp;bảo vệ&nbsp;loài vật vì chúng cũng&nbsp;đồng thể&nbsp;tánh, chúng cũng có quyền sống, có quyền được chia sẻ một phần môi sinh trên trái đất, nơi mà&nbsp;con người&nbsp;đang ở.</p>



<p>Trong một buổi&nbsp;giảng pháp,&nbsp;Hoà Thượng&nbsp;Thích&nbsp;Trí Tịnh, khi được hỏi về&nbsp;vấn đề&nbsp;này đã giảng rất&nbsp;cụ thể&nbsp;rằng: “<em>Đại chúng&nbsp;nên biết, nếu muốn có thịt để ăn, thì phải&nbsp;sát sanh. Không tự giết thì cũng bảo người giết, cho nên&nbsp;ăn thịt&nbsp;là nguyên nhơn cho sự&nbsp;sát hại&nbsp;sanh mạng của các loài vật. Tất cả các thứ thịt, không luận là thịt gì, từ thịt heo, bò&nbsp;cho đến&nbsp;tôm ốc v.v&#8230; thuộc về loài thịt của&nbsp;chúng sanh&nbsp;đều không được ăn</em>”.[08]



<p>Như vậy, người&nbsp;Phật tử&nbsp;đã&nbsp;quy y&nbsp;và thọ&nbsp;năm giới&nbsp;<strong><em>được khuyến khích là nên&nbsp;ăn chay</em></strong>.&nbsp;Nhưng nếu có gặp trở ngại trong&nbsp;gia đạo&nbsp;hay vì một&nbsp;hoàn cảnh&nbsp;đặc biệt&nbsp;khó khăn nào đó mà không&nbsp;ăn chay&nbsp;trường được cũng nên tập&nbsp;ăn chay&nbsp;một tháng hai lần hoặc bốn lần. Thế nhưng,&nbsp;không được tự mình&nbsp;sát sinh&nbsp;hay là&nbsp;yêu cầu&nbsp;người khác&nbsp;sát sinh.</p>



<p><strong><em>Hỏi: Xin&nbsp;cho biết&nbsp;tiến trình&nbsp;tu tập&nbsp;của người&nbsp;Phật tử</em></strong></p>



<p>Tất cả ngàn kinh muôn luận của nhà Phật đều cùng có một&nbsp;mục tiêu&nbsp;khuyên nhủ người đời: Không làm các điều ác. Siêng làm các điều lành. Tự&nbsp;thanh tịnh&nbsp;hoá tâm ý,&nbsp;chấm dứt&nbsp;sự chạy nhẩy&nbsp;liên miên&nbsp;của&nbsp;ý thức. (Chư ác mạc tác,Chúng thiện&nbsp;phụng hành, Tự tịnh kỳ ý).</p>



<p>Không làm các điều ác và siêng làm các điều lành là&nbsp;mục tiêu&nbsp;chung của hầu hết các&nbsp;tôn giáo&nbsp;và các bài học công dân&nbsp;giáo dục&nbsp;của các nước trên&nbsp;thế giới.&nbsp;Duy có điều thứ ba, tự&nbsp;thanh tịnh&nbsp;hoá tâm ý,&nbsp;chấm dứt&nbsp;sự&nbsp;suy nghĩ&nbsp;miên man&nbsp;của&nbsp;ý thức, là cốt tủy của&nbsp;đạo Phật, là&nbsp;mục tiêu&nbsp;tối thượng&nbsp;của&nbsp;hành giả&nbsp;tu Phật.&nbsp;Giai đoạn này thường chỉ dành riêng cho những người&nbsp;quyết tâm&nbsp;tu hành&nbsp;để&nbsp;giải thoát,&nbsp;chấm dứt&nbsp;vòng&nbsp;luân hồi&nbsp;ngay trong kiếp sống&nbsp;hiện tại. Đó là những vị Sư cắt ái ly gia hay có thể là bất cứ ai tự mình tới những nơi&nbsp;thanh vắng, xa lánh sự&nbsp;ồn ào&nbsp;náo nhiệt của thế nhân. Các vị này ẩn tu như vậy nhiều khi hàng chục năm ròng rã, rất ít&nbsp;tiếp xúc&nbsp;với người đời.</p>



<p>Ngoài ra, cũng có những khóa tu theo&nbsp;phương pháp&nbsp;này, nhưng chỉ kéo dài khoảng một vài tuần, để thiền giả tập cho quen dần với&nbsp;nếp sống&nbsp;xuất gia, sống trong&nbsp;chính niệm,&nbsp;tỉnh thức, không để cho tâm đuổi theo&nbsp;tư tưởng&nbsp;lưu chuyển. Đây là những khóa tu ngắn hạn, hay còn gọi là những khoá&nbsp;tĩnh tâm&nbsp;(retreat) dành cho những người bận rộn với&nbsp;đời sống&nbsp;có cơ hội thư giãn&nbsp;tâm trí. (xem chương 12 để biết một số&nbsp;trung tâm&nbsp;tu học)</p>



<p>Giáo lý&nbsp;nhà Phật quy ra thành năm bước đường&nbsp;tu tập&nbsp;như sau:</p>



<p><strong><em>Thứ nhất &#8211;&nbsp;Nhân Thừa</em></strong>: là&nbsp;bước đầu, để&nbsp;chuyển hóa&nbsp;từ người xấu&nbsp;trở thành&nbsp;người tốt. Người tu&nbsp;Nhân Thừa&nbsp;phải thọ&nbsp;Tam Quy Y&nbsp;(là ba&nbsp;nơi nương tựa&nbsp;về&nbsp;tinh thần&nbsp;tức Phật, Pháp và Tăng), và&nbsp;giữ gìn&nbsp;Năm Giới&nbsp;Cấm. (1) Cấm&nbsp;sát sinh&nbsp;(2) Cấm&nbsp;trộm cắp&nbsp;(3) Cấm&nbsp;tà dâm&nbsp;(4) Cấm&nbsp;nói dối&nbsp;trá, cấm nói những lời&nbsp;độc ác&nbsp;(5) Cấm uống rượu và những chất làm cho say sưa, mất&nbsp;lý trí.</p>



<p><strong><em>Thứ hai -Thiên Thừa:</em></strong>&nbsp;là bước&nbsp;tu tập&nbsp;cao hơn, phải&nbsp;thực hành&nbsp;mười điều thiện: (1) Không giết hại&nbsp;chúng sinh&nbsp;mà&nbsp;phóng sinh,&nbsp;đồng thời&nbsp;không&nbsp;ăn thịt&nbsp;để tránh&nbsp;gián tiếp&nbsp;làm cho&nbsp;chúng sinh&nbsp;phải chết. (2) Không&nbsp;trộm cắp&nbsp;mà còn đem&nbsp;của cải&nbsp;của mình&nbsp;bố thí&nbsp;cho người nghèo khốn. (3) Không&nbsp;dâm đãng,&nbsp;trụy lạc. (4) Không&nbsp;dối trá&nbsp;(5) Không&nbsp;thêu dệt, bịa chuyện, đặt điều, chỉ&nbsp;nói đúng&nbsp;những điều có thật. (6) Không nói những lời&nbsp;độc ác,&nbsp;thô tục, lăng mạ người khác. (7) Không&nbsp;thêu dệt&nbsp;để gây&nbsp;mâu thuẫn&nbsp;giữa những người khác. (8) Không&nbsp;tham lam&nbsp;mà sống trong sự&nbsp;tri túc&nbsp;(biết đủ) (9) Không&nbsp;giận dữ&nbsp;mà luôn luôn hoà nhã,&nbsp;bình tĩnh&nbsp;(10) Không&nbsp;si mê&nbsp;mà hành động hợp&nbsp;đạo lý.</p>



<p>Hai giai đoạn tu theo&nbsp;Nhân Thừa&nbsp;và&nbsp;Thiên Thừa&nbsp;kể trên có&nbsp;mục đích&nbsp;chuyển hóa&nbsp;dòng&nbsp;nghiệp lực, sẽ được hưởng thiện báo trong&nbsp;thế giới&nbsp;tương đối.</p>



<p><strong><em>Thứ ba -Thanh Văn Thừa</em></strong>: là những người thấu hiểu&nbsp;giáo lý&nbsp;nhà Phật qua sự&nbsp;lãnh hội&nbsp;được&nbsp;ý nghĩa&nbsp;của&nbsp;Tứ Diệu Đế, nghĩa là Bốn&nbsp;Chân Lý&nbsp;Cao Quý, do&nbsp;đức Phật&nbsp;thuyết.&nbsp;Hành giả&nbsp;thành công&nbsp;trong giai đoạn&nbsp;tu tập&nbsp;này chứng được&nbsp;cảnh giới Niết Bàn&nbsp;tịch tĩnh.</p>



<p><strong><em>Thứ tư &#8211;&nbsp;Duyên Giác Thừa</em></strong>, là&nbsp;hành giả&nbsp;tự tu theo&nbsp;phương pháp&nbsp;quán chiếu&nbsp;Thập Nhị Nhân Duyên, là mười hai giai đoạn&nbsp;liên hệ&nbsp;với nhau&nbsp;mà&nbsp;sinh khởi&nbsp;trong dòng&nbsp;sinh mệnh&nbsp;mà khởi đầu là&nbsp;Vô Minh. Do&nbsp;quán chiếu&nbsp;sâu xa,&nbsp;cuối cùng&nbsp;hành giả&nbsp;bừng tỉnh, Ngộ ra rằng tất cả&nbsp;thế giới&nbsp;hiện tượng&nbsp;này chỉ&nbsp;tồn tại&nbsp;tương đối, do tương tác&nbsp;với nhau,&nbsp;bản chất&nbsp;của nó là Không, là&nbsp;Vô Ngã. Từ sự&nbsp;giác ngộ&nbsp;này,&nbsp;hành giả&nbsp;chấm dứt&nbsp;được những suy tư&nbsp;mê lầm&nbsp;về&nbsp;một thế&nbsp;giới tưởng như là có thật,&nbsp;buông xả&nbsp;được những dính mắc vào cái&nbsp;xưa nay&nbsp;vẫn cho là Tự Ngã,&nbsp;giải thoát&nbsp;khỏi tham sân và si, chứng được&nbsp;cảnh giới Niết Bàn&nbsp;tịch tĩnh.</p>



<p><strong><em>Thứ năm &#8211;&nbsp;Bồ Tát Thừa</em></strong>, cũng là những người tu với&nbsp;mục đích giải thoát&nbsp;nhưng khác với&nbsp;Thanh Văn&nbsp;và&nbsp;Duyên Giác Thừa.&nbsp;Hành giả&nbsp;Thanh Văn&nbsp;và&nbsp;Duyên Giác Thừa&nbsp;thì&nbsp;mục tiêu&nbsp;là&nbsp;đạt được&nbsp;cảnh giới&nbsp;tâm&nbsp;Niết Bàn&nbsp;tịch tĩnh.&nbsp;Hành giả&nbsp;Bồ Tát Thừa&nbsp;có&nbsp;nhận thức&nbsp;rằng tất cả&nbsp;chúng sinh&nbsp;và&nbsp;bản thân&nbsp;mình vốn&nbsp;đồng Thể&nbsp;Tánh, cho nên&nbsp;hành giả&nbsp;Bồ Tát Thừa&nbsp;lập&nbsp;hạnh nguyện&nbsp;tu hành&nbsp;để mình&nbsp;giác ngộ, nhưng không&nbsp;an trú&nbsp;trong&nbsp;cảnh giới Niết Bàn&nbsp;tịch tĩnh, mà&nbsp;tiếp tục&nbsp;vì&nbsp;Nguyện Lực&nbsp;mà&nbsp;trở lại&nbsp;thế gian&nbsp;để&nbsp;cứu độ&nbsp;tất cả&nbsp;chúng sinh, vốn&nbsp;đồng Thể&nbsp;với mình, gọi là&nbsp;Đồng Thể Đại Bi.&nbsp;Bồ Tát Thừa&nbsp;đi trên&nbsp;con đường&nbsp;Lục Độ Ba La Mật, tiếng Phạn là paramita, nghĩa là&nbsp;rốt ráo, qua luôn. Tất cả những&nbsp;pháp môn&nbsp;tu như&nbsp;Bố Thí,&nbsp;Trì Giới,&nbsp;Nhẫn Nhục,&nbsp;Tinh Tấn,&nbsp;Thiền Định&nbsp;và&nbsp;Trí Tuệ&nbsp;đều được người tu theo&nbsp;hạnh nguyện&nbsp;Bồ Tát hành&nbsp;trì với&nbsp;tâm nguyện&nbsp;Tam Luân Thể Không, có nghĩa làm xong là&nbsp;buông xả&nbsp;ngay, không còn vướng trong tâm,&nbsp;thí dụ&nbsp;Bố Thí Ba La Mật&nbsp;thì người&nbsp;bố thí&nbsp;không thấy rằng có mình đang&nbsp;bố thí&nbsp;(sợ sinh tâm&nbsp;kiêu ngạo), không thấy có vật&nbsp;bố thí&nbsp;là nhiều hay ít (sợ sinh tâm khoe khoang) và không thấy có người nhận&nbsp;của bố thí&nbsp;(sợ sinh tâm&nbsp;ơn nghĩa).</p>



<p>Tóm lại, nhà Phật có tới bốn vạn tám ngàn&nbsp;pháp môn&nbsp;tu, để&nbsp;tương ưng&nbsp;với rất nhiều&nbsp;tâm thức,&nbsp;căn cơ&nbsp;khác nhau. Không phải là tất cả&nbsp;mọi người&nbsp;đều có thể vào nơi vắng vẻ tu&nbsp;giải thoát. Trên&nbsp;con đường tu tập&nbsp;để đến đích, có những bước gần gũi,&nbsp;thiết thực&nbsp;với&nbsp;đời sống&nbsp;hằng ngày&nbsp;hơn.&nbsp;<strong><em>Con đường&nbsp;Bồ Tát Đạo&nbsp;là cánh cửa để những người có tấm&nbsp;lòng vị tha&nbsp;hành đạo.</em></strong>&nbsp;Vua A Dục&nbsp;bên xứ Ấn hay các vị vua đời Lý, Trần của&nbsp;Việt Nam&nbsp;khi xưa trong khi vẫn đang làm vua mà vẫn&nbsp;hành đạo&nbsp;tuyệt vời. Rất nhiều&nbsp;công trình&nbsp;hộ pháp&nbsp;của nhà vua còn được&nbsp;tuyên dương&nbsp;cho tới ngày nay. Vua&nbsp;Lương Võ Đế,&nbsp;thái tử&nbsp;Lương Chiêu Minh bên Trung Hoa và vua&nbsp;Trần Nhân Tông&nbsp;Việt Nam&nbsp;cũng là những bậc&nbsp;hộ pháp&nbsp;tận tụy và thâm hiểu&nbsp;kinh điển. Nhà Phật tin rằng có rất nhiều vị&nbsp;Bồ Tát&nbsp;đã&nbsp;chứng đạo, nhưng vì lập&nbsp;hạnh nguyện&nbsp;Đại Bi, các vị ấy&nbsp;xuất hiện&nbsp;trong&nbsp;thế giới&nbsp;tương đối&nbsp;này, làm đủ mọi ngành nghề, hoặc sinh sống trong những môi trường khó khăn, để&nbsp;hóa độ&nbsp;và giúp đỡ&nbsp;chúng sinh.</p>



<p>Đức Phật&nbsp;cũng có những kinh dạy&nbsp;Phật tử&nbsp;trong đời&nbsp;sống&nbsp;hằng ngày, vừa sinh sống trong&nbsp;gia đình&nbsp;với&nbsp;cha mẹ&nbsp;con cái, vừa&nbsp;thực hành&nbsp;giáo pháp. Do&nbsp;thực hành&nbsp;Bát Chánh Đạo, người&nbsp;Phật tử&nbsp;làm ăn buôn bán chăm chỉ, có&nbsp;một đời&nbsp;sống&nbsp;lành mạnh&nbsp;sung túc, dành bớt&nbsp;tiền của&nbsp;ra làm những việc&nbsp;tốt đẹp&nbsp;như ấn tống kinh sách để hoằng truyền,&nbsp;hộ trì&nbsp;chánh pháp&nbsp;là&nbsp;pháp thí,&nbsp;cúng dường&nbsp;tam bảo, giúp đỡ&nbsp;mọi người, là&nbsp;tài thí.</p>



<p><strong><em>Hỏi: Một người đang theo&nbsp;tôn giáo&nbsp;khác, nếu muốn học&nbsp;Phật pháp&nbsp;thì có gì trở ngại hay không?</em></strong></p>



<p>Bất cứ ai, dù đang theo&nbsp;tôn giáo&nbsp;nào hoặc không theo&nbsp;tôn giáo&nbsp;nào, mà muốn học&nbsp;Phật pháp, đều không có gì trở ngại cả.&nbsp;Phật giáo&nbsp;không phải là một&nbsp;tôn giáo&nbsp;mê tín, mà là một&nbsp;hệ thống&nbsp;giáo dục&nbsp;dựa trên&nbsp;quy luật&nbsp;nhân quả&nbsp;để&nbsp;chuyển hóa&nbsp;con người&nbsp;từ xấu thành tốt, “không làm điều xấu ác, siêng làm điều tốt lành”. Sau giai đoạn chuyển xấu thành tốt,&nbsp;con người&nbsp;trở nên&nbsp;hoàn thiện, thì sẽ có những&nbsp;thiện quả&nbsp;tạo thành duyên lành cho đương sự bước vào bước&nbsp;tu tập&nbsp;thứ ba là “tự&nbsp;thanh tịnh tâm&nbsp;ý”,&nbsp;hoàn toàn&nbsp;rũ bỏ&nbsp;tham sân si, chuyển từ&nbsp;mê lầm&nbsp;sang&nbsp;giác ngộ,&nbsp;tỉnh thức,&nbsp;giải thoát&nbsp;khỏi&nbsp;vòng sinh tử,&nbsp;luân hồi.</p>



<p>Nhà Phật&nbsp;hoan hỷ&nbsp;đón chào bất cứ ai muốn&nbsp;tìm hiểu&nbsp;Phật pháp&nbsp;và&nbsp;nghiên cứu&nbsp;Tam Tạng kinh, luật, luận, trong kho tàng&nbsp;kinh điển&nbsp;của&nbsp;đạo Phật. Có nhiều&nbsp;học giả&nbsp;thâm hiểu&nbsp;giáo lý&nbsp;nhà Phật, &#8211; trong số đó có những người&nbsp;Tây Phương, &#8211; viết sách&nbsp;luận giải&nbsp;về&nbsp;đạo Phật, là những người thuộc các&nbsp;tôn giáo&nbsp;khác, không phải là&nbsp;Phật tử. Nhiều kinh sách nhà Phật đã được dịch ra tiếng Anh bởi những&nbsp;học giả&nbsp;vốn là&nbsp;tín đồ&nbsp;các&nbsp;tôn giáo&nbsp;khác,&nbsp;đọc kinh&nbsp;sách&nbsp;Phật giáo&nbsp;vì tò mò muốn biết. Nhưng sau khi&nbsp;nghiên cứu&nbsp;sâu vào&nbsp;tư tưởng&nbsp;nhà Phật, họ cảm nhận được&nbsp;tinh thần&nbsp;khai phóng,&nbsp;từ bi,&nbsp;bình đẳng, nên trong lòng họ có sự&nbsp;chuyển hóa,&nbsp;tăng trưởng&nbsp;thiện cảm&nbsp;đối với&nbsp;đạo Phật&nbsp;và&nbsp;trở thành&nbsp;những&nbsp;tu sĩ&nbsp;đáng kính, có công lớn trong việc hoằng truyền&nbsp;Phật pháp&nbsp;tại các&nbsp;quốc gia&nbsp;Tây Phương.</p>



<p><strong><em>Hỏi: Muốn&nbsp;tu tập&nbsp;theo&nbsp;Phật giáo, có&nbsp;cần phải&nbsp;bỏ&nbsp;tôn giáo&nbsp;của mình, chuyển qua&nbsp;đạo Phật&nbsp;không?</em></strong></p>



<p>Điểm son của&nbsp;đạo Phật&nbsp;là&nbsp;tinh thần&nbsp;tôn trọng&nbsp;đời sống&nbsp;nội tâm&nbsp;và&nbsp;sinh mệnh&nbsp;muôn loài.&nbsp;Tôn giáo,&nbsp;tín ngưỡng, là&nbsp;vấn đề&nbsp;rất&nbsp;tế nhị, có những&nbsp;ràng buộc&nbsp;tình cảm&nbsp;sâu xa&nbsp;đối với&nbsp;quá khứ&nbsp;và&nbsp;thân quyến&nbsp;của đương sự. Cho nên&nbsp;người&nbsp;Phật tử&nbsp;không&nbsp;thuyết phục&nbsp;người khác bỏ&nbsp;tôn giáo&nbsp;của họ để theo&nbsp;đạo Phật.</p>



<p>Đức Phật&nbsp;là bậc&nbsp;Giác Ngộ.&nbsp;Đạo Phật&nbsp;là đạo&nbsp;Giác Ngộ. Giác thì không mê, cho nên&nbsp;người&nbsp;Phật tử&nbsp;không muốn ai bước vào&nbsp;đạo Phật&nbsp;bằng&nbsp;con đường&nbsp;mê tín. Những người từ đạo khác chuyển qua&nbsp;đạo Phật, phần lớn là do họ&nbsp;nghiên cứu&nbsp;kinh điển&nbsp;thâm sâu, hiểu được phần cốt tủy, tự ý đi tìm các vị&nbsp;tu sĩ&nbsp;để làm&nbsp;thủ tục&nbsp;gia nhập&nbsp;cộng đồng&nbsp;Phật tử. Cũng có những&nbsp;trường hợp&nbsp;không cần&nbsp;thủ tục&nbsp;gì cả, người muốn&nbsp;thực hiện&nbsp;những bước&nbsp;tu tập&nbsp;của&nbsp;đạo Phật&nbsp;cứ&nbsp;tự nhiên&nbsp;y theo&nbsp;lời dạy của&nbsp;đức Thế Tôn:&nbsp;“Không làm điều xấu ác, siêng làm điều thiện lành và tự&nbsp;thanh tịnh&nbsp;hóa tâm”, không để cho tâm bị dính mắc vào bất cứ một&nbsp;giáo điều, một&nbsp;hình ảnh&nbsp;nào cả, như thế cũng xứng đáng là một&nbsp;Phật tử&nbsp;đúng nghĩa rồi.</p>



<p><strong><em>Hỏi: Nghiệp là gì?</em></strong></p>



<p>Nghiệp là hành động hay&nbsp;việc làm&nbsp;có chủ tâm hay&nbsp;cố ý&nbsp;(tác ý). Tất cả các hành động có&nbsp;tác ý, dù là hành động thiện hay không thiện, dù biểu hiện qua thân, miệng hay ý đều tạo Nghiệp.</p>



<p>Chúng ta&nbsp;gặt hái những gì&nbsp;chúng ta&nbsp;đã gieo trồng. Hành động lành cho&nbsp;chúng ta&nbsp;những quả&nbsp;tốt đẹp. Hành động ác khiến&nbsp;chúng ta&nbsp;chịu lấy quả khổ đau. Đó là&nbsp;luật Nhân quả. Dòng&nbsp;nhân quả&nbsp;diễn biến&nbsp;liên tục&nbsp;trong&nbsp;thời gian:&nbsp;quá khứ,&nbsp;hiện tại, và&nbsp;vị lai&nbsp;mà không bị&nbsp;giới hạn&nbsp;trong&nbsp;hiện tại. Do dó, có những&nbsp;quả báo&nbsp;đến&nbsp;ngay sau khi&nbsp;gây nhân, và cũng có những&nbsp;quả báo&nbsp;sẽ đến sau một&nbsp;thời gian, dài hay ngắn,&nbsp;tùy theo&nbsp;nghiệp nhân&nbsp;mạnh hay yếu.</p>



<p><strong><em>Hỏi:&nbsp;Cận tử nghiệp&nbsp;là gì?</em></strong></p>



<p>Cận tử nghiệp&nbsp;là nghiệp vừa được tạo tác ra bằng&nbsp;tư tưởng&nbsp;trước lúc sắp chết.&nbsp;Ý nghiệp&nbsp;này rất mạnh và&nbsp;vô cùng&nbsp;quan trọng vì nó&nbsp;quyết định&nbsp;hướng&nbsp;tái sinh, dù là hướng thiện hay hướng ác. Thông thường, tập quán nghiệp nào mạnh nhất thì sẽ sống dậy mãnh liệt&nbsp;nhất trước&nbsp;lúc chết, do đó có nhân tố mạnh&nbsp;quyết định&nbsp;nơi&nbsp;đầu thai.&nbsp;Tuy nhiên, cũng có những&nbsp;trường hợp&nbsp;có sự&nbsp;can dự&nbsp;của&nbsp;cận tử nghiệp.</p>



<p>Thuyết nghiệp của nhà Phật có nói đến hai loại nghiệp có&nbsp;ảnh hưởng&nbsp;và&nbsp;chi phối&nbsp;lẫn nhau mà&nbsp;quyết định&nbsp;hướng&nbsp;tái sinh, đến cõi lành hay cõi dữ. Hai nghiệp đó là&nbsp;cận tử nghiệp&nbsp;và&nbsp;tích lũy&nbsp;nghiệp.&nbsp;Tích lũy&nbsp;nghiệp chứa nhóm nhiều kiếp đến giờ.&nbsp;Cận tử nghiệp&nbsp;là nghiệp mới tạo tác vào giây phút lìa đời.</p>



<p>Kinh sách kể có người&nbsp;tích lũy&nbsp;nghiệp thiện từ nhiều kiếp&nbsp;đến nay, bất thần trong cơn&nbsp;mê muội&nbsp;vào giờ phút&nbsp;lâm chung, thấy có người xúi dục họ làm điều ác (cận tử nghiệp&nbsp;ác). Trong&nbsp;trường hợp&nbsp;này&nbsp;cận tử nghiệp&nbsp;không&nbsp;chi phối&nbsp;được hướng đi&nbsp;tái sinh&nbsp;mà là do&nbsp;quyết định&nbsp;của tập quán nghiệp tức&nbsp;tích lũy&nbsp;nghiệp lành&nbsp;của họ nhiều và mạnh đưa họ đến cõi lành.</p>



<p>Lại cũng có người làm nhiều điều ác, đáng lý phải đọa vào các&nbsp;cảnh giới&nbsp;xấu, nhưng&nbsp;gần chết&nbsp;họ làm lành, tâm họ luôn&nbsp;nghĩ tưởng&nbsp;đến điều lành, kể cả vào giây phút&nbsp;lâm chung, nên không bị đọa vào&nbsp;cảnh giới&nbsp;xấu. Cho nên nói làm ác khi chết&nbsp;nhất định&nbsp;đọa vào&nbsp;cảnh giới&nbsp;ác, làm thiện&nbsp;nhất định&nbsp;lên&nbsp;cõi trời, là không đúng hẳn. Vì tuy họ có làm ác nhưng lúc&nbsp;gần chết&nbsp;cận tử nghiệp&nbsp;thiện họ quá mạnh có thể đưa họ đến cõi thiện.</p>



<p>Còn có những&nbsp;trường hợp&nbsp;tuy làm nhiều điều thiện, nhưng khi&nbsp;gần chết&nbsp;họ nổi sân hung dữ, lúc đó&nbsp;cận tử nghiệp&nbsp;ác có thể hướng họ đến các&nbsp;cảnh giới&nbsp;xấu.&nbsp;Vì vậy,&nbsp;cận tử nghiệp&nbsp;cũng như tích luỹ nghiệp đều rất quan trọng và kinh sách nhà Phật khuyên&nbsp;chúng ta&nbsp;không phải chỉ tu khi tuổi sắp già, đang gìa hay sắp chết, mà nên tu ở mọi giai đoạn của&nbsp;đời người, luôn luôn giữ thân, khẩu, ý lành, từ lúc còn trẻ trung&nbsp;mạnh khỏe&nbsp;cho đến&nbsp;tận cuối&nbsp;kiếp người.</p>



<p><strong><em>Hỏi:&nbsp;Đức Phật&nbsp;với&nbsp;trí tuệ&nbsp;và&nbsp;lòng từ&nbsp;bi&nbsp;vô biên&nbsp;sao Ngài không&nbsp;cứu độ&nbsp;hết&nbsp;chúng sanh&nbsp;thoát khỏi&nbsp;các cảnh khổ, nỗi chết?</em></strong></p>



<p>Đức Phật&nbsp;là bậc&nbsp;đại từ,&nbsp;đại bi&nbsp;thương hết thảy&nbsp;chúng sinh, không&nbsp;phân biệt&nbsp;màu da hay&nbsp;tôn giáo. Ngài&nbsp;xót thương&nbsp;nhân loại&nbsp;bằng sự&nbsp;bình đẳng&nbsp;tuyệt đối.&nbsp;Đức Phật&nbsp;<strong><em>không phải là đấng&nbsp;toàn năng</em></strong>&nbsp;có khả năng ngăn chận các&nbsp;thiên tai&nbsp;như bão lụt, động đất, sóng thần..v..v.. hay&nbsp;đáp ứng&nbsp;tất cả lời&nbsp;cầu xin&nbsp;của&nbsp;mọi người&nbsp;để&nbsp;mọi người&nbsp;không khổ đau hay dùng&nbsp;thần thông&nbsp;đưa&nbsp;chúng sinh&nbsp;về cõi&nbsp;an lạc&nbsp;được.&nbsp;Phật là người đã&nbsp;<strong><em>giác ngộ</em></strong>&nbsp;và&nbsp;<strong><em>giải thoát&nbsp;hoàn toàn</em></strong>, Ngài thấu rõ tất cả,&nbsp;toàn diện&nbsp;và vô bờ bến, thấu rõ mọi&nbsp;liên hệ&nbsp;nhân duyên&nbsp;và&nbsp;nhân quả ba đời&nbsp;của tất cả&nbsp;chúng sinh, nhưng chính ngài không thể làm những điều&nbsp;trái với&nbsp;luật thiên nhiên&nbsp;nhân quả&nbsp;được.</p>



<p>Đức Phật&nbsp;là&nbsp;<strong><em>bậc&nbsp;toàn giác</em></strong>, là&nbsp;vị Đạo&nbsp;sư đã tự mình&nbsp;tìm ra&nbsp;được&nbsp;con đường&nbsp;giải thoát&nbsp;ngang qua&nbsp;kinh nghiệm&nbsp;bản thân, không có ai truyền dạy cho Ngài, không có ai ban phép cho Ngài, không phải do thần khởi, cũng không phải là&nbsp;hiện thân&nbsp;hay&nbsp;hóa thân&nbsp;của một đấng&nbsp;thần linh&nbsp;nào. Ngài là một người như&nbsp;chúng ta, nhưng chính nhờ&nbsp;tự lực&nbsp;cá nhân,&nbsp;tìm ra&nbsp;được&nbsp;con đường&nbsp;giải thoát. Sau khi&nbsp;chứng ngộ, Ngài đã giảng dạy&nbsp;giáo pháp&nbsp;cho&nbsp;mọi người, nếu ai có&nbsp;nhân duyên&nbsp;thực hành&nbsp;giáo pháp, kể từ vua chúa&nbsp;cho đến&nbsp;người gánh phân, kẻ khốn khó đều được&nbsp;chứng ngộ&nbsp;như Ngài. Cho nên Ngài đã nói: “<em>Ta là Phật đã thành,&nbsp;chúng sanh&nbsp;là Phật sẽ thành.”</em></p>



<p>Ngài là người&nbsp;chỉ đường&nbsp;dẫn lối cho&nbsp;chúng ta&nbsp;tu hành, Ngài không thể tu thay cho&nbsp;chúng sinh&nbsp;mà&nbsp;con người&nbsp;phải tự mình tu mới&nbsp;giải thoát&nbsp;được khỏi khổ đau&nbsp;phiền não&nbsp;do&nbsp;tham sân si&nbsp;trói buộc, mới ra khỏi&nbsp;sinh tử luân hồi&nbsp;được. Cho nên Ngài đã nói: “<strong><em>Các người hãy tự mình thắp đuốc lên mà đi</em></strong>”. Ngài khuyên&nbsp;chúng ta&nbsp;nên nương tựa vào chính&nbsp;chúng ta&nbsp;và&nbsp;đi theo&nbsp;con đường&nbsp;giải thoát&nbsp;bằng&nbsp;nỗ lực&nbsp;của chính&nbsp;chúng ta.</p>



<p>Phật không thể chuyển được nghiệp của&nbsp;chúng sinh, mà chỉ có thể&nbsp;từ bi&nbsp;chỉ dạy&nbsp;chúng sinh&nbsp;tự mình&nbsp;nỗ lực&nbsp;để thay đổi&nbsp;cuộc đời&nbsp;của mình.&nbsp;Lòng từ&nbsp;bi của Phật&nbsp;vô biên&nbsp;như ánh sáng&nbsp;mặt trời&nbsp;chiếu sáng khắp nơi,&nbsp;căn cơ&nbsp;chúng sinh&nbsp;không kể lớn hay nhỏ, thấp hay cao,&nbsp;ngu si&nbsp;hay&nbsp;đần độn&nbsp;đều được&nbsp;ánh mặt trời&nbsp;chiếu sáng, nhưng&nbsp;khả năng&nbsp;tiếp thu&nbsp;vẫn khác biệt rất nhiều tuỳ theo nghiệp của mỗi&nbsp;chúng sinh.&nbsp;Có người vừa mới sinh ra đã mù cả hai mắt, tuy ở trong ánh sáng&nbsp;mặt trời&nbsp;mà không thấy được ánh sáng&nbsp;mặt trời&nbsp;như thế nào. Côn trùng sống&nbsp;dưới đất&nbsp;và những vi sinh vật ở nơi&nbsp;tối tăm, tuy cũng trực tiếp hay&nbsp;gián tiếp&nbsp;cảm nhận được ánh sáng&nbsp;mặt trời, nhưng chúng không thể biết được&nbsp;lợi ích&nbsp;của ánh sáng&nbsp;mặt trời&nbsp;là thế nào. Ngay cả khi Phật&nbsp;Thích Ca&nbsp;còn&nbsp;tại thế, tại những vùng được Ngài&nbsp;giáo hóa, cũng có rất nhiều người không biết Phật là ai. Các&nbsp;đức Phật&nbsp;ba đời, khi còn&nbsp;hành đạo&nbsp;Bồ Tát, đều phát&nbsp;lời nguyện&nbsp;“độ hết thảy chúng sinh”.&nbsp;Vậy mà&nbsp;các&nbsp;đức Phật&nbsp;tuy&nbsp;thành Phật&nbsp;rồi nhưng vẫn còn&nbsp;vô lượng&nbsp;chúng sinh&nbsp;chìm đắm&nbsp;trong biển khổ. Tại sao vậy?&nbsp;Tại vì&nbsp;lời&nbsp;phát nguyện&nbsp;“độ chúng sinh” của các ngài chỉ có nghĩa là&nbsp;<strong><em>đem&nbsp;ngọn đèn&nbsp;Trí Tuệ&nbsp;đi khuyên nhủ&nbsp;chúng sinh</em></strong>. Nếu&nbsp;chúng sinh&nbsp;không chịu&nbsp;vâng theo&nbsp;lời dạy mà&nbsp;tu hành,&nbsp;bản thân&nbsp;cứ&nbsp;tiếp tục&nbsp;làm chuyện ác, thì họ phải lãnh&nbsp;quả báo&nbsp;xấu, đúng theo&nbsp;quy luật&nbsp;nhân quả,&nbsp;<strong><em>chư Phật và chư&nbsp;Bồ Tát&nbsp;cũng không thể&nbsp;xóa bỏ&nbsp;nghiệp ác&nbsp;của họ được</em></strong>.</p>



<p>Chữ “độ” không có nghĩa là “cứu rỗi”, mà có nghĩa là&nbsp;giáo hóa, để cho&nbsp;chúng sinh&nbsp;biết được&nbsp;Chân Lý, mà tự tu, tự độ.</p>



<p>Khi Phật còn&nbsp;tại thế, ngoài điều Ngài nói không thể chuyển nghiệp của&nbsp;chúng sinh&nbsp;được, Ngài cũng nói là không thể&nbsp;độ thoát&nbsp;cho những&nbsp;chúng sinh&nbsp;mà Ngài không có duyên độ họ. Người không có duyên là người không tin&nbsp;Phật Pháp, không tin&nbsp;nhân quả, không muốn được&nbsp;hóa độ.&nbsp;Vì vậy, khi Phật&nbsp;Thích Ca&nbsp;còn&nbsp;tại thế, tuy vua&nbsp;Lưu Ly&nbsp;xứ Kosana dấy binh tàn sát&nbsp;dòng họ&nbsp;Thích Ca, mà Ngài không thể nào dùng phép&nbsp;thần thông&nbsp;để ngăn chận được vụ thảm sát. Nhưng&nbsp;đức Phật&nbsp;có thể dùng&nbsp;Phật pháp, tuỳ&nbsp;căn cơ&nbsp;cao thấp mà&nbsp;dìu dắt&nbsp;chúng sinh,&nbsp;chúng sinh&nbsp;nào&nbsp;hiểu biết&nbsp;thì giảng cao, người mê mờ thì giảng thấp từ&nbsp;tu thiện, tu phúc, đến tự&nbsp;thanh tịnh tâm.&nbsp;Vì vậy&nbsp;nói là&nbsp;Phật độ&nbsp;chúng sinh&nbsp;nhưng&nbsp;thực ra&nbsp;là&nbsp;chúng sinh&nbsp;tự độ&nbsp;nếu không&nbsp;thì làm&nbsp;trái với&nbsp;quy luật&nbsp;nhân quả.</p>



<p>Nói&nbsp;tóm lại,&nbsp;đức Phật&nbsp;là một vị Thầy&nbsp;dẫn đường&nbsp;sáng suốt, một vị thầy thuốc tài giỏi, nhưng&nbsp;chúng sinh&nbsp;phải tự mình cất&nbsp;bước lên&nbsp;mà đi thì mới tới đích, có bệnh phải uống thuốc mới hết bệnh, tức là tự học, tự tu, tự độ.&nbsp;Đức Phật&nbsp;không thể làm&nbsp;trái luật&nbsp;Nhân Quả, không thể uống thuốc giùm khiến người đau hết bệnh, không thể ăn giùm khiến người đói được no.&nbsp;Đức Phật&nbsp;chỉ có thể khuyên bảo, truyền dạy&nbsp;chúng sinh&nbsp;bỏ ác làm thiện, từ loại thiện&nbsp;phiền não&nbsp;đến loại thiện không&nbsp;phiền não, tức là khởi đầu bằng việc đoạn trừ mọi&nbsp;ác nghiệp&nbsp;dẫn đến&nbsp;ba cõi&nbsp;khổ, rồi&nbsp;cố gắng&nbsp;làm mười&nbsp;việc lành&nbsp;để sinh&nbsp;cõi trời&nbsp;hay sinh làm người, đó là thiện&nbsp;phiền não. Rồi&nbsp;tu đạo&nbsp;Bồ Tát, đạo&nbsp;thành Phật, thành thiện không&nbsp;phiền não, thành&nbsp;trí tuệ&nbsp;Phật. Thế nên,&nbsp;trí tuệ&nbsp;là quan trọng bậc nhất của&nbsp;đạo Phật&nbsp;và bao trùm&nbsp;toàn diện&nbsp;mục đích&nbsp;phải có của các hàng&nbsp;Phật tử&nbsp;nếu muốn đi trên&nbsp;con đường&nbsp;giải thoát&nbsp;đến&nbsp;giác ngộ&nbsp;viên mãn.&nbsp;Trí tuệ&nbsp;này&nbsp;xuất hiện&nbsp;khi&nbsp;bản thân&nbsp;người&nbsp;Phật tử&nbsp;hành trì&nbsp;các&nbsp;pháp môn&nbsp;tu để&nbsp;thanh tịnh tâm&nbsp;và&nbsp;giữ gìn&nbsp;giới hạnh.</p>



<p>Tâm là chủ yếu vì tất cả các pháp đều do tâm tạo. Vậy làm thế nào để&nbsp;thanh tịnh&nbsp;tâm? Phật nói:&nbsp;“Không làm các điều ác, Nên làm các&nbsp;việc lành, Tự&nbsp;thanh tịnh Tâm, Đó là lời chư Phật dạy”. Ấy là quá trình&nbsp;tu tập&nbsp;của mỗi người&nbsp;chúng ta&nbsp;để tự&nbsp;giải thoát&nbsp;khỏi&nbsp;luân hồi&nbsp;sinh tử.</p>



<p><strong><em>Hỏi: Xin&nbsp;cho biết&nbsp;địa ngục&nbsp;có thật không?</em></strong></p>



<p>Từ&nbsp;quan điểm&nbsp;“nhất thiết&nbsp;duy tâm&nbsp;tạo” trong&nbsp;kinh Hoa Nghiêm,&nbsp;thiên đường&nbsp;và&nbsp;địa ngục&nbsp;dưới mắt người&nbsp;Phật tử&nbsp;chính là những&nbsp;cảnh giới&nbsp;tâm thức, mà mỗi người đều&nbsp;trải qua&nbsp;hằng ngày. Nếu&nbsp;con người&nbsp;không&nbsp;chế ngự&nbsp;được ba&nbsp;thói xấu&nbsp;là&nbsp;tham lam,&nbsp;sân hận&nbsp;và&nbsp;si mê, để cho&nbsp;bản thân&nbsp;rong ruổi trong sự bon chen, tính toán lợi mình hại người, thì&nbsp;tâm hồn&nbsp;không được&nbsp;an lạc, mà&nbsp;phiền não&nbsp;triền miên,&nbsp;ăn không ngon, ngủ không yên, thường thấy&nbsp;ác mộng&nbsp;do những&nbsp;bực bội&nbsp;bất mãn&nbsp;gặp phải&nbsp;hằng ngày, đó cũng đã được coi là&nbsp;cảnh giới&nbsp;địa ngục&nbsp;của&nbsp;tâm thức&nbsp;rồi.</p>



<p>Trong&nbsp;kinh Địa Tạng,&nbsp;chúng ta&nbsp;cũng thấy nói đến những&nbsp;cảnh giới&nbsp;địa ngục. Vì “nhất thiết&nbsp;duy tâm&nbsp;tạo” nên những&nbsp;cảnh giới&nbsp;trong&nbsp;kinh Địa Tạng&nbsp;cũng là những&nbsp;cảnh giới&nbsp;tâm thức.&nbsp;Địa Tạng&nbsp;cũng có nghĩa là&nbsp;Tâm Địa, là Đất Tâm. Nhà Thiền có câu “<em>Đất Tâm nếu trống không thì&nbsp;mặt trời&nbsp;Trí Tuệ&nbsp;tự chiếu</em>”. Người nào có thể “thanh tịnh hóa tâm”, khiến cho Đất Tâm trống không, thí&nbsp;Trí Tuệ&nbsp;Bình Đẳng&nbsp;tự hiện, cũng có nghĩa là&nbsp;Bồ Tát Địa Tạng&nbsp;đã phá xong cửa ngục&nbsp;tâm thức&nbsp;cho người đó rồi. Còn như nếu Đất Tâm mà&nbsp;ô nhiễm&nbsp;quá, thì vào giờ phút&nbsp;lâm chung, do nghiệp thiện hoặc ác trong&nbsp;quá khứ, mà&nbsp;thần thức&nbsp;người đó sẽ bị&nbsp;chiêu cảm&nbsp;vào&nbsp;cảnh giới&nbsp;tương ưng.</p>



<p>Quan điểm&nbsp;của nhà Phật về tất cả&nbsp;hiện hữu&nbsp;trên&nbsp;thế gian&nbsp;là&nbsp;vô thường. Tâm cũng&nbsp;vô thường, khi tâm chuyển thì tất cả mọi thứ do tâm tạo cũng chuyển theo tâm. Cho nên, đối với nhà Phật, không có&nbsp;cảnh giới&nbsp;địa ngục&nbsp;vĩnh viễn. Mỗi người đều có thể tự ra khỏi&nbsp;địa ngục&nbsp;bằng sự “thanh tịnh hóa tâm” của họ. Đó là niềm&nbsp;hy vọng&nbsp;về&nbsp;giải thoát&nbsp;của tất cả&nbsp;mọi người.</p>



<p>Nhà Phật có câu: “Buông dao đồ tể là thành Phật” hoặc “Biển khổ&nbsp;mênh mông&nbsp;quay đầu là bến”. “Buông dao” và “quay đầu” ở đây có nghĩa là&nbsp;buông bỏ&nbsp;đời sống&nbsp;ô nhiễm, bước vào&nbsp;con đường&nbsp;thực hành&nbsp;các&nbsp;phương pháp&nbsp;để “thanh tịnh hóa tâm” như hành&nbsp;Thiền Quán&nbsp;Niệm&nbsp;Hơi Thở,&nbsp;Thiền Minh Sát&nbsp;Tuệ, Thiền&nbsp;Tổ Sư,&nbsp;Thiền Tông,&nbsp;Niệm Phật&nbsp;và còn nhiều&nbsp;pháp hành&nbsp;khác nữa.</p>



<p><strong><em>Hỏi: Xin&nbsp;cho biết&nbsp;tiêu chuẩn&nbsp;tìm Thầy&nbsp;học đạo</em></strong></p>



<p>Ngày xưa&nbsp;muốn&nbsp;học đạo&nbsp;phải&nbsp;lặn lội&nbsp;đi tìm thầy, vì thầy là người không những có&nbsp;đức hạnh&nbsp;mà còn có đầy đủ&nbsp;kinh nghiệm&nbsp;tu trì&nbsp;và có khả năng truyền dạy lại cho người sau. Thời ấy muốn&nbsp;học đạo&nbsp;phải đến chùa vì chỉ nơi đây mới có đầy đủ kinh sách. Ngày nay, việc tìm kinh sách không khó, ngoài chùa ra, còn có trong các thư viện trường&nbsp;đại học, các nhà sách lớn và ở trên Internet, ai cũng có thể tìm đọc và tự&nbsp;nghiên cứu&nbsp;học hỏi. Do đó có người nói việc tìm thầy&nbsp;học đạo&nbsp;thời nay không&nbsp;cần thiết&nbsp;lắm.&nbsp;Tuy nhiên, quý bạn cần&nbsp;lưu ý, ngay chuyện học ngoài đời,&nbsp;chúng ta&nbsp;vẫn phải có thầy dạy. Việc&nbsp;nghiên cứu&nbsp;trong sách vở là điều&nbsp;cần thiết&nbsp;nhưng vẫn&nbsp;cần phải&nbsp;có thầy hướng dẫn. Đó chỉ là học về&nbsp;kiến thức&nbsp;mà còn cần đến thầy dạy, huống chi cầu&nbsp;học đạo&nbsp;giác ngộ&nbsp;giải thoát?</p>



<p>Trong&nbsp;đạo Phật&nbsp;không phải chỉ học&nbsp;giáo lý&nbsp;suông mà còn phải&nbsp;tu trì&nbsp;nữa. Một vị thầy dạy&nbsp;chúng ta&nbsp;giáo lý&nbsp;không những qua việc thuyết giáo mà còn dạy&nbsp;chúng ta&nbsp;về&nbsp;giới đức&nbsp;qua hành động và&nbsp;cử chỉ&nbsp;hàng ngày của ông thầy mà&nbsp;thuật ngữ&nbsp;nhà Phật gọi là thân giáo. Chính thân giáo, tức hành động, nhân cách,&nbsp;giới phẩm&nbsp;và&nbsp;đức hạnh&nbsp;của vị thầy mới quan trọng, nó làm gương cho ta noi theo. Một trăm lần nghe không bằng&nbsp;một lần&nbsp;thấy. Một trăm lần tụng đọc về&nbsp;kinh Từ Bi&nbsp;không bằng&nbsp;một lần&nbsp;thấy hành động&nbsp;từ bi&nbsp;nơi vị thầy của mình.</p>



<p>Hiện nay có một số người tự xưng mình là Minh Sư,&nbsp;Đạo Sư,&nbsp;Vô Thượng Sư,&nbsp;Đại Sư,&nbsp;Thiền Sư, vân vân…&nbsp;thường dùng&nbsp;một số&nbsp;giáo lý&nbsp;Phật giáo,&nbsp;lợi dụng&nbsp;uy tín&nbsp;của&nbsp;đức Phật&nbsp;để&nbsp;thuyết giảng&nbsp;hầu&nbsp;lôi cuốn&nbsp;quần chúng, nhưng&nbsp;thực chất&nbsp;bên trong những điều giảng đó lại chứa đựng những&nbsp;tư tưởng&nbsp;đối nghịch với&nbsp;tư tưởng&nbsp;nhà Phật. Cho nên, nếu&nbsp;chúng ta&nbsp;là những&nbsp;Phật tử&nbsp;quyết tâm&nbsp;tu hành&nbsp;theo&nbsp;giáo lý&nbsp;giải thoát, mà không&nbsp;hiểu rõ&nbsp;giáo lý căn bản&nbsp;của nhà Phật thì rất dễ bị&nbsp;đi lạc&nbsp;đường.</p>



<p>Vậy làm thế nào biết được Thầy giỏi, Thầy hay, Thầy có&nbsp;đạo đức&nbsp;mà theo học?</p>



<p>Trước hết&nbsp;chúng ta&nbsp;nên&nbsp;lưu ý&nbsp;đặc biệt&nbsp;đối với những vị Thầy hay bất cứ một ai khi đến khuyên bảo&nbsp;chúng ta&nbsp;tu mà luôn luôn&nbsp;<strong><em>khoe khoang&nbsp;pháp môn</em></strong>&nbsp;của mình là hay nhất và ra sức&nbsp;<strong><em>chê bai</em></strong>&nbsp;hay&nbsp;<strong><em>chỉ trích</em></strong>&nbsp;pháp tu khác là sai đường, cho là không đúng, thì&nbsp;chúng ta&nbsp;phải&nbsp;<strong><em>xem xét&nbsp;lại</em></strong>&nbsp;những&nbsp;lời nói&nbsp;và hành động của họ, tức là&nbsp;tìm hiểu&nbsp;về thân giáo, tức hành động, nhân cách,&nbsp;giới phẩm&nbsp;và&nbsp;đức hạnh&nbsp;của vị ấy và&nbsp;động lực&nbsp;nào&nbsp;thúc đẩy&nbsp;ông ấy giảng dạy.</p>



<p>Đức&nbsp;Đạt Lai Lạt Ma&nbsp;thứ 14 đã dạy rằng:&nbsp;“<em>Động lực&nbsp;giảng dạy của một vị Thầy phải&nbsp;trong sạch&nbsp;– không bao giờ vì một ước muốn&nbsp;danh tiếng&nbsp;hay&nbsp;lợi lạc&nbsp;vật chất… Trong&nbsp;thế giới,&nbsp;nếu không&nbsp;có một nhà&nbsp;lãnh đạo&nbsp;chân chính&nbsp;thì&nbsp;chúng ta&nbsp;không thể&nbsp;cải thiện&nbsp;xã hội&nbsp;được. Cũng vậy,&nbsp;trừ phi&nbsp;vị thầy có phẩm chất&nbsp;đúng đắn, thì mặc dù&nbsp;đức tin&nbsp;của bạn có mạnh mẽ đến đâu, việc theo học vị thầy có thể làm hại bạn nếu bạn được dẫn dắt theo một đường hướng&nbsp;sai lầm. Vì thế, trước khi thực sự coi ai là thầy, điều quan trọng là phải khảo xét họ</em>…” [09]



<p>Nếu như&nbsp;vị đạo&nbsp;sư của bạn buộc bạn phải làm việc&nbsp;vô đạo đức&nbsp;hay nếu&nbsp;giáo lý&nbsp;của vị ấy&nbsp;mâu thuẫn&nbsp;với&nbsp;Phật Pháp&nbsp;thì hành xữ như thế nào? Ngài&nbsp;Đạt Lai Lạt Ma&nbsp;nói tiếp: “<em>Bạn nên&nbsp;trung thành&nbsp;với điều&nbsp;đạo đức&nbsp;và xa rời những gì không&nbsp;phù hợp&nbsp;với Pháp…</em>”</p>



<p>Trong &#8220;Đại&nbsp;trí độ&nbsp;luận&#8221; cuốn 4 đã nêu lên 4 điều&nbsp;trọng yếu&nbsp;gọi là&nbsp;tứ y pháp&nbsp;&#8220;4 chỗ nương tựa&#8221;. 1)&nbsp;Dựa vào&nbsp;pháp không&nbsp;dựa vào&nbsp;người, 2)&nbsp;Dựa vào&nbsp;nghĩa không&nbsp;dựa vào&nbsp;lời, 3)&nbsp;Dựa vào&nbsp;trí, không&nbsp;dựa vào&nbsp;thức, 4)&nbsp;Dựa vào&nbsp;ý nghĩa&nbsp;rốt ráo, không&nbsp;dựa vào&nbsp;ý nghĩa&nbsp;không&nbsp;rốt ráo.</p>



<p>Căn cứ vào&nbsp;4 điều chuẩn trên,&nbsp;chúng ta&nbsp;có thể&nbsp;phân biệt&nbsp;dễ dàng ai là minh sư, ai không phải là minh sư, rồi&nbsp;dựa vào&nbsp;4&nbsp;tiêu chuẩn&nbsp;đó mà&nbsp;quan sát&nbsp;thẩm tra minh sư mà mình mong gần gũi thì nói chung không thể có sự nhầm lẫn.</p>



<p><strong><em>Y pháp bất y nhân</em></strong>&nbsp;là một trong bốn&nbsp;tiêu chuẩn&nbsp;hướng dẫn&nbsp;chúng ta&nbsp;trên đường đi tìm thầy tìm&nbsp;học đạo. Câu này có nghĩa là nương theo&nbsp;giáo pháp&nbsp;chứ không nương vào thầy.&nbsp;Lẽ dĩ nhiên,&nbsp;y pháp bất y nhân&nbsp;không có nghĩa là được pháp rồi thì không cần biết gì đến thầy.&nbsp;Học đạo&nbsp;không giống&nbsp;như học&nbsp;các ngành học ở ngoài&nbsp;thế gian,&nbsp;học đạo&nbsp;phải có lòng&nbsp;tri ân&nbsp;tôn kính&nbsp;thầy nhưng&nbsp;<strong><em>không&nbsp;bám víu&nbsp;và thần&nbsp;tượng hóa&nbsp;thầy.</em></strong></p>



<p>Ngày nay một số trong&nbsp;chúng ta&nbsp;theo thầy không phải vì thực sự&nbsp;cầu pháp&nbsp;gỉai thoát mà vì tình cảm hay&nbsp;biên kiến, hay vì thầy là người&nbsp;nổi tiếng&nbsp;trên&nbsp;thế giới, đông&nbsp;đệ tử&nbsp;xuất gia&nbsp;lẫn&nbsp;tại gia&nbsp;có học vị&nbsp;cử nhân,&nbsp;thạc sĩ,&nbsp;tiến sĩ, có chùa to đất rộng,&nbsp;vân vân&#8230;</p>



<p>Có nhiều&nbsp;Phật tử&nbsp;đặt câu hỏi: Sau khi&nbsp;quy y&nbsp;và&nbsp;tu học&nbsp;theo thầy một&nbsp;thời gian&nbsp;dài,&nbsp;cảm thấy&nbsp;không&nbsp;tiến bộ,&nbsp;tham sân si&nbsp;vẫn như cũ,&nbsp;chấp ngã&nbsp;gia tăng&nbsp;nhiều hơn, muốn&nbsp;đi chùa&nbsp;khác tìm thầy khác nhưng làm như thế có phải là phản thầy không.&nbsp;Chúng tôi&nbsp;xin thưa ngay là không có mang tội phản thầy. Khi làm lễ&nbsp;qui y&nbsp;là&nbsp;chúng ta&nbsp;<strong><em>quy y&nbsp;với ba ngôi&nbsp;Tam Bảo: Phật, Pháp và Tăng, chứ không phải&nbsp;quy y&nbsp;với thầy.</em></strong>&nbsp;Thầy chỉ là vị&nbsp;đại diện&nbsp;Tăng Đoàn&nbsp;làm lễ&nbsp;quy y&nbsp;cho&nbsp;chúng ta&nbsp;quay về&nbsp;nương tựa với&nbsp;Tam Bảo. Trong&nbsp;buổi lễ&nbsp;chưa bao giờ&nbsp;chúng ta&nbsp;nói: Con xin&nbsp;quy y&nbsp;với thầy&nbsp;Thích Tâm&nbsp;A hay thầy&nbsp;Thích Tâm&nbsp;B. Hơn nữa, ở ngoài đời, học xong bậc tiểu học,&nbsp;chúng ta&nbsp;phải lên trung học rồi lên&nbsp;đại học&nbsp;chứ đâu có thể học mãi một lớp hay một trường được.</p>



<p>Xưa kia&nbsp;lúc còn tìm đạo,&nbsp;thái tử&nbsp;Sĩ Đạt Đa&nbsp;đến học với&nbsp;đạo sĩ&nbsp;Alara Kalama, sau khi chứng được thiền &#8220;Vô&nbsp;sở hữu&nbsp;xứ&#8221; và không học được gì thêm nữa thì ngài từ giã thầy.&nbsp;Kế tiếp&nbsp;ngài đến&nbsp;học đạo&nbsp;với Uddaka Ramaputta, sau khi chứng được thiền &#8220;Phi tưởng phi&nbsp;phi tưởng&nbsp;xứ&#8221; và không học được gì hơn thì ngài cũng kiếu từ ra đi. Nếu&nbsp;thái tử&nbsp;Sĩ Đạt Đa&nbsp;trung thành&nbsp;ở lại với&nbsp;đạo sĩ&nbsp;Kalama hay&nbsp;đạo sĩ&nbsp;Ramaputta thì chắc ngày nay&nbsp;chúng ta&nbsp;không có&nbsp;Đức Phật&nbsp;và&nbsp;Phật Pháp.</p>



<p>Là&nbsp;Phật tử, muốn có được&nbsp;đời sống&nbsp;an lạc,&nbsp;hạnh phúc,&nbsp;tiến bộ, chóng&nbsp;thành đạo&nbsp;quả&nbsp;giác ngộ&nbsp;thì phải&nbsp;hết sức&nbsp;cẩn trọng&nbsp;trong việc chọn thầy, chọn bạn, chọn&nbsp;pháp môn&nbsp;tu, chớ để tánh&nbsp;hiếu kỳ&nbsp;dẫn dắt, thì mới khỏi&nbsp;oan uổng&nbsp;công phu&nbsp;tu tập&nbsp;suốt cả&nbsp;một đời.<br><br>Trích từ:<br><a href="https://thuvienhoasen.org/p22a9120/1/cam-nang-cu-si">Tủ Sách Đạo Phật Ngày Nay</a><br><a href="https://thuvienhoasen.org/p22a9120/1/cam-nang-cu-si"><strong>CẨM NANG CƯ SĨ</strong></a><br><a href="https://thuvienhoasen.org/p22a9120/1/cam-nang-cu-si">Tâm Diệu</a><br><a href="https://thuvienhoasen.org/p22a9120/1/cam-nang-cu-si">Nhà Xuất Bản Phương Đông 2008</a></p>
]]></content:encoded>
					
		
		
			</item>
	</channel>
</rss>
