<?xml version="1.0" encoding="UTF-8"?><rss version="2.0"
	xmlns:content="http://purl.org/rss/1.0/modules/content/"
	xmlns:wfw="http://wellformedweb.org/CommentAPI/"
	xmlns:dc="http://purl.org/dc/elements/1.1/"
	xmlns:atom="http://www.w3.org/2005/Atom"
	xmlns:sy="http://purl.org/rss/1.0/modules/syndication/"
	xmlns:slash="http://purl.org/rss/1.0/modules/slash/"
	>

<channel>
	<title>Luật tạng</title>
	<atom:link href="https://phatgiaovinhphuc.vn/category/luat-tang/feed/" rel="self" type="application/rss+xml" />
	<link>https://phatgiaovinhphuc.vn</link>
	<description></description>
	<lastBuildDate>Mon, 14 Apr 2025 09:03:43 +0000</lastBuildDate>
	<language>vi</language>
	<sy:updatePeriod>
	hourly	</sy:updatePeriod>
	<sy:updateFrequency>
	1	</sy:updateFrequency>
	<generator>https://wordpress.org/?v=6.8.3</generator>

<image>
	<url>https://phatgiaovinhphuc.vn/wp-content/uploads/2024/10/cropped-Logo-Giao-hoi-Phat-Giao-VN-1-1-32x32.jpg</url>
	<title>Luật tạng</title>
	<link>https://phatgiaovinhphuc.vn</link>
	<width>32</width>
	<height>32</height>
</image> 
	<item>
		<title>Giới luật là nguồn sinh lực của Tăng già</title>
		<link>https://phatgiaovinhphuc.vn/2025/04/14/gioi-luat-la-nguon-sinh-luc-cua-tang-gia/</link>
		
		<dc:creator><![CDATA[trast1]]></dc:creator>
		<pubDate>Mon, 14 Apr 2025 09:03:43 +0000</pubDate>
				<category><![CDATA[Luật tạng]]></category>
		<guid isPermaLink="false">https://phatgiaovinhphuc.vn/?p=3240</guid>

					<description><![CDATA[Để bảo hộ sự thanh tịnh, hòa hợp trong Tăng đoàn và giữ gìn bản thểTỷ kheo không cho hư hủy đồng thời để tránh sự chê bai của người thế tục, tránh gây mất niềm tin Tam bảo của tín thí, Đức Phật đã tuyên bày giới luật. Giới luật có công năng dứt [...]]]></description>
										<content:encoded><![CDATA[


<p>Để bảo hộ sự thanh tịnh, hòa hợp trong Tăng đoàn và giữ gìn bản thểTỷ kheo không cho hư hủy đồng thời để tránh sự chê bai của người thế tục, tránh gây mất niềm tin Tam bảo của tín thí, Đức Phật đã tuyên bày giới luật.</p>



<p>Giới luật có công năng dứt trừ nghiệp duyên, nghiệp nhân trong đường sanh tử. Không chỉ thọ hưởng phước lành ở vị lai mà ngay trong đời sống hiện tại, nếu chúng ta vâng giữ giới pháp nghiêm cẩn thì cuộc sống sẽ an vui, thân tâm luôn thanh thản.</p>



<p>Kinh Trường Bô có nêu ra 5 lợi ích của việc giữ gìn giới luật như sau:</p>



<ol class="wp-block-list">
<li>Người có giới đức sẽ hưởng được gia tài pháp bảo nhờ tinh tấn.</li>



<li>Người có giới đức được tiếng tốt đồn xa.</li>



<li>Người có giới đức không sợ hãi rụt rè khi đến các hội chúng đông đúc.</li>



<li>Người có giới đức khi chết tâm không rối loạn.</li>



<li>Người có giới đức sau khi mạng chung được sinh về thiện thú, thiên giới.</li>
</ol>



<p>Đức Phật thiết lập giới bổn không ngoài mục đích muốn kiện toàn bản thể thanh tịnh Tỷ kheo và trang nghiêm hòa hợp Tăng đoàn.</p>



<p>Luật Ma Ha Tăng Kỳ, tập I, Phật bảo Xá Lợi Phất: “Có 10 việc lợi ích nên chư Phật Như Lai vì đệ tử chế giới…</p>



<p>Mười việc lợi ích đó là:</p>



<ol class="wp-block-list">
<li>Vì nhiếp phục Tăng chúng.</li>



<li>Vì nhằm triệt để nhiếp phục Tăng chúng.</li>



<li>Vì muốn cho Tăng chúng an lạc.</li>



<li>Vì để nhiếp phục những người không biết hổ thẹn.</li>



<li>Vì để cho những người biết hổ thẹn cư trú yên ổn.</li>



<li>Vì để cho những người không tin khiến họ tin tưởng.</li>



<li>Vì để cho những người đã tin tăng thêm lòng tin.</li>



<li>Vì muốn dứt hết pháp lậu hoặc ngay trong hiện tại.</li>



<li>Vì để cho những lậu hoặc chưa sinh không thể sinh khởi.</li>



<li>Vì muốn cho Chánh pháp được tồn tại lâu dài.</li>
</ol>



<p>Cho nên đối với hàng xuất gia, giới luật rất cần thiết để thành tựu một Tỷ kheo thanh tịnh và phát triển Tăng đoàn. Nói cách khác, Giới luật chính là nguồn sinh lực của Tăng già, và là kim chỉ nam cho sự sinh hoạt Tăng đoàn.</p>



<p>Tăng già là một đoàn thể Tỷ kheo thanh tịnh hòa hợp, là một trong ba ngôi báu biểu hiện sự tồn tại của Phật pháp, là người trực tiếp thay Phật tuyên dương Chánh pháp để làm lợi lạc quần sanh. Do đó, khi trong Tăng chúng bắt đầu có sự xen tạp, bản thể thanh tịnh Tăng không còn được vẹn toàn, thì khi đó Đức Phật mới chế giới hầu ngăn chặn sự manh nha của các hữu lậu.</p>



<p>Với tinh thần “Tùy phạm tùy chế”, giới luật Phật giáo chủ yếu dựa vào sự tự nguyện của hành giả mà không hề có tính cách giáo điều, ép buộc. Các hành giả sẽ tình nguyện vâng giữ giới pháp một cách nghiêm mật để chu toàn bản thể thanh tịnh Tỷ kheo và xây dựng Tăng đoàn mẫu mực. Tự thân mỗi hành giả, nương vào giới luật để gạn lọc thân tâm, tận trừ mọi lậu hoặc, ngăn chặn nghiệp bất thiện. Nhờ đó mà thân tâm được thúc liễm, đạo hạnh được tăng trưởng, đời sống không bị nhiễm ô trần tục. Một người vâng giữ, nhiều người vâng giữ, rồi từng cá nhân đó hợp lại thành một tập thể trang nghiêm thanh tịnh. Đây chính là điểm khác biệt của Tăng đoàn Phật giáo so với tổ chức của các hội chúng khác.</p>



<p>Tuy nhiên, yếu tố tạo nên thanh tịnh hòa hợp của chúng đệ tử Phật căn bản vẫn là sự nghiêm trì giới luật. Vì giới luật chính là nền tảng căn bản để giữ gìn và bảo hộ giới thể cho một Tỷ kheo như pháp. Một Tỷ kheo mà không giữ giới chắc chắn không thể tồn tại trong Tăng đoàn được.</p>



<p>Kinh Tăng Chi III, Đức Phật dạy rằng: “… Biển cả không bao giờ dung chứa tử thi. Cũng vậy, nếu Tỷ kheo nào không giữ được hạnh thanh tịnh thì Tăng đoàn sẽ không sống chung với kẻ ấy, hãy nhanh chóng tụ họp lại loại kẻ ấy ra. Dù kẻ ấy có ngồi giữa Tăng chúng cũng xa rời Tăng chúng, và Tăng chúng cũng không bảo vệ được kẻ ấy”.</p>



<p>Thế nhưng, trong xã hội ngày nay, do sự chi phối của hoàn cảnh xung quanh, chúng ta còn thiếu những môi trường tốt để trưởng dưỡng đời sống phạm hạnh và gìn giữ sơ tâm. Tăng Ni trẻ có quá ít sự bảo hộ của Tăng đoàn. Nhưng dẫu thế nào đi nữa, tự thân mỗi người vẫn là quyết định thiết yếu cho sự thành bại trong đời sống tu học của chính mình. Cho nên, đối với người xuất gia, việc vâng giữ giới luật là rất cần thiết. Cần thiết cho bản thân và cần thiết cho Tăng đoàn.</p>



<p>Chúng ta thử nghĩ xem, nếu không có giới luật thì mỗi người sẽ hành động mỗi cách, nói năng mỗi kiểu thì làm sao xây dựng một Tăng đoàn gương mẫu để truyền bá giáo pháp và đạt đến địa vị vô thượng giác. Và nếu chúng Tỷ kheo không nghiêm trì giới luật thì sẽ không bao giờ sống được trong niệm đoàn kết hòa hợp như nước với sữa được. Một khi không hòa hợp thì Tăng đoàn sẽ yếu đi, giá trị mô phạm của tập thể cũng không còn, không sớm thì muộn tổ chức ấy cũng bị tan rã.</p>



<p>Vì thế, giáo pháp của Phật đòi hỏi sự nỗ lực của từng cá nhân. Sự chu toàn đạo đức của mỗi cá nhân sẽ trang nghiêm cho đoàn thể. Mỗi Tỷ kheo hay Tỷ kheo ni sống đúng như Pháp, như Luật sẽ là nguồn năng lực vô biên cho sự lớn mạnh của Tăng già. Và một khi Tăng đoàn đã thực sự thanh tịnh hòa hợp thì không một thế lực nào có thể lấn áp hay phá hoại được. Phật pháp nhờ đó mà ngày càng vững mạnh tỏa sáng. Cuộc sống chung quanh cũng nhờ đó mà được ảnh hưởng tốt đẹp.</p>



<p>&#8220;Giới như đèn sáng lớn</p>



<p>Soi sáng đêm tối tăm</p>



<p>Giới như gương báu sáng</p>



<p>Chiếu rõ tất cả pháp”.</p>



<p>(Kinh Phạm Võng)</p>



<p>Kinh Di Giáo thuật rằng, trước khi vào Niết Bàn, Đức Phật đã ân cần dạy bảo: “ Các thầy Tỷ kheo, sau khi Như Lai diệt độ, các thầy phải trân trọng, tôn kính tịnh giới, như người mù tối mà được mắt sáng, nghèo nàn mà được vàng ngọc. Phải biết tịnh giới là đức thầy cao cả của các thầy. Nếu Như Lai có ở đời thì cũng không khác gì tịnh giới ấy” (Trí Quang dịch).</p>



<p>Do đó, là đệ tử Phật mà coi thường giới luật sẽ mang tội rất lớn đối với Tam bảo. Chúng ta phải nhớ rằng, vì những lợi ích thiết thực cho sự tu tập cũng như sự vững mạnh của Tăng đoàn mà Đức Phật đã ân cần bày trao giới pháp. Những giới pháp ấy, 250 giới cho hàng Tỷ kheo, 348 giới cho hàng Tỷ kheo ni, trải qua năm tháng, đến nay vẫn còn tồn tại. Nếu chúng ta không ý thức tôn trọng giữ gìn thì có khác gì chúng ta hủy hoại nếp nhà Như Lai!</p>



<p>Nếu chúng ta dửng dưng với những lời dạy ân cần của chư Phật, Tổ, của các bậc trưởng thượng thì coi như đã quay lưng với hoài bão của mình. Chúng ta không thiết tha trau giồi giới đức là đã góp phần làm cho mạt pháp. Như trong kinh Di Giáo, Đức Phật có nói: “Tất cả các ma vương ngoại đạo không ai có thể phá hoại được giáo pháp của ta, chỉ có đệ tử ta mới làm cho giáo pháp ta bị hủy diệt”. Chỉ có trùng trong thân sư tử mới ăn được thịt sư tử mà thôi.</p>



<p>Thế nên, là đệ tử Phật, chúng ta phải luôn tâm niệm giữ gìn giới luật như hơi thở của chính mình. Phải tôn kính trân quý giới luật vì “Giới luật là mạng mạch của Phật pháp. Giới luật còn là Phật pháp còn, Giới luật mất là Phật pháp mất”. Vận mệnh của Phật pháp hoàn toàn tùy thuộc vào sự tồn vong của giới luật. Mà giới luật có được tồn tại lâu dài để làm hưng thịnh cho Tăng đoàn, làm xương minh cho Phật pháp và đem lại lợi ích cho thế gian hay không là do ở nơi chính đệ tử Phật, nhất là những người được xem là “Thừa Như Lai sứ, hành Như Lai sự” có thiết tha nghiêm trì giới luật hay không?</p>



<p>Khải Tâm</p>
]]></content:encoded>
					
		
		
			</item>
		<item>
		<title>Đạo đức Phật giáo và giới luật cho người tại gia</title>
		<link>https://phatgiaovinhphuc.vn/2025/04/14/dao-duc-phat-giao-va-gioi-luat-cho-nguoi-tai-gia/</link>
		
		<dc:creator><![CDATA[trast1]]></dc:creator>
		<pubDate>Mon, 14 Apr 2025 09:02:40 +0000</pubDate>
				<category><![CDATA[Luật tạng]]></category>
		<guid isPermaLink="false">https://phatgiaovinhphuc.vn/?p=3236</guid>

					<description><![CDATA[Quan điểm Phật giáo về đời sống đạo đức của người tại gia là một chủ đề rộng lớn được đề cập rất nhiều trong những lời dạy của Đức Phật. Hiện nay có rất nhiều người băn khoăn về vấn đề đạo đức nói chung, có thể vì đạo đức đang trên đà trượt [...]]]></description>
										<content:encoded><![CDATA[


<p>Quan điểm Phật giáo về đời sống đạo đức của người tại gia là một chủ đề rộng lớn được đề cập rất nhiều trong những lời dạy của Đức Phật. Hiện nay có rất nhiều người băn khoăn về vấn đề đạo đức nói chung, có thể vì đạo đức đang trên đà trượt khỏi sự quan tâm và cách cư xử của nhiều người một cách nhanh chóng.</p>



<p>Những vấn đề đạo đức</p>



<p>Trước khi khảo sát quan điểm Phật giáo về đạo đức, chúng ta cần hiểu một cách tổng quát về ý nghĩa từ đạo đức. Từ này gắn liền với sự phân biệt giữa đúng và sai, thiện và ác trong hành động, ý muốn và tính tình. Nó liên quan đến bản chất và sự áp dụng luân lý trong đời sống. Ý thức đạo đức là khả năng hiểu được sự khác biệt giữa đúng và sai. Những khái niệm về đạo đức là những quy định liên quan đến việc khen hay chê cách xử thế, hợp luân lý hay không hợp luân lý, hoặc những lề luật cho cách cư xử đúng.</p>



<p><br>Gần đây, các phương tiện truyền thông của hầu hết các quốc gia trên thế giới đã báo cáo nhiều sự cố xảy ra ở mức độ địa phương, quốc gia và quốc tế. Với mức báo động càng ngày càng gia tăng, chúng ta được biết những thất bại trầm trọng của con người &#8211; nam, nữ, già, trẻ, giàu, nghèo, thông minh có học hoặc ngược lại, bất kể chủng tộc, tôn giáo, màu da và ngôn ngữ. Mặc dù những quy định và luật lệ cộng với những thiết bị để giữ an toàn cho cuộc sống và tài sản, vẫn khó có người sống mà không cảm thấy bất ổn và lo lắng. Phải chăng con người lo lắng về dã thú hay thiên tai? Không. Con người sợ nhất là những phần tử không có kỷ luật, không đáng tin cậy trong chủng loại của mình &#8211; những con người khác. Con người sợ những con người ích kỷ, tham lam, không đạo đức, thờ ơ với những bổn phận và trách nhiệm của mình, thờ ơ với quyền lợi của người khác, và những con người suy nghĩ không hợp lý lẽ, tâm thức méo mó làm tổn hại người khác. Những ý nghĩ, hành động và lời nói đi ngược lại xã hội, chống trái bản ngã lan tràn quá rộng, quá nhiều, quá thường và quá phổ biến. Một số những việc thường xảy ra và phổ biến nhất bao gồm việc chế tạo và tiêu dùng nhiều loại thuốc nguy hiểm đe dọa mạng sống, vũ khí, cướp bóc, cưỡng đoạt, lường gạt, bóc lột và tống tiền, đe dọa, hành hạ, khủng bố, quấy nhiễu, hãm hiếp, ngược đãi trẻ con… Những tội ác từ nhỏ đến lớn xảy ra từ mức độ gia đình, ra đến cộng đồng, quốc gia và quốc tế, riêng tư cũng như công cộng. Những người phạm tội này rõ ràng không có vẻ gì chứng tỏ được phú cho hay được rèn luyện để phát triển một ý thức đạo đức hướng dẫn họ đi theo con đường đúng.</p>



<p>Người ta có thể nói rằng không có gì mới mẻ trong những nhận xét về cách cư xử không đẹp phổ biến đã có từ thời xa xưa này. Đồng thời chúng ta có khuynh hướng tự tôn cho rằng chúng ta ngày nay sống văn minh, tiến bộ, tao nhã, có văn hóa, có khoa học và tân tiến hơn, là những người đã chinh phục không gian, những bậc thầy của những phát minh lỗi lạc. Vâng, chúng ta không nghi ngờ rằng loài người đã tiến bộ nhanh chóng về vật chất, nhưng chúng ta đã thụt lùi về tinh thần. Con người cần chinh phục tâm hồn để hiểu và vui hưởng nền văn minh và tiến bộ trong lẽ phải, với ý nghĩa cao cả nhất và chân thật của từ này.</p>



<p>Nhìn những kết quả xảy ra, chúng ta thấy rằng những khái niệm của chúng ta về văn minh, văn hóa và tiến bộ có vẻ không chính xác và hời hợt, ở đó con người bị một tâm thức vẩn đục đưa đi lạc hướng. Điều này có thể là một nguyên do khiến cho vấn đề về đạo đức được đưa lên hàng đầu, và nhiều quan điểm và đề nghị đã được những người có trách nhiệm trong giới tu sĩ và cư sĩ của nhiều tôn giáo trong đó có Phật giáo, các nhà giáo dục, các nhà tư vấn và cả chính khách đặt ra. Nói tóm lại, những người bình thường và nhạy cảm đều bị sốc bởi hậu quả của hàng loạt những hành vi trái đạo đức không ngừng xảy ra trong xã hội hiện đại. Đó là một điều nổi bật cho thấy rằng họ đang suy nghĩ theo chiều hướng đúng để giúp nhân loại trở thành một tài sản của nhau.</p>



<p>Đạo đức Phật giáo</p>



<p>Quan điểm Phật giáo về đạo đức có thể tóm lược trong bài kệ sau đây:</p>



<p>Tránh làm các việc ác</p>



<p>Gắng làm các việc lành</p>



<p>Giữ tâm ý trong sạch</p>



<p>Là lời chư Phật dạy.</p>



<p>Chúng ta cần hiểu thế nào là lành và thế nào là ác trong lời dạy của Đức Phật. Một lần nữa Đức Phật giải thích về tiêu chuẩn của đạo đức khi Ngài khuyên Rahula (La Hầu La):</p>



<p>“Trước khi làm điều gì, hãy suy nghĩ điều đó có gây tổn hại cho bản thân hay cho người khác hay cho cả bản thân và người khác. Nếu điều đó có thể đưa đến khổ đau thì tránh không làm”.</p>



<p>“Nếu điều đó có thể đưa đến an vui và không gây tổn hại, hãy thực hành và thực hành”.</p>



<p>Lời dạy trên cho chúng ta thấy rằng việc làm tốt nhất là biết quan tâm đến những điều có ích cho bản thân và cho người khác.</p>



<p><br>Quan điểm Phật giáo về đạo đức được nói rõ đặc biệt trong các kinh Sigalovada, Vyagghapajja, Parabhava, Vasala, Mangala, Metta và Dhammika và dĩ nhiên trong Dhammapada. Đạo đức được trình bày và giải thích trong các kinh này không phải là những điều có được từ sự huyền khải. Đó là những điều hợp lý lẽ và thực tiễn, đặt nền tảng trên những sự kiện có thể xác minh và qua kinh nghiệm của cá nhân. Cá nhân thực hành những lời dạy này trong đời sống hàng ngày với nỗ lực và chuyên cần của chính bản thân, rèn luyện kỷ luật tự giác và tự chủ, nương tựa nơi chính mình và tự thanh tịnh hóa cho chính mình. Không có giáo điều để tin và thực hành theo một cách mù quáng, những giáo điều không được suy nghĩ và thử nghiệm. Cầu nguyện Đức Phật hay những chúng sanh khác, thực hành những nghi thức và lễ nghi mê tín, những sự hy sinh và hành xác vô nghĩa không có ích lợi gì. Đạo đức trong Phật giáo cung cấp cho con người những hướng dẫn về cách cư xử, nêu ra những điều nên làm và những điều không nên làm với mục đích đem đến lợi ích cho bản thân và cho người khác. Nó hướng dẫn con người đạt được và vui hưởng những tiến bộ vật chất trong sự hài hòa với niềm vui và sự thăng hoa về tinh thần. Nó dẫn chúng ta đến một đời sống an tịnh, hóa giải những mâu thuẫn giữa khối óc và con tim, giúp chúng ta tiến tới trong công việc, nhiệm vụ, bổn phận với tâm bình an và hỷ lạc.</p>



<p>Giới luật được Đức Phật đưa ra không khó hiểu và khó thực hành trong mỗi giây phút ý thức của cuộc sống chúng ta. Giới luật đó không cần phải đợi đến khi về hưu hay đến một thời gian nào đó. Nó cần được thực hiện trong ý nghĩ, lời nói và hành động trong đời sống tu tập hàng ngày của chúng ta.</p>



<p>Chúng ta cũng nên dạy trẻ con thực hành giới luật. Giới luật phải được coi là một phần trong sự giáo dục không chính thức và chính thức của chúng ta. Những người có trách nhiệm không chỉ dạy dỗ bằng sự khuyên bảo, giáo huấn, mà còn phải là tấm gương cho trẻ con noi theo. Những người lớn này trước tiên là những bậc cha mẹ, thầy cô giáo, tu sĩ, và những người cần tiếp xúc với trẻ con.</p>



<p>Giới luật Phật giáo cho người tại gia</p>



<p>Đối với những người tại gia như chúng ta thì Phật giáo đưa ra Năm giới kết hợp chặt chẽ với Tám Chánh đạo (Tám con đường chân chánh).</p>



<p>Nhận lãnh và thực hành Tám Chánh đạo là quyền và đặc ân của bất cứ người nào muốn, là quyền và đặc ân của tất cả những người tại gia như chúng ta. Đó là cây kim chỉ nam không bao giờ sai cho cách cư xử của chúng ta trong cuộc đời này. Nó cần được chiếu rọi vào mọi mối quan hệ tương giao của chúng ta như vợ và chồng, cha mẹ và con cái, thầy và trò, anh chị em, bạn bè, người thân, chủ và người làm, tu sĩ và cư sĩ, chính quyền và dân chúng cũng như trong mối liên hệ quốc tế, giữa các tôn giáo và giữa các chủng tộc.</p>



<p>Sau đây, chúng ta phân tích ảnh hưởng của Năm giới kết hợp với Tám Chánh đạo trong đời sống hàng ngày của chúng ta nói riêng, trong sự thanh bình và hài hòa của xã hội nói chung. Việc này sẽ làm sáng tỏ quan điểm của Phật giáo về đạo đức của người tại gia.</p>



<ol class="wp-block-list">
<li>Sự sống là quý giá đối với mọi sinh linh và không ai có quyền hủy hoại đời sống của kẻ khác với bất kỳ lý do nào. Nhưng chúng ta biết rằng con người đã giết hại kẻ khác, cá nhân hay tập thể, dưới danh nghĩa nhân quyền, tôn giáo, hòa bình, chủng tộc, văn hóa và kiểm soát dân số &#8211; tất cả đều cho là với mục đích tốt. Ganh ghét, đố kỵ, quyền lực, tham lam, dã tâm, ích kỷ, độc ác, tàn nhẫn, kiêu hãnh, ngu muội là những động cơ tạo ra và hướng dẫn con người dấn thân vào sự giết hại. Điều này đi lệch ra ngoài Chánh Tri kiến (hiểu biết chân chánh), Chánh Tư duy (suy nghĩ chân chánh), Chánh Nghiệp (hành động chân chánh) của Tám Chánh đạo.</li>
</ol>



<p>Trong thời gian gần đây, chúng ta được nghe những tin tức về việc trẻ con giết trẻ con, cha mẹ giết con, học sinh giết thầy, giết hại lẫn nhau và nhiều hành động tàn ác xảy ra.</p>



<p>Nếu bầu không khí gia đình được tạo thành với những phần tử có tinh thần cao thượng với tâm từ bi, thiện lành, cảm thông và trầm tĩnh, trẻ con sẽ không bị dẫn đến vi phạm giới thứ nhất, đạo đức sẽ ở trong chúng, sẽ hướng dẫn những suy nghĩ của chúng trước những sự khủng hoảng, làm nảy nở những ý nghĩ trong lành và loại bỏ những ý nghĩ xấu ác.</p>



<ol start="2" class="wp-block-list">
<li>Giới thứ hai &#8211; không trộm cắp &#8211; có thể bao gồm từ việc trộm cắp một vật nhỏ như viên kẹo hay một đồ chơi cho đến những việc cướp bóc, ăn trộm, hối lộ, lừa đảo, mạo danh v.v… lớn hơn ở nhiều cấp độ.</li>
</ol>



<p>Tôn trọng tài sản của mình và của người, mở rộng lòng với những người cần giúp đỡ, không ích kỷ, vui vẻ, đơn giản, chân thật, tín cẩn là những đức tính có thể được trau dồi dễ dàng từ khi còn niên thiếu ở trong gia đình. Người có những đức tính đó sẽ giữ mình tránh mọi hình thức trộm cắp lộ liễu hay lén lút. Trừ phi một người được thuyết phục để biết rằng trộm cắp là xấu ác, sẽ bị trừng phạt, áp chế v.v… không có tác dụng bao nhiêu. Do đó, Chánh Tri kiến (hiểu biết chân chánh) là một đức hạnh thiết yếu, cơ bản và nền tảng cho giới thứ hai này.</p>



<p>Và chúng ta thấy rằng số lượng mất mát do trộm cắp đưa đến hậu quả nghèo khổ, thất vọng, sợ hãi của nạn nhân, những lo toan, hình phạt của chính phủ v.v… lại được chuyển giao cho người đóng thuế phải gánh chịu.</p>



<ol start="3" class="wp-block-list">
<li>Không tà dâm có thể được coi là một giới rất cần thiết cho bất kỳ xã hội nào hiện nay trên khắp thế giới. Sự vi phạm giới này đã và đang gây ra vô số những hậu quả thảm khốc và đáng báo động: bệnh hoạn về thể xác và tinh thần của cá nhân, sự đổ vỡ của gia đình, sự lẩn trốn trách nhiệm làm chồng, làm vợ, làm cha mẹ, đưa con cái vào con đường khốn đốn, nguy hiểm.</li>
</ol>



<p>Ngày một tháng Mười hai mỗi năm, được lấy làm Ngày Thế giới về bệnh AIDS, nói lên sự báo động về cơn dịch trầm trọng đang đe dọa tiêu diệt loài người chúng ta. Có những đứa trẻ, những người vợ, những người chồng, những bệnh nhân chưa bao giờ phạm vào giới tà dâm này cũng đã và đang là nạn nhân của chứng bệnh chết người này.</p>



<p>Bạo hành đối với trẻ con, hiếp dâm, loạn luân và nhiều loại quan hệ đồi trụy khác của con người dường như đang trồi lên trong mọi xã hội, Đông phương cũng như Tây phương. Những tội phạm đa phần là những người đã trưởng thành, không phải là những đứa trẻ. Việc không tự chủ, không có một nền tảng hiểu biết về đúng và sai, sống ích kỷ, ham tiền và những động cơ thương mại khác đã đưa con người đến chỗ phạm vào giới này và cám dỗ người khác phạm theo. Trẻ con thường xuyên chứng kiến những thói hư tật xấu sẽ nghĩ rằng đó là những chuyện bình thường, dẫn chúng đi vào con đường lầm lỗi. Chánh Tư duy (suy nghĩ chân chánh), Chánh Tinh tấn (cố gắng chân chánh) và Chánh Nghiệp (hành động chân chánh) bị xâm phạm, trong khi những đức hạnh này có thể được phát triển và nuôi dưỡng không mấy khó khăn.</p>



<ol start="4" class="wp-block-list">
<li>Giới thứ tư đề cập đến lời nói hay Chánh Ngữ (lời nói chân chánh) trong Tám Chánh đạo. Đây là một phần thưởng đặc biệt dành cho con người. Chánh Ngữ bao gồm việc tránh những lời nói không đúng sự thật, vu khống, nói lời cộc cằn thô lậu và nói lời ba hoa vô ích. Quán sát những giới khác cũng có thể đưa đến kết quả có được sự thành thật, uy tín, thân thiện, vui vẻ, lịch sự, có ý nghĩa và hiệu quả trong những điều nói ra. Những lời viết xuống hay in ra cũng nằm trong phạm vi của giới này.</li>
</ol>



<p>Những tính chất tốt đẹp đó của lời nói có thể được rèn luyện một cách dễ dàng cho trẻ con ngay từ lúc chúng bắt đầu tập nói. Chỉ cần cho chúng được nuôi dưỡng trong môi trường chỉ có những lời nói đẹp đẽ và không tổn hại, thận trọng, thuyết phục, thỏa đáng, lợi ích, tử tế, rõ ràng và lịch sự. Mỗi người đều có thể nói lời tốt đẹp mà không cần qua một khóa học cấp tốc về ngôn ngữ. Nếu trong gia đình có những tiêu chuẩn đúng đắn được thực hiện, một đứa trẻ lớn lên trong đó sẽ ít bị ảnh hưởng từ bên ngoài. Do đó, việc thực hành theo Tám Chánh đạo có thể bắt đầu từ lúc còn thơ ấu.</p>



<ol start="5" class="wp-block-list">
<li>Giới thứ năm là tránh dùng những chất làm say dưới mọi hình thức. Giới này liên quan đến Chánh Niệm (nhớ nghĩ chân chánh), Chánh Tri kiến (hiểu biết chân chánh), Chánh Tư duy (suy nghĩ chân chánh), Chánh Mạng (nghề nghiệp chân chánh), Chánh Nghiệp (hành động chân chánh) và Chánh Tinh tấn (cố gắng chân chánh) trong Tám Chánh đạo. Giữ được giới này có thể tránh phạm nhiều điều trong Tám Chánh đạo và ngược lại.</li>
</ol>



<p>Dưới ảnh hưởng của chất làm say, con người mất tự chủ về cả thể xác và tinh thần đưa đến việc gây ra nhiều vấn đề cho bản thân và xã hội. Rượu chè, ma túy… là một vấn nạn toàn cầu ở mọi lứa tuổi, mọi giới tính, chủng tộc và tôn giáo. Trong nhà, ở trường và bất cứ nơi nào có sự tụ tập đều bị ảnh hưởng, và số nạn nhân liên hệ ngày càng gia tăng. Đổ vỡ gia đình, tổn hại trẻ con, cướp bóc, bệnh hoạn, giết người, lạm dụng, chết chóc, mất mát của cải v.v… được biết đến rất nhiều. Nhiều người với tâm độc ác và bất bình thường đã chế tạo, phân phối và bán ra thị trường những sản phẩm này để làm giàu với giá phải trả là đời sống của hàng triệu đồng loại. Các chính phủ không giúp gì ngoài việc chi tiền vào những phương tiện kiềm chế sự lưu hành ma túy, chữa trị và phục hồi người nghiện, đưa ra tòa, bắt bỏ tù v.v… Kết quả là sự xuống cấp thảm thương về đạo đức của xã hội, sự khốn đốn của thân nhân của những người vướng vào những thứ đó, khi họ đánh mất lý trí, không còn trí nhớ, không còn khả năng suy nghĩ, sức khỏe bạc nhược…</p>



<p>Đặc điểm của giới luật Phật giáo</p>



<p>Trước tiên và trên hết, giới luật Phật giáo được đặt nền tảng trên trí tuệ, tự do tư tưởng, tự do tra vấn và luật nhân quả. Không giáo điều, không ép buộc, không đe dọa, không bắt tin theo một cách mù quáng. Phật giáo lấy Từ (metta), Bi (karuna), Bất hại (ahimsa &#8211; không tổn hại) và Nhẫn (khanti) để nuôi dưỡng đạo đức. Những mối quan hệ qua lại như chồng và vợ, cha mẹ và con cái, anh chị em, bạn bè, người thân, thầy và trò, chủ và người làm, tu sĩ và cư sĩ được nêu rõ.</p>



<p>Điều được khuyến khích trong việc dạy dỗ của Phật giáo là không bóp méo hay linh động để thích ứng với sự xấu ác. Giết hại là một hành động bất thiện (akusala kamma), dù được nhân danh tôn giáo hay tổ quốc. Chế tạo và bán vũ khí không thể được coi là chính đáng dù nó đem đến lợi tức lớn lao cho quốc gia như Hoa Kỳ và nước Anh. Không ai có thể tha lỗi và xá tội cho những hành động tàn ác của một người dù người đó cầu nguyện bao nhiêu đi nữa. Có một số tôn giáo nghĩ như vậy. Hành động tốt sẽ đem đến kết quả tốt và hành động xấu sẽ đem đến kết quả xấu, cho dù người đó là vua hay người cùng đinh. Cũng vậy, Phật giáo dạy lối sống đạo đức bằng việc nêu gương được coi là cách dạy tốt nhất. Đức Phật là một điển hình. Đó là một nền đạo đức thực tiễn giúp con người cư xử một cách hài hòa và công bằng với mọi người.</p>



<p>Con người được rèn luyện để cảm thấy có trách nhiệm và giá trị trong những việc làm của mình. Đạo đức Phật giáo hình thành những tiêu chuẩn và nguyên tắc về cách cư xử tốt thể hiện trong lời nói và hành động theo con đường chân chánh và tự chủ. Những đức tính này phát triển từ sự tự giác, không từ sự sợ hãi hay hình phạt. Chúng hướng dẫn chúng ta cách làm người, thực hiện những điều tốt và tránh xa những điều xấu.</p>



<p>Đạo đức Phật giáo (giới) đi cùng với định và tuệ &#8211; giới, định, tuệ. Trí tuệ ở đây không phải chỉ là sự thông thái. Nếu chỉ có thông thái mà không có trí tuệ, sự thông thái có thể trở thành một hiểm họa.</p>



<p>Sống một đời sống tích cực và tốt đẹp trên thế gian theo những hướng dẫn của đạo Phật sẽ đem đến hạnh phúc, bình an và niềm vui cho mình và cho người. Đời sống đó thật sự có giá trị hơn nhiều so với đời sống bon chen để thỏa mãn bản ngã và lòng tham. Đời sống đó cũng thiết lập một hợp đồng bảo hiểm cho tương lai sau khi chết. Nếu chúng ta có thể nói một cách thành thật và nghiêm túc với nhau rằng anh hay chị là niềm phúc lành cho chúng tôi, chúng ta là những hành giả trên con đường đạo đức Phật giáo, đang đi trên con đường Tám Chánh đạo. Một bộ luật cho đời sống đạo đức được thử nghiệm qua thời gian, hợp lý, thực tiễn là cần yếu cho mọi người, giống như người lái xe cần hiểu biết và tuân hành luật lệ đi đường. Lời dạy của Đức Phật cho chúng ta một bộ luật như vậy nếu chúng ta chấp nhận và sống theo.</p>



<p>Dr. Bodhippriya Subhadra Siriwardena &#8211; Thị Giới dịch</p>
]]></content:encoded>
					
		
		
			</item>
		<item>
		<title>Về Bát kỉnh pháp dành cho Tỳ kheo. Cần phân biệt giữa Thánh giới uẩn với văn hóa giao tiếp</title>
		<link>https://phatgiaovinhphuc.vn/2025/04/14/ve-bat-kinh-phap-danh-cho-ty-kheo-can-phan-biet-giua-thanh-gioi-uan-voi-van-hoa-giao-tiep/</link>
		
		<dc:creator><![CDATA[trast1]]></dc:creator>
		<pubDate>Mon, 14 Apr 2025 09:00:33 +0000</pubDate>
				<category><![CDATA[Luật tạng]]></category>
		<guid isPermaLink="false">https://phatgiaovinhphuc.vn/?p=3233</guid>

					<description><![CDATA[Là những người con Phật, chắc chắn rằng ai trong chúng ta cũng đều biết Đức Thế Tôn là Bậc Toàn giác.Trong kinh điển, Ngài luôn giảng giải rằng: “Tất cả mọi người đều bình đẳng trước luật nhân quả và chân lý giải thoát. Không có giai cấp trong nước mắt cùng mặn, trong [...]]]></description>
										<content:encoded><![CDATA[


<p>Là những người con Phật, chắc chắn rằng ai trong chúng ta cũng đều biết Đức Thế Tôn là Bậc Toàn giác.<br>Trong kinh điển, Ngài luôn giảng giải rằng: “Tất cả mọi người đều bình đẳng trước luật nhân quả và chân lý giải thoát. Không có giai cấp trong nước mắt cùng mặn, trong máu cùng đỏ và cho dù là nam hay nữ, giàu sang hay nghèo hèn, địa vị cao hay thấp… Tất cả đều có khả năng tu tập và giải thoát giác ngộ trong giáo pháp của Như Lai”.<br>Chính vì vậy mà khi còn tại thế, Đức Thế Tôn thi thiết Bát kỉnh pháp cho bà Ma Ha Ba Xà Ba Đề và chư vị Tỳ kheo ni, tất cả mọi người đều rất hoan hỷ đón nhận, trân trọng giữ gìn như một báu vật vô giá. Hơn ai hết, chính Ni chúng đã hiểu rằng: “Bát kỉnh pháp là yếu tố quyết định sự hình thành giới thể thanh tịnh của chư Tỳ kheo ni khi lãnh thọ giới pháp để trở thành một hành giả đi trên lộ trình giải thoát, giác ngộ giúp họ tin tấn nỗ lực tu tập và thành tựu”.</p>



<p>Cũng chính từ đây có rất nhiều vị Tỳ kheo ni đã chứng quả A la hán, trở thành bậc Thanh Ni xuất chúng, xứng đáng là phước điền cho chúng sanh nương tựa. Và cũng chính các bậc Thánh Tỳ kheo ni này sau khi chứng ngộ đã cảm nhận sâu sắc tình thương và trí tuệ của Bậc Đạo Sư đã dành cho Ni giới bằng con đường Giới Định Tuệ thiết thực, giúp chư Ni đạt được sự giải thoát, thành tựu trí tuệ vô lậu như các bậc Thánh Tỳ kheo.<br>Trong thời đại ngày nay, một số học giả đã tổ chức những cuộc hội thảo, diễn đàn và qua phương tiện Internet để thảo luận, bàn bạc về Bát kỉnh pháp và đưa ra nhiều ý kiến cho rằng cần phải bác bỏ Bát kỉnh pháp để phù hợp với tinh thần “nam nữ bình quyền” của thời đại văn minh.</p>



<p>Tế nhị hơn, Thiền sư Thích Nhất Hạnh không bác bỏ Bát kỉnh pháp mà đưa ra thêm một “Bát kỉnh pháp dành cho Tỳ kheo” nhằm mục đích mong muốn đem lại sự: “công bằng, dân chủ, văn minh, bình đẳng giữa Tăng và Ni” đã gây tranh cãi ít nhiều đối với Tăng Ni trẻ… Theo thiển ý của chúng tôi, sau khi đọc Bát kỉnh pháp dành cho Tỳ kheo của Thiền sư, chúng tôi cảm thấy tám điều này không có gì là mới, nếu không muốn nói là quá cũ. Bởi trên thực tế xưa nay tuy không tập thành văn nhưng trong Tăng đoàn, chư Tăng Ni luôn tôn trọng, đoàn kết, giúp đỡ lẫn nhau và đã có rất nhiều chư Ni có trình độ, có học vị, có năng lực, có tâm huyết… cũng đã giữ rất nhiều chức vụ quan trọng trong Giáo hội, kể cả việc tham gia giảng dạy trong các trường sơ cấp, trung cấp, đại học Phật giáo.</p>



<p>Chính vì vậy mà Bát kỉnh pháp dành cho Tỳ kheo, theo chúng tôi đây chỉ là “một trong những nét văn hóa giao tiếp xã hội mà thôi”, thực sự nó không thể nào thay thế cho Bát kỉnh pháp do Đức Phật thi thiết dành cho Tỳ kheo ni để trở thành một “hành giả trên lộ trình giác ngộ giải thoát”. Vì rằng, đối với những ai chưa đoạn trừ hết ái dục, chưa giải thoát khỏi lậu hoặc, chưa đạt trí tuệ vô lậu cua bậc Thánh thì không thể nào thấy rõ con đường chấm dứt khổ đau, không thể nào dẫn dắt kẻ khác ra khỏi rừng vô minh, ái dục. Dẫu rằng vị ấy có biện tài giảng giải rất hay, có phương pháp thiền tập phù hợp với căn tánh, văn hóa, nhận thức của một số người trong hiện tại…</p>



<p>Những gì Thiền sư Thích Nhất Hạnh tùy duyên uyển chuyển để đưa đạo Phật đi vào cuộc đời cho phù hợp với con người và xã hội hiện đại là một mô hình giáo dục Phật giao thực tiễn mang tính nhân văn, hợp với lòng người và dễ thực hành cho mọi đối tượng. Đứng về quan điểm Tâm lý học thì mô hình này cần được nhân rộng để mang lại sự đoàn kết, hòa hợp, bình đẳng cho mọi người.</p>



<p>Tuy nhiên chúng ta không nên lầm tưởng giữa “Văn hóa giao tiếp” với “Thánh giới uẩn, giữa “Phương pháp thư giãn” với “Thánh định uẩn”, giữa “Tri thức học giả” với “Thánh tuệ uẩn”.<br>Do đó, nếu ai muốn hướng dẫn cho chư Tăng Ni, Phật tử tu tập hay muốn thay đổi văn bản giới luật do Đức Phật thi thiết thì xin hãy tỉnh giác điều này, bởi “làm thân người đã khó, gặp Chánh pháp lại càng khó hơn”.</p>



<p>LINH TOÀN</p>
]]></content:encoded>
					
		
		
			</item>
		<item>
		<title>Thượng tọa Thích Giác Dũng: &#8220;Giới luật cần được dạy cho tất cả mọi người&#8221;</title>
		<link>https://phatgiaovinhphuc.vn/2025/04/14/thuong-toa-thich-giac-dung-gioi-luat-can-duoc-day-cho-tat-ca-moi-nguoi/</link>
		
		<dc:creator><![CDATA[trast1]]></dc:creator>
		<pubDate>Mon, 14 Apr 2025 08:59:05 +0000</pubDate>
				<category><![CDATA[Luật tạng]]></category>
		<guid isPermaLink="false">https://phatgiaovinhphuc.vn/?p=3229</guid>

					<description><![CDATA[GN &#8211; Tất cả những lời Đức Phật dạy dù là kinh hay luật đều mang tính chất chân lý phổ quát, tức chân lý được thực thi, được áp dụng bởi tất cả mọi người ở mọi không gian và thời gian khác nhau, là “công truyền”. Tháng 4-2020, Học viện Phật giáo VN [...]]]></description>
										<content:encoded><![CDATA[


<p>GN &#8211; Tất cả những lời Đức Phật dạy dù là kinh hay luật đều mang tính chất chân lý phổ quát, tức chân lý được thực thi, được áp dụng bởi tất cả mọi người ở mọi không gian và thời gian khác nhau, là “công truyền”.<br><br>Tháng 4-2020, Học viện Phật giáo VN tại TP.HCM đã công bố quyết định thành lập khoa Luật học Phật giáo và đến ngày 3-3-2021, lớp đầu tiên của khoa Luật học Phật giáo được chính thức khai giảng tại tu viện Vĩnh Nghiêm &#8211; cơ sở nội trú của Tăng sinh theo học khoa này.</p>



<p>Đây là lần đầu tiên, bộ môn Luật học được đưa vào giảng dạy bài bản và trở thành khoa chuyên môn riêng biệt tại một học viện Phật giáo của nước ta. Để giúp bạn đọc có cơ hội hiểu rõ hơn về quá trình thành lập, đặc thù và phương hướng phát triển của khoa chuyên môn này, Giác Ngộ đã có cuộc trò chuyện với Thượng tọa Thích Giác Dũng, Tiến sĩ Luật học (Đại học Bukkyo, Nhật Bản), Thư ký Hội đồng Giám luật thuộc Hội đồng Chứng minh GHPGVN, Trưởng khoa Luật học Phật giáo thuộc Học viện Phật giáo VN tại TP.HCM.</p>



<p>Nói về ý tưởng và quá trình xây dựng khoa Luật học trở thành một khoa chính thức trong hệ thống đào tạo của một học viện Phật giáo tại Việt Nam, Thượng tọa cho biết:</p>



<ul class="wp-block-list">
<li>Giới luật là sinh mạng của Phật pháp. Phật pháp tồn tại và phát triển trên nền tảng căn bản của giới luật. 40 năm trước tôi có cơ duyên theo học các lớp giới luật mang tính cách gia giáo. Sau đó, khi du học tại Nhật Bản tôi lại tiếp tục nghiên cứu về giới luật Phật giáo chuyên sâu hơn.</li>
</ul>



<p>Sau khi từ Nhật Bản trở về, tôi luôn mong muốn Học viện Phật giáo Việt Nam phải có một khoa Luật học chánh quy, được đào tạo một cách bài bản, vừa có pháp học và pháp hành. Do đó, khi xây dựng tu viện Vĩnh Nghiêm, tôi quyết định xây dựng một môi trường phù hợp với việc nghiên tầm và hành trì giới luật. Nhưng yếu tố quan trọng mang tính quyết định chính là ý tưởng của Hòa thượng Thích Trí Quảng, Viện trưởng Học viện Phật giáo VN tại TP.HCM.</p>



<p>Sau khi biết tôi nghiên cứu về giới luật Phật giáo trong thời gian theo học tại Đại học Bukkyo, Nhật Bản, Hòa thượng có dạy: “Phải thành lập một khoa Luật học Phật giáo vừa chuyên pháp học, pháp hành. Về pháp hành cần có môi trường phù hợp với đời sống phạm hạnh thanh tịnh, về pháp học nên có sự so sánh, đối chiếu”. Thế là tháng 3-2020, Hòa thượng quyết định thành lập khoa Luật học Phật giáo, giao cho tôi làm Trưởng khoa. Những lời dạy của Hòa thượng cũng chính là hoài bão xưa nay của mình, tôi xin y giáo phụng hành và xin phép được mở khoa Luật học Phật giáo tại tu viện Vĩnh Nghiêm. Hòa thượng hoan hỷ hứa khả.</p>



<p>Thượng tọa có thể chia sẻ thêm về nội dung, hệ thống giáo trình cũng như phương pháp giảng dạy của khoa Luật học?</p>



<ul class="wp-block-list">
<li>Về nội dung, ngoài các môn Sinh ngữ, Cổ ngữ, Cơ bản Phật học; hơn một nửa nội dung thuộc chuyên ngành Luật học. Luật học lại chia ra giới luật Phật giáo và pháp luật hiện hành. Pháp luật hiện hành có các môn như Hiến pháp, Luật Tín ngưỡng &#8211; tôn giáo,…; Giới luật Phật giáo là nội dung chủ yếu của chương trình học, bao gồm giới luật Đại thừa và giới luật Thanh văn. Giới luật Thanh văn được nghiên cứu kỹ lưỡng hơn, gồm cả Luật tạng và các bản chú sớ vì đây là nền tảng căn bản của Phật pháp.</li>
</ul>



<p>Về giáo trình thì dựa vào các văn bản luật hiện hành như luật Tứ phần, luật Ma-ha Tăng kỳ, v.v… nhưng luật Tứ phần vẫn là tư liệu chủ yếu vì Phật giáo Việt Nam từ xưa tới nay truyền trì bộ luật này.</p>



<p>Phương pháp giảng dạy dựa trên quy định chung của Học viện: Hướng dẫn cho Tăng Ni sinh phương pháp tự nghiên cứu, tự tìm hiểu, tự trang bị kiến thức giới luật cho chính mình. Ngoài ra, còn hướng dẫn cho Tăng Ni sinh phương pháp so sánh: So sánh sự giống nhau và khác nhau giữa các bộ Luật tạng của các bộ phái và rồi so sánh giới luật Phật giáo với pháp luật hiện hành để tìm ra những chỗ tương đồng, dị biệt; những điểm cần áp dụng vào đời sống tu hành thực tiễn.</p>



<p>Trong quá trình xây dựng khoa chuyên môn mới mẻ này, có điều gì khiến Thượng tọa tâm đắc?</p>



<ul class="wp-block-list">
<li>Điều tôi tâm đắc nhất là sự quan tâm sát sao và chỉ dạy sâu sắc của Hòa thượng Viện trưởng Học viện. Ngài thường xuyên hỏi thăm tình hình học tập, sinh hoạt của Tăng sinh tại tu viện. Đặc biệt, ngài luôn dạy: Phải giáo dưỡng những vị truyền thừa Luật tạng, phải đào tạo những vị luật sư trong tương lai. Muốn như vậy, ngoài việc học tập theo truyền thống còn phải có sự so sánh đối chiếu trong và ngoài để áp dụng giới luật của Đức Phật dạy một cách thiết thực trong cuộc sống hiện tại.</li>
</ul>



<p>Có quan điểm cho rằng, giới luật chỉ nên được giảng dạy “bí truyền”, việc “công truyền” thông qua hệ thống giảng dạy bài bản, sư phạm có thể kéo theo nhiều điều tiêu cực, xin Thượng tọa chia sẻ thêm về vấn đề này?</p>



<ul class="wp-block-list">
<li>Đây là một câu hỏi hết sức mơ hồ. Mơ hồ ở chỗ “có quan điểm cho rằng”. Quan điểm đó là của ai, được ghi trong văn bản nào? Trong Luật tạng, văn bản bậc một mà tất cả các vị tu sĩ Phật giáo và nhất là các vị luật sư phải học thuộc lòng, lại không thấy ghi điều này.</li>
</ul>



<p>Tất cả những lời Đức Phật dạy dù là kinh hay luật đều mang tính chất chân lý phổ quát, tức chân lý được thực thi, được áp dụng bởi tất cả mọi người ở mọi không gian và thời gian khác nhau, là “công truyền”. Do đó, những lời dạy của Đức Phật không có gì phải che giấu, không có gì được gọi là “bí truyền”. Ngược lại, càng phải được dạy cho tất cả mọi người.</p>



<p>Cũng theo công thức “có quan điểm cho rằng”, trước giờ nhiều vị cho rằng Tỳ-kheo-ni không được học giới của Tỳ-kheo. Đây là một sai lầm hết sức nguy hiểm, hoàn toàn trái với lời dạy của Đức Phật. Như chúng ta biết, trong Luật tạng có hai phần chính là Giới (giải thích giới của Tỳ-kheo và giới của Tỳ-kheo-ni) và Luật (trình bày những quy định liên hệ đến sinh hoạt của chúng Tăng). Trong phần giới của Tỳ-kheo thì có những điều giới giống với của Tỳ-kheo-ni, cụ thể là tứ Ba-la-di (không được bất tịnh hạnh, không được trộm cắp, không được sát sanh, không được đại vọng ngữ), được gọi là cộng giới. Những cộng giới đã được giải thích bên phần giới của Tỳ-kheo thì bên phần giới của Tỳ-kheo-ni sẽ không được lặp lại. Do đó, Tỳ-kheo-ni muốn học một cách đầy đủ các giới của mình bắt buộc phải học Giới của Tỳ-kheo.</p>



<p>Cũng “có quan điểm cho rằng” Phật tử tại gia không được đọc giới của Tỳ-kheo, Tỳ-kheo-ni. Nhưng người có công lao lớn nhất trong việc nghiên cứu giới luật thời hiện đại là một vị Phật tử tại gia. Đó là Giáo sư Hirakawa Akira, người Nhật Bản. Giáo sư Hirakawa nghiên cứu và ấn hành 2 tác phẩm được tạm dịch sang tiếng Việt là Nghiên cứu Luật tạng và Nghiên cứu 250 Giới. Hai quyển này được các học giả Luật tạng trên thế giới đánh giá rất cao.</p>



<p>Lại nữa, Giới được định nghĩa là thanh lương, là biệt giải thoát, tức giới mang đến sự an lạc, giới mang đến sự giải thoát từng phần. Giới là lương dược chứ đâu phải là thuốc độc mà phải “bí truyền”. Nếu đã là lương dược thì phải nên cho càng nhiều người sử dụng càng tốt. Cụ thể, bốn giới nặng nhất của Tỳ-kheo được gọi là tứ Ba-la-di. Phạm bốn giới này là phạm tội cực ác. Phật tử cũng giữ bốn giới này (tuy có một vài sai khác) mà kể cả một người không quy y, không phải đệ tử Đức Phật cũng phải giữ giới này. Như vậy có gì là “bí truyền”. Tội nặng thứ hai trong 250 giới của Tỳ-kheo là tội Tăng tàn. Trong tội này có giới cấm làm mai mối cưới gả. Cho dù là một Phật tử tại gia hay không phải là Phật tử cũng không ai dại gì làm chuyện mai mối cưới gả này. Tóm lại, giới Đức Phật dạy cho Tỳ-kheo hay Tỳ-kheo-ni là để hoàn thiện nhân cách của một con người đi trên đạo lộ giác ngộ, giải thoát chứ không phải là một âm mưu, một kế hoạch xấu xa gì mà cần phải che giấu.</p>



<p>Ảnh tác giả<br>Tất cả những lời Đức Phật dạy dù là kinh hay luật đều mang tính chất chân lý phổ quát, tức chân lý được thực thi, được áp dụng bởi tất cả mọi người ở mọi không gian và thời gian khác nhau, là “công truyền”. Do đó, những lời dạy của Đức Phật không có gì phải che giấu, không có gì được gọi là “bí truyền”. Ngược lại, càng phải được dạy cho tất cả mọi người.</p>



<p>TT.Thích Giác Dũng, Trưởng khoa Luật học Phật giáo &#8211; Học viện Phật giáo VN tại TP.HCM<br>Hiện tại, Phật giáo Việt Nam có nhiều hệ phái, mỗi hệ phái có sự khác biệt ít nhiều trong giới luật, các bộ luật được áp dụng; khoa Luật học Phật giáo sẽ sử dụng bộ luật của hệ phái nào làm chủ đạo trong chương trình giảng dạy, thưa Thượng tọa?</p>



<ul class="wp-block-list">
<li>Phật giáo Việt Nam tuy có nhiều hệ phái nhưng từ trước đến nay đều truyền thừa bộ luật Tứ phần của Bộ phái Đàm Vô Đức (Pháp Tạng) nên khoa Luật học Phật giáo cũng sử dụng bộ luật Tứ phần làm tư liệu chính trong chương trình giảng dạy.</li>
</ul>



<p>Việc đưa Luật học trở thành một bộ môn giảng dạy chính thức trong hệ thống các học viện Phật giáo sẽ có tác động như thế nào đến đời sống Tăng Ni, đặc biệt là Tăng Ni trẻ, thưa Thượng tọa?</p>



<ul class="wp-block-list">
<li>Việc làm này sẽ giúp cho Tăng Ni định hướng được đúng con đường tu tập của mình trên đạo lộ giải thoát, giúp cho Tăng Ni, đặc biệt là Tăng Ni trẻ có cơ hội học tập, hành trì giới luật đúng như Thầy Tổ đã dạy: “Năm năm đầu tiên sau khi thọ Đại giới phải chuyên tâm vào việc học tập và hành trì giới luật”. Nếu làm được như vậy, đời sống Tăng Ni sẽ đi vào đúng con đường Phật Tổ đã chỉ dạy và Phật pháp do đó mà được xương minh.</li>
</ul>



<p>Từng là một Tăng sĩ có nhiều năm du học tại Nhật Bản, Thượng tọa có thể chia sẻ những kinh nghiệm, lưu ý nào trong việc sinh sống và học tập tại nước ngoài, đặc biệt là đối với Tăng Ni sinh?</p>



<ul class="wp-block-list">
<li>Việc sinh sống và học tập tại nước ngoài gặp rất nhiều khó khăn. Khó khăn về ngôn ngữ, phong tục, tập quán, thời tiết, tài chánh, xã hội, v.v… nên đòi hỏi du học sinh phải có một nghị lực để vượt qua những khó khăn đó. Có điều kiện để đi du học ở nước ngoài là tốt, chúng ta có cơ hội học hỏi những điều hay, điều mới của họ, lấy đó làm tấm gương soi rọi lại chúng ta nhưng đừng bao giờ biến chúng ta thành họ, làm mất đi bản sắc của dân tộc!</li>
</ul>



<p>Thưa Thượng tọa, khoa Luật học Phật giáo có sự hỗ trợ hoặc định hướng phát triển nào dành cho Tăng Ni sinh có ý định tiếp tục con đường học vấn với bộ môn này sau đại học?</p>



<ul class="wp-block-list">
<li>Dĩ nhiên, biển học mênh mông, không có bờ bến cho nên thời gian 3 năm hay 4 năm của chương trình học viện chưa thể nào gọi là đủ được. Tăng Ni sinh cần nghiên cứu chuyên sâu hơn. Khoa Luật học đã có định hướng cho những Tăng Ni sinh có ý định tiếp tục con đường học vấn sau đại học dù học tại Việt Nam hay nước ngoài.</li>
</ul>



<p>Thượng tọa có những kỳ vọng nào về đường hướng phát triển của bộ môn Luật học Phật giáo tại Việt Nam trong tương lai?</p>



<ul class="wp-block-list">
<li>Tôi mong muốn bộ môn này được giảng dạy tại các Học viện Phật giáo của cả nước và ngày càng có nhiều Tăng Ni theo học hơn để giúp cho Phật giáo Việt Nam có những bước đi vững chắc hơn trên đạo lộ giải thoát.</li>
</ul>



<p>Cảm ơn Thượng tọa!</p>



<p>Nguyễn Cường / Báo Giác Ngộ thực hiện</p>
]]></content:encoded>
					
		
		
			</item>
		<item>
		<title>AN CƯ KIẾT HẠ:XUẤT GIỚI NHƯ THẾ NÀO LÀ ĐÚNG PHÁP?</title>
		<link>https://phatgiaovinhphuc.vn/2024/11/08/an-cu-kiet-haxuat-gioi-nhu-the-nao-la-dung-phap/</link>
		
		<dc:creator><![CDATA[trast1]]></dc:creator>
		<pubDate>Fri, 08 Nov 2024 14:01:10 +0000</pubDate>
				<category><![CDATA[Luật tạng]]></category>
		<guid isPermaLink="false">https://phatgiaovinhphuc.vn/?p=2617</guid>

					<description><![CDATA[AN CƯ KIẾT HẠ:XUẤT GIỚI NHƯ THẾ NÀO LÀ ĐÚNG PHÁP?HT. Thích&#160;Minh Thông&#160;(Pháp Đăng&#160;ghi) Vừa qua, có một số&#160;ý kiến&#160;phản ánh về báo&#160;Giác Ngộ, trong&#160;mùa an cư&#160;kiết hạ, sao vẫn thấy một vài&#160;chư Tăng&#160;Ni đi đây đó, như vậy có đúng với&#160;giới luật&#160;hay không? Đây cũng là câu hỏi đã được nêu ra tại các [...]]]></description>
										<content:encoded><![CDATA[


<p><strong>AN CƯ KIẾT HẠ:</strong><br><strong>XUẤT GIỚI NHƯ THẾ NÀO LÀ ĐÚNG PHÁP?</strong><br>HT. Thích&nbsp;Minh Thông&nbsp;(Pháp Đăng&nbsp;ghi)<br><br></p>



<p><em>Vừa qua, có một số&nbsp;ý kiến&nbsp;phản ánh về báo&nbsp;Giác Ngộ, trong&nbsp;mùa an cư&nbsp;kiết hạ, sao vẫn thấy một vài&nbsp;chư Tăng&nbsp;Ni đi đây đó, như vậy có đúng với&nbsp;giới luật&nbsp;hay không? Đây cũng là câu hỏi đã được nêu ra tại các khóa&nbsp;bồi dưỡng&nbsp;về&nbsp;giới luật&nbsp;gần đây.&nbsp;Chúng tôi&nbsp;xin&nbsp;giới thiệu&nbsp;ý kiến&nbsp;của HT.Thích&nbsp;Minh Thông&nbsp;(ảnh), Phó Trưởng ban&nbsp;Thường trực&nbsp;BTS GHPGVN tỉnh Khánh Hòa, Hiệu trưởng Trường TCPH Khánh Hòa, một trong những vị giáo phẩm&nbsp;am tường&nbsp;Luật tạng, về&nbsp;vấn đề&nbsp;này.</em></p>



<p><em>HT. Thích&nbsp;Minh Thông&nbsp;(Khánh Hòa)</em></p>



<p>An cư kiết hạ&nbsp;là một&nbsp;hình thức&nbsp;sinh hoạt&nbsp;đặc thù của&nbsp;chư Tăng. Trong&nbsp;thời gian&nbsp;an cư,&nbsp;đời sống&nbsp;Tăng-già có những Tăng sự mà ngày thường không có như xuất giới, tự tứ… Tất cả những&nbsp;hoạt động&nbsp;Tăng sự như vậy đều được&nbsp;Đức Phật&nbsp;tùy duyên&nbsp;chế định. Việc&nbsp;thực hiện&nbsp;nghiêm túc các pháp ấy, không chỉ là sự&nbsp;phụng hành&nbsp;lời dạy của Ngài “lấy&nbsp;giới luật&nbsp;làm thầy”, mà còn giúp đoàn thể Tăng-già ổn định,&nbsp;trường tồn.</p>



<p>Mỗi năm từ đầu mùa mưa (ở&nbsp;Ấn Độ), theo chế định của&nbsp;Đức Phật,&nbsp;chư Tăng&nbsp;đều phải&nbsp;an cư kiết hạ. Đó là bổn phận và&nbsp;trách nhiệm&nbsp;của một Tỳ-kheo hay Tỳ-kheo-ni đối với sự&nbsp;tu tập&nbsp;của mình. Bởi đó không chỉ là sự&nbsp;tuân thủ&nbsp;giới luật&nbsp;mà&nbsp;Đức Phật&nbsp;đã&nbsp;đề ra, mà còn là sự “tự nguyện” dành cho mình một khoảng&nbsp;thời gian&nbsp;tu tập, sống chung trong&nbsp;cộng đồng&nbsp;Tăng-già từ các nơi tập trung về. Tất cả đều sống chung trong&nbsp;tinh thần&nbsp;hòa hợp&nbsp;“sáu pháp hòa kính”.</p>



<p><strong>Xuất giới và thọ nhật &#8211;&nbsp; được phép ra khỏi&nbsp;nội giới&nbsp;an cư&nbsp;thế nào?</strong></p>



<p>Theo&nbsp;quy định,&nbsp;thời gian&nbsp;an cư&nbsp;3 tháng tất cả&nbsp;hành giả&nbsp;đều không được ra khỏi cương giới&nbsp;an cư&nbsp;đã&nbsp;quy định, thường là&nbsp;phạm vi&nbsp;đại giới. Trừ&nbsp;trường hợp&nbsp;đi&nbsp;khất thực. Nhưng sau khi xong thì phải&nbsp;trở về&nbsp;ngay lại&nbsp;nội giới.&nbsp;Phạm vi&nbsp;đại giới&nbsp;này&nbsp;tùy theo&nbsp;phạm vi&nbsp;khi&nbsp;kết giới&nbsp;an cư.&nbsp;Đại giới&nbsp;có thể bằng khuôn viên&nbsp;tự viện. Hoặc&nbsp;đại giới&nbsp;có thể kết rộng ra bằng một khu vực&nbsp;nhất định, bằng 10 câu-lô-xá (tương đương 18km hoặc 36km&nbsp;tùy theo&nbsp;cách tính). Khoảng cách này đủ để một người có thể đi về trong ngày.</p>



<p>Tuy nhiên&nbsp;có&nbsp;trường hợp&nbsp;vị xuất giới (tức ra khỏi cương giới&nbsp;quy định) không thể&nbsp;quay về&nbsp;trong ngày, về trước khi ánh sáng&nbsp;mặt trời&nbsp;(minh tướng)&nbsp;xuất hiện. Việc đi qua đêm như vậy phải&nbsp;tác bạch&nbsp;“thọ nhật”&nbsp;như pháp&nbsp;mới được xuất giới. Tất nhiên, việc xuất giới qua đêm như thế phải là những công việc vì Tăng sai, công việc chung của Tăng, việc của&nbsp;cư sĩ, những&nbsp;nhân duyên&nbsp;chính đáng…</p>



<p>Căn nguyên được ghi lại về việc&nbsp;Đức Phật&nbsp;khai cho việc “cấm túc” được ra khỏi&nbsp;nội giới&nbsp;an cư&nbsp;là do có&nbsp;cư sĩ&nbsp;thỉnh mời.&nbsp;Trưởng giả&nbsp;Ưu-đà-diên (Udena) ở Kiều-tát-la (Kosala) thỉnh&nbsp;chư Tăng&nbsp;đến nhà thọ trai và&nbsp;thuyết giảng&nbsp;giáo pháp&nbsp;nhân&nbsp;mùa an cư.&nbsp;Tuy nhiên, do nhà ông ở xa,&nbsp;chư Tăng&nbsp;không thể đi và&nbsp;trở về&nbsp;lại trú xứ&nbsp;an cư&nbsp;trong ngày, nên không thể nhận lời của&nbsp;trưởng giả&nbsp;Ưu-đà-diên. Việc này được thưa thỉnh lên&nbsp;Đức Phật. Ngài đã&nbsp;cho phép&nbsp;chư Tăng&nbsp;được xuất giới trong 7 ngày. Sau đó vì những&nbsp;lý do&nbsp;khác, việc xuất giới được&nbsp;Đức Phật&nbsp;cho phép&nbsp;nới rộng&nbsp;ra 2 tuần, 1 tháng hoặc hơn.&nbsp;Tuy nhiên&nbsp;thời gian&nbsp;không được quá 40 ngày.&nbsp;Trường hợp&nbsp;xuất giới nhiều lần thì&nbsp;tổng số&nbsp;ngày xuất giới cũng không được quá 40 ngày. Nếu vượt số ngày&nbsp;quy định&nbsp;này thì coi như vị đó “phá hạ”.</p>



<p>Nói là 7 ngày hay 40 ngày nhưng&nbsp;thực chất&nbsp;chỉ có 6 ngày hay 39 ngày, vì trong ngày&nbsp;cuối cùng&nbsp;phải về lại&nbsp;nội giới, tức là đêm&nbsp;cuối cùng&nbsp;phải có mặt tại trú xứ&nbsp;an cư.&nbsp;Thời hạn&nbsp;này không thể&nbsp;vượt qua, vì&nbsp;Đức Phật&nbsp;quy định&nbsp;thời gian&nbsp;ở trong&nbsp;nội giới&nbsp;phải nhiều hơn&nbsp;thời gian&nbsp;ở ngoài. Nếu vượt&nbsp;thời hạn&nbsp;này coi như bị&nbsp;phá hạ.</p>



<p>Riêng chư Ni,&nbsp;thời gian&nbsp;quy định&nbsp;có sự khác biệt so với&nbsp;chư Tăng. Theo luật&nbsp;<em>Tứ phần&nbsp;</em>thì chư Ni chỉ được được phép xuất giới trong 7 ngày. Không được&nbsp;vượt quá&nbsp;số ngày này như&nbsp;chư Tăng, tức là tối đa chỉ được 7 ngày trong&nbsp;một lần&nbsp;thọ thất nhật. Ở các bộ luật, chư Ni đều không có pháp yết-ma thọ nhật. Vì&nbsp;chúng ta&nbsp;thọ trì&nbsp;bộ luật&nbsp;<em>Tứ phần&nbsp;</em>nên&nbsp;áp dụng&nbsp;những&nbsp;quy định&nbsp;cho phép&nbsp;chư Ni thọ&nbsp;nhật xuất&nbsp;giới 7 ngày. Và phải&nbsp;trở về&nbsp;nội giới&nbsp;đúng theo&nbsp;quy định, không có&nbsp;trường hợp&nbsp;khai mở.</p>



<p><strong>Tác pháp&nbsp;thọ nhật thế nào mới đúng pháp?</strong></p>



<p>Tùy theo&nbsp;việc thọ&nbsp;nhật xuất&nbsp;giới bao nhiêu ngày mà có thể thức&nbsp;tác pháp. Có hai&nbsp;hình thức&nbsp;xin thọ&nbsp;nhật xuất&nbsp;giới: đối thú thọ nhật và yết-ma thọ nhật (bạch nhị yết-ma).</p>



<p>Theo luật, việc thọ nhật 7 ngày&nbsp;trở lại&nbsp;chỉ cần đối thú trước một Tỳ-kheo,&nbsp;tác pháp&nbsp;xin xuất giới. Trước khi xuất giới, Tỳ-kheo phải&nbsp;tác pháp&nbsp;thọ nhật chứ không thể tự tiện xuất giới đi ra ngoài. Đây là pháp đối thú, không phải bạch Tăng, mà chỉ cần bạch với một vị Tỳ-kheo đang&nbsp;an cư&nbsp;trong cùng&nbsp;một trú xứ&nbsp;là được.</p>



<p>Nếu tại trú xứ không có Tỳ-kheo, cũng có thể nói với Sa-di hoặc&nbsp;cư sĩ&nbsp;việc xuất giới.&nbsp;Trường hợp&nbsp;không có ai thì chỉ “tâm niệm tác pháp”. Tỳ-kheo thọ&nbsp;an cư&nbsp;xuất giới mà không&nbsp;tác pháp&nbsp;thì coi như mất hạ.</p>



<p>Với&nbsp;trường hợp&nbsp;Ni, vì Phật&nbsp;quy định&nbsp;Tỳ-kheo-ni phải ở trong chúng (không được ở&nbsp;một mình&nbsp;ngay cả thường ngày) và nương theo Tăng trong&nbsp;mùa an cư, nên Tỳ-kheo-ni không có pháp nói với Sa-di,&nbsp;cư sĩ&nbsp;và&nbsp;đặc biệt&nbsp;không có “tâm niệm tác pháp” như Tỳ-kheo khi muốn xuất giới 7 ngày.</p>



<p>Theo luật&nbsp;<em>Thập tụng</em>,&nbsp;trường hợp&nbsp;thọ&nbsp;nhật xuất&nbsp;giới 7 ngày nhưng&nbsp;thời hạn&nbsp;hết mà công việc chưa xong, phải&nbsp;trở về&nbsp;lại trú xứ, sau đó&nbsp;tác pháp&nbsp;“Tàn dạ” rồi mới có thể xuất giới&nbsp;trở lại&nbsp;chỗ&nbsp;duyên sự&nbsp;trước đó. Tàn dạ nghĩa là đêm còn dư. Và, cũng&nbsp;tác pháp&nbsp;đối thú như khi xuất giới, nhưng văn&nbsp;tác bạch&nbsp;khác.</p>



<p>Chư Tăng&nbsp;TP.HCM&nbsp;tác pháp&nbsp;an cư&nbsp;tại&nbsp;Việt Nam&nbsp;Quốc Tự &#8211; Ảnh: Bảo Toàn</p>



<p>Đối với các&nbsp;trường hợp&nbsp;xuất giới nửa tháng, một tháng hoặc tối đa 40 ngày thì phải bạch Tăng. Sau khi Tăng đã&nbsp;tác pháp&nbsp;yết-ma thọ nhật thì đương sự mới được phép xuất giới. Tỳ-kheo muốn xuất giới thỉnh 4 vị Tỳ-kheo vào&nbsp;giới trường&nbsp;của trú xứ để&nbsp;tác pháp&nbsp;bạch nhị yết-ma. Tỳ-kheo-ni không có pháp này.</p>



<p>Sau khi Tăng đã yết-ma thọ nhật, Tỳ-kheo thọ nhật phải rời khỏi trú xứ trong ngày, không được để cách đêm. Nếu đã bước chân ra khỏi cương giới thì không&nbsp;quay trở lại. Nếu&nbsp;quay trở lại&nbsp;thì phải thỉnh Tăng&nbsp;tác pháp&nbsp;yết-ma thọ nhật lại từ đầu, sau đó mới được xuất giới.</p>



<p><strong>Phá hạ</strong></p>



<p>Phá hạ&nbsp;là&nbsp;hành vi&nbsp;vi phạm&nbsp;các điều&nbsp;quy định&nbsp;trong&nbsp;an cư&nbsp;mà&nbsp;Đức Phật&nbsp;đã chế định.&nbsp;Phá hạ&nbsp;chủ yếu do việc xuất giới &#8211; rời khỏi trú xứ&nbsp;an cư. Theo luật, có hai&nbsp;trường hợp&nbsp;phá hạ:&nbsp;phá hạ&nbsp;hợp pháp&nbsp;(không mất hạ) và&nbsp;phá hạ&nbsp;không&nbsp;hợp pháp&nbsp;(mất hạ).</p>



<p>Những Tỳ-kheo tự mình&nbsp;bước ra&nbsp;khỏi cương giới&nbsp;phạm vi&nbsp;trú xứ&nbsp;an cư&nbsp;mà không có&nbsp;duyên sự&nbsp;chính đáng, không&nbsp;tác pháp&nbsp;đúng pháp cho những&nbsp;trường hợp&nbsp;7 ngày hoặc quá 7 ngày thì&nbsp;phá hạ. Tỳ-kheo-ni cũng vậy, không&nbsp;tác pháp&nbsp;đối thú thọ thất nhật mà đi ra khỏi&nbsp;nội giới&nbsp;thì&nbsp;phá hạ. Hoặc xin thọ nhật 7 ngày nhưng đi&nbsp;vượt quá&nbsp;số ngày đó thì cũng bị&nbsp;phá hạ. Những vị ấy coi như mất hạ của&nbsp;mùa an cư&nbsp;năm đó.</p>



<p>Trường hợp&nbsp;phá hạ&nbsp;hợp pháp&nbsp;là do những&nbsp;tai nạn&nbsp;xảy ra bất ngờ. Hoặc khi thọ&nbsp;nhật xuất&nbsp;giới đã hết hạn mà&nbsp;tai nạn&nbsp;xảy đến với đương sự và không thể&nbsp;trở về&nbsp;lại&nbsp;nội giới&nbsp;an cư&nbsp;đúng&nbsp;thời hạn.&nbsp;Trường hợp&nbsp;tại trú xứ có nạn, phải rời đi đến trú xứ khác&nbsp;tiếp tục&nbsp;an cư&nbsp;thì không coi là&nbsp;phá hạ. Nếu rời đi mà không&nbsp;tiếp tục&nbsp;an cư&nbsp;ở trú xứ khác thì coi như&nbsp;phá hạ.</p>



<p>Theo luật, có 8&nbsp;trường hợp&nbsp;tai nạn&nbsp;được coi là&nbsp;phá hạ&nbsp;hợp pháp: 1- Nguy hiểm&nbsp;phạm hạnh: tại trú xứ&nbsp;an cư, Tỳ-kheo có thể bị người&nbsp;quyền thế&nbsp;ép buộc&nbsp;phá giới, những người nữ thường đến&nbsp;quyến rũ&nbsp;phá giới,&nbsp;cha mẹ&nbsp;thân quyến&nbsp;thuyết phục&nbsp;phá giới. Để&nbsp;đảm bảo&nbsp;đời sống&nbsp;xuất gia&nbsp;và&nbsp;tịnh hạnh, Tỳ-kheo có thể rời trú xứ. 2- Nguy hiểm vì kho tàng: sau khi&nbsp;an cư, biết tại trú xứ có kho tàng có thể xảy ra nguy hiểm, Tỳ-kheo có thể rời trú xứ. 3- Quỷ&nbsp;phá hoại: tại trú xứ thường bị&nbsp;ma quỷ&nbsp;quấy phá,&nbsp;đe dọa&nbsp;sinh mạng, Tỳ-kheo có thể rời trú xứ. 4-&nbsp;Rắn độc&nbsp;đe dọa&nbsp;sinh mạng. 5-&nbsp;Thú dữ&nbsp;đe dọa&nbsp;sinh mạng. 6- Giặc cướp&nbsp;đe dọa&nbsp;sinh mạng. 7-&nbsp;Thiếu thốn&nbsp;các nhu cầu&nbsp;tối thiểu:&nbsp;ăn uống, thuốc men hoặc không có người giúp đỡ.&nbsp; 8-&nbsp;Phá Tăng: Tăng tại trú xứ&nbsp;an cư&nbsp;không&nbsp;hòa hợp, đang có sự chia rẽ, Tỳ-kheo không muốn bị&nbsp;lôi cuốn&nbsp;vào các phe phái tạo ra&nbsp;tranh chấp, không thể&nbsp;hòa hợp; Tỳ-kheo có thể rời bỏ trú xứ.</p>
]]></content:encoded>
					
		
		
			</item>
	</channel>
</rss>
