<?xml version="1.0" encoding="UTF-8"?><rss version="2.0"
	xmlns:content="http://purl.org/rss/1.0/modules/content/"
	xmlns:wfw="http://wellformedweb.org/CommentAPI/"
	xmlns:dc="http://purl.org/dc/elements/1.1/"
	xmlns:atom="http://www.w3.org/2005/Atom"
	xmlns:sy="http://purl.org/rss/1.0/modules/syndication/"
	xmlns:slash="http://purl.org/rss/1.0/modules/slash/"
	>

<channel>
	<title>Tự viện</title>
	<atom:link href="https://phatgiaovinhphuc.vn/category/tu-vien/feed/" rel="self" type="application/rss+xml" />
	<link>https://phatgiaovinhphuc.vn</link>
	<description></description>
	<lastBuildDate>Wed, 24 Sep 2025 09:22:27 +0000</lastBuildDate>
	<language>vi</language>
	<sy:updatePeriod>
	hourly	</sy:updatePeriod>
	<sy:updateFrequency>
	1	</sy:updateFrequency>
	<generator>https://wordpress.org/?v=6.8.3</generator>

<image>
	<url>https://phatgiaovinhphuc.vn/wp-content/uploads/2024/10/cropped-Logo-Giao-hoi-Phat-Giao-VN-1-1-32x32.jpg</url>
	<title>Tự viện</title>
	<link>https://phatgiaovinhphuc.vn</link>
	<width>32</width>
	<height>32</height>
</image> 
	<item>
		<title>Tôn giáo của ngày mai</title>
		<link>https://phatgiaovinhphuc.vn/2025/09/24/ton-giao-cua-ngay-mai/</link>
		
		<dc:creator><![CDATA[trast1]]></dc:creator>
		<pubDate>Wed, 24 Sep 2025 09:22:27 +0000</pubDate>
				<category><![CDATA[Tự viện]]></category>
		<category><![CDATA[Văn hóa]]></category>
		<guid isPermaLink="false">https://phatgiaovinhphuc.vn/?p=4190</guid>

					<description><![CDATA[GNO &#8211; Một báo cáo gần đây của Trung tâm nghiên cứu Pew có trụ sở tại Washington DC, Hoa Kỳ, dự đoán rằng, một số tôn giáo lớn trên thế giới sẽ mở rộng; riêng về Phật giáo, số lượng tín đồ được dự báo sẽ giảm trong vài thập niên tới. Như vậy, [...]]]></description>
										<content:encoded><![CDATA[


<p>GNO &#8211; Một báo cáo gần đây của Trung tâm nghiên cứu Pew có trụ sở tại Washington DC, Hoa Kỳ, dự đoán rằng, một số tôn giáo lớn trên thế giới sẽ mở rộng; riêng về Phật giáo, số lượng tín đồ được dự báo sẽ giảm trong vài thập niên tới.<br><br>Như vậy, bạn có thể thấy khó hiểu nếu tôi cho rằng Phật giáo là tôn giáo của tương lai, thế mà Trung tâm nghiên cứu Pew dự đoán sự sụt giảm tín đồ của tôn giáo này.</p>



<p>Suy cho cùng, không có một khía cạnh nào của trí tuệ Phật giáo mà khoa học có thể bác bỏ, từ khái niệm tái sinh đến tánh Không. Tái sinh theo cách hiểu của Phật giáo khá khác so với tái sinh được mô tả trong Ấn Độ giáo. Đức Phật dạy rằng tự ngã của con người là không tồn tại và cái chuyển từ kiếp này sang kiếp khác là cái thức thuần túy. Vì không có gì hoàn toàn dứt tuyệt trong vũ trụ &#8211; nó chỉ thay đổi dạng thức &#8211; nên ý thức của chúng ta sẽ tiếp tục tồn tại. Theo hiểu biết của tôi, không có khoa học thực sự nào có thể bác bỏ lý thuyết tái sinh của Phật giáo.</p>



<p>Sự thật là hầu hết Phật tử chưa hiểu ý nghĩa thực sự của tái sinh mà Đức Phật đã dạy; sự hiểu biết của họ đặt nền tảng một cách vô thức về chuyển kiếp của một dạng bản ngã cá nhân tự chủ nào đó. Khoa học thần kinh hiện đại cũng đã đi đến kết luận rằng, không có cái ngã cá nhân, điều này tương ứng với chính điểm tựa của giáo lý Phật giáo là vô ngã.</p>



<p>Phật giáo có một kho tàng giáo lý và thực hành vô cùng phong phú để phát triển tình yêu thương và từ bi đến tất cả chúng sinh, có thể áp dụng mọi lúc mọi nơi, xuyên thời gian và văn hóa. Chánh niệm hiện đã được mọi người từ mọi tầng lớp xã hội đón nhận hoàn toàn. Ngày nay, bạn sẽ thấy nhà giáo, chính trị gia, ngôi sao điện ảnh, cảnh sát và quân đội thực hành chánh niệm, ngay cả ở thế giới phương Tây, nhờ vào công sức không biết mệt mỏi của những người thầy phi thường như Jack Kornfield và nhiều người khác. Lợi ích của chánh niệm đã được xác thực bằng thử nghiệm khoa học, giúp chánh niệm ngày càng phổ biến hơn. Ngay cả một số người Cơ đốc và Hindu giáo cũng đã đón nhận sức hấp dẫn phổ quát và sức mạnh không thể phủ nhận của chánh niệm.</p>



<p>Phật giáo có một kho tàng giáo lý và thực hành vô cùng phong phú để phát triển tình yêu thương và từ bi đến tất cả chúng sinh, có thể áp dụng mọi lúc mọi nơi, xuyên thời gian và văn hóa. Chánh niệm hiện đã được mọi người từ mọi tầng lớp xã hội đón nhận hoàn toàn.</p>



<p>Các tôn giáo khác được dự đoán sẽ phát triển, chủ yếu ở các nước đang phát triển, nơi đó giáo dục và phát triển kinh tế được cho là sẽ tụt hậu trong tương lai dự đoán được. Những nền văn hóa này không chỉ giữ truyền thống của họ một cách vững chắc, mà xã hội còn sinh nhiều con hơn cho bảo đảm cá nhân, tạo ra một thế hệ mới tiếp nối truyền thống và văn hóa của họ. Khi một xã hội trở nên thịnh vượng và giáo dục tốt, công dân của xã hội đó thường sẽ sống khoa học và thế tục hơn. Trái ngược với dự báo của Pew ở trên, có khả năng phần lớn thế giới cuối cùng sẽ gia nhập câu lạc bộ “các quốc gia phát triển” và sẽ ngày càng hiện đại hóa.</p>



<p>Thế thì, Phật giáo có thể có một sứ mệnh độc đáo là phục vụ nhu cầu tâm linh của những người có thể không liên quan đến các truyền thống hữu thần. Đó có thể là lý do tại sao nhiều người dẫn lời Albert Einstein tuyên bố rằng Phật giáo là tôn giáo duy nhất tương thích với khoa học hiện đại. Tôi không nói rằng chúng ta nên thay đổi Phật giáo để phù hợp với khoa học hiện đại &#8211; những nỗ lực như vậy có thể nguy hiểm và có thể làm loãng sự sâu sắc của tôn giáo này. Thay vào đó, đây là kêu gọi nhận thức rằng Phật giáo vốn đã có tính khoa học từ bản chất.</p>



<p>Tôi cũng không cố gắng tạo ra một cuộc hôn nhân mới giữa khoa học hiện đại và Phật giáo bằng cách thúc đẩy một thứ ngụy khoa học (pseudo-science), chẳng hạn như lý thuyết thiết kế thông minh, một khái niệm do một số người theo thuyết hữu thần phát minh ra với mục đích riêng nào đó.</p>



<p>Các nhà sư và giảng sư Phật giáo châu Á phải thức tỉnh trước thực tế này. Quý vị không chỉ nên chuyên chú thực hành thiền cho chính mình mà còn nên dạy thực hành thiền cho cộng đồng cư sĩ, chẳng hạn như bốn nền tảng của chánh niệm. Quý vị nên dạy giáo lý Phật giáo cơ bản về Tứ diệu đế cho công chúng bằng ngôn ngữ đương đại để người tại gia có thể đạt được trí tuệ về thân phận con người và đối phó với những thách thức trong cuộc sống của chính họ một cách khôn ngoan.</p>



<p>Quý vị nên tổ chức các khóa tu thiền trong nhiều môi trường khác nhau và chào đón mọi người, bất kể xuất thân, trình độ học vấn hay tình trạng kinh tế của họ. Châu Á hiện có một lượng lớn dân cư có trình độ học vấn đủ để hiểu được những gì tinh tế trong lời dạy của Đức Phật và tự nguyện thiền thay vì chỉ muốn đến chùa để thắp hương và cầu nguyện cho được tiền tài và danh vọng.</p>



<p>S.N. Goenka là bậc thầy truyền cảm hứng cho tất cả chúng ta trong lĩnh vực này. Sau khi học chánh niệm ở Myanmar, ông chuyển đến Ấn Độ để chia sẻ những gì ông đã học được. Ngày nay, có hàng trăm trung tâm Vipassana của ông, nơi mọi người đều được chào đón. Khi còn sống, ông đã tổ chức khóa tu Vipassana 10 ngày tại các nhà tù và trại giam với những kết quả đáng kinh ngạc. Miễn là chúng ta tập trung vào việc thực hành thiền và diễn giải Phật giáo bằng ngôn ngữ đương đại, thì Phật giáo có thể tiếp tục phát triển trên thế giới như một sức mạnh cho hòa bình, hạnh phúc và trí tuệ. Với những công đức này, Phật giáo có sức hấp dẫn đối với những người có học thức.</p>



<p>Chúng ta cũng nên xem xét lý do tại sao Phật giáo đang dần biến mất ở Nhật Bản và Hàn Quốc. Ngày xưa, những quốc gia này thực sự là những vương quốc Phật giáo. Phật giáo đã trải qua thời kỳ hoàng kim trên bán đảo Triều Tiên trong triều đại Silla (57 TTL &#8211; 935 TL). Bây giờ, ít người Hàn Quốc trẻ tuổi nào quan tâm đến việc thực hành Phật giáo; có lẽ họ quan tâm hơn đến việc học tiếng Anh hoặc bài hát K-pop. Nhật Bản cũng đang ngày càng trở nên thế tục và Phật giáo ở đó đang nhanh chóng suy tàn. Nguyên nhân của sự phát triển này có thể bắt nguồn từ thời Minh Trị (1868-1912), khi đất nước này hướng tới hiện đại hóa một cách toàn diện.</p>



<p>Như tôi đã đề cập trước đó, giải pháp của tôi cho tình huống khó khăn này, trước hết là quảng bá phong trào thiền vào xã hội chính thống và giảng dạy Phật pháp bằng ngôn ngữ đương đại để đáp ứng nhu cầu của mọi người trong thời đại chúng ta. Nhiều người ngày nay được thu hút vào thiền Phật giáo vì họ có thể thấy được lợi ích ngay lập tức và thoát khỏi gánh nặng mê tín.</p>



<p>Qua những chuyến viếng thăm các quốc gia ở châu Á, tôi có thể thấy rõ rằng nhiều người thế tục viếng chùa, thỉnh các nhà sư về nhà mình để thực hiện nghi lễ, và tham dự các hội nghị Phật giáo lớn để hưởng công đức; tuy nhiên chúng ta hiếm khi thấy ai thực hành thiền hoặc suy ngẫm về lời dạy chân chính của Đức Phật. Nếu vẫn cứ xu hướng này tiếp tục, ai biết tương lai sẽ ra sao đối với truyền thống lớn lao mà tất cả chúng ta đều yêu mến này.</p>



<p>Thế giới đang thay đổi với công nghệ số và khả năng tiếp cận thông tin vô song &#8211; kiến thức cũng sẽ thay đổi nhận thức của tập thể. Những gì mọi người muốn trong năm nay có thể không phải là những gì họ muốn vào năm sau. Ở phương Tây, các tôn giáo Do Thái &#8211; Cơ đốc giáo truyền thống đang tan rã nhanh chóng đến mức nhiều quốc gia châu Âu trở nên thế tục ở hầu hết mọi khía cạnh. Một xã hội thế tục không có tâm linh có thể đi kèm với nhiều vấn đề, chẳng hạn như thiếu quán sát nội tâm, thiếu từ bi, thiếu đồng cảm và vị tha. Đã đến lúc các nhà lãnh đạo Phật giáo phải suy nghĩ lại về cách chúng ta sẽ duy trì Phật pháp lạ thường này nhằm phục vụ cho hạnh phúc của nhân loại.</p>



<p>Anam Thubten Rinpoche</p>



<p>Cao Huy Hóa dịch (nguyên tác: “The Religion of the Future”, Buddhist Door Global, 21-7-2017)</p>



<p>Anam Thubten Rinpoche tu tập theo truyền thống Nyingma của Phật giáo Tây Tạng. Thầy là người sáng lập và cố vấn tinh thần của tổ chức Dharmata, với mục đích truyền bá và giảng dạy giáo pháp rộng rãi ở Mỹ và nhiều nước khác. Thầy cũng là tác giả của nhiều bài báo và sách bằng cả tiếng Tây Tạng và tiếng Anh.</p>
]]></content:encoded>
					
		
		
			</item>
		<item>
		<title>Hòa thượng Chủ tịch ICDV nhận định về Phật giáo Việt Nam sau Đại lễ Vesak Liên Hiệp Quốc 2025 tại TP.HCM</title>
		<link>https://phatgiaovinhphuc.vn/2025/09/24/hoa-thuong-chu-tich-icdv-nhan-dinh-ve-phat-giao-viet-nam-sau-dai-le-vesak-lien-hiep-quoc-2025-tai-tp-hcm/</link>
		
		<dc:creator><![CDATA[trast1]]></dc:creator>
		<pubDate>Wed, 24 Sep 2025 09:21:00 +0000</pubDate>
				<category><![CDATA[Tự viện]]></category>
		<category><![CDATA[Văn hóa]]></category>
		<guid isPermaLink="false">https://phatgiaovinhphuc.vn/?p=4187</guid>

					<description><![CDATA[Khi chúng ta chính thức khép lại Đại lễ Vesak Liên Hiệp Quốc lần thứ 20, được tổ chức thành công tốt đẹp tại thành phố Hồ Chí Minh, lòng tôi tràn đầy niềm tri ân sâu sắc trước sự hiện diện, trí tuệ và những đóng góp quý báu của quý vị đã làm [...]]]></description>
										<content:encoded><![CDATA[


<p>Khi chúng ta chính thức khép lại Đại lễ Vesak Liên Hiệp Quốc lần thứ 20, được tổ chức thành công tốt đẹp tại thành phố Hồ Chí Minh, lòng tôi tràn đầy niềm tri ân sâu sắc trước sự hiện diện, trí tuệ và những đóng góp quý báu của quý vị đã làm nên thành công cho sự kiện lịch sử này.</p>



<p>Trong ba ngày vừa qua (6 đến 8-5-2025), chúng ta đã cùng nhau quy tụ dưới chủ đề “Đoàn kết và bao dung vì nhân phẩm con người: Tuệ giác Phật giáo vì Hòa bình thế giới và Phát triển bền vững”. Những diễn đàn tại sự kiện này được khơi nguồn từ Chánh pháp, đã một lần nữa khẳng định giá trị vượt thời gian của giáo lý Đức Phật trong việc đối diện với những thách thức cấp bách của thời đại.<br>Hôm nay, với sự đồng thuận của các đại biểu đến từ 85 quốc gia và vùng lãnh thổ, đại diện cho nhiều truyền thống Phật giáo, các cộng đồng Tăng Ni, giới học giả và các tổ chức vì hòa bình, chúng ta đã thông qua Tuyên bố Thành phố Hồ Chí Minh &#8211; minh chứng cho cam kết chung đối với nhân phẩm, lãnh đạo đạo đức, công bằng xã hội và hòa bình bền vững.</p>



<p>Trong Tuyên bố này, chúng ta nguyện gìn giữ các giá trị đoàn kết và bao dung, đặt lòng từ bi và trí tuệ vào trọng tâm của sự phát triển bền vững; đồng thời khẳng định tầm quan trọng của đối thoại liên văn hóa, tôn giáo và việc vận dụng các nguyên tắc đạo đức Phật giáo vào tiến trình hoạch định chính sách ở mọi cấp độ.</p>



<p>Nhận thức rằng: An lạc nội tâm là nền tảng của hòa bình thế giới, do đó, chúng ta cổ vũ việc ứng dụng thực hành chánh niệm Phật giáo trong giải quyết xung đột và quản trị hiệu quả; ủng hộ việc thành lập các trung tâm Phật giáo chuyên về lãnh đạo đạo đức và kiến tạo hòa bình, và khuyến khích đưa chánh niệm vào tiến trình ra quyết định vì lợi ích lâu dài của tất cả chúng sinh.</p>



<p>Việt Nam một lần nữa khẳng định vai trò là trung tâm năng động của Phật giáo dấn thân xã hội, được biểu tượng một cách tuyệt đẹp qua hình ảnh hoa sen &#8211; loài hoa được xem là quốc hoa của Việt Nam. Sen mọc lên từ bùn, vượt khỏi mặt nước, không bị ô nhiễm bởi bùn đất bên dưới, vươn tới ánh mặt trời với vẻ đẹp thuần khiết.</p>



<p>Đại lễ năm nay đánh dấu thời khắc đặc biệt đối với nước chủ nhà. Chúng ta cùng nhau tôn vinh 50 năm Ngày thống nhất đất nước 30-4 (1975-2025) và 80 năm Quốc khánh nước Cộng hòa Xã hội chủ nghĩa Việt Nam 2-9 (1945-2025). Chúng tôi xin bày tỏ lòng biết ơn sâu sắc đến Chính phủ Việt Nam, Giáo hội Phật giáo Việt Nam và đặc biệt là Ủy ban Tổ chức Vesak Việt Nam vì sự hiếu khách và tầm nhìn khi đăng cai tổ chức sự kiện toàn cầu này.</p>



<p>Việt Nam một lần nữa khẳng định vai trò là trung tâm năng động của Phật giáo dấn thân xã hội, được biểu tượng một cách tuyệt đẹp qua hình ảnh hoa sen &#8211; loài hoa được xem là quốc hoa của Việt Nam. Sen mọc lên từ bùn, vượt khỏi mặt nước, không bị ô nhiễm bởi bùn đất bên dưới, vươn tới ánh mặt trời với vẻ đẹp thuần khiết. Hình ảnh này gợi nhắc đến lời Đức Phật:</p>



<p>“Cũng như hoa sen mọc từ bùn lầy mà không bị nhiễm bẩn, Đức Phật sống giữa thế gian mà không bị ô nhiễm bởi những điều thế tục”.</p>



<p>Cũng như vậy, người con Phật không quay lưng với cuộc đời. Với trái tim thanh tịnh đầy từ bi, họ nhập thế &#8211; giúp người khổ đau, nâng đỡ người thiếu thốn và hiện thân cho tinh thần trí tuệ trong hành động.<br>Giờ đây, chúng ta hãy mang tinh thần của hội nghị này vào thực tiễn đời sống hàng ngày. Hãy hiện thực hóa những nguyên tắc của Tuyên bố Thành phố Hồ Chí Minh, sẽ được thông qua trong cuối chương trình bế mạc; sử dụng ánh sáng của Chánh pháp để nuôi dưỡng hòa bình, công bằng và phát triển bền vững cho lợi ích của muôn loài.</p>



<p>Cầu mong Đại lễ Vesak Liên Hiệp Quốc 2025 được ghi nhớ như khoảnh khắc của niềm hy vọng được khơi dậy và quyết tâm tập thể được củng cố.</p>



<p>Cầu mong ánh sáng Tam bảo luôn soi chiếu quý vị. Hẹn gặp lại quý vị vào năm sau tại Trung Quốc.</p>



<p>Hòa thượng GS.TS Phra Brahmapundit</p>
]]></content:encoded>
					
		
		
			</item>
		<item>
		<title>Đại sứ Phạm Sanh Châu nhận định về bản sắc Phật giáo Việt Nam</title>
		<link>https://phatgiaovinhphuc.vn/2025/09/24/dai-su-pham-sanh-chau-nhan-dinh-ve-ban-sac-phat-giao-viet-nam/</link>
		
		<dc:creator><![CDATA[trast1]]></dc:creator>
		<pubDate>Wed, 24 Sep 2025 09:19:03 +0000</pubDate>
				<category><![CDATA[Tự viện]]></category>
		<guid isPermaLink="false">https://phatgiaovinhphuc.vn/?p=4184</guid>

					<description><![CDATA[Lời dẫn Kể từ khi ra đời hơn 25 thế kỷ trước, Phật giáo đã phát triển thành tôn giáo lớn thứ hai trên thế giới. Tôn giáo này liên tục thực hiện sứ mệnh của mình trong việc thúc đẩy niềm tin và tăng cường các mối quan hệ hợp tác toàn cầu. Tại [...]]]></description>
										<content:encoded><![CDATA[


<p>Lời dẫn</p>



<p>Kể từ khi ra đời hơn 25 thế kỷ trước, Phật giáo đã phát triển thành tôn giáo lớn thứ hai trên thế giới. Tôn giáo này liên tục thực hiện sứ mệnh của mình trong việc thúc đẩy niềm tin và tăng cường các mối quan hệ hợp tác toàn cầu. Tại Việt Nam, ảnh hưởng của Phật giáo trong suốt hai thiên niên kỷ qua đã thấm nhuần vào tư tưởng và hành động của người dân Việt, tạo nên những đặc điểm riêng biệt và đóng vai trò quan trọng trong việc hình thành bản sắc văn hóa dân tộc. Điều này thể hiện qua năm đặc điểm: (1) Phật giáo Việt Nam là một Phật giáo hòa nhập; (2) Phật giáo Việt Nam luôn nhấn mạnh hòa bình như một nguyên lý cơ bản; (3) Phật giáo Việt Nam mang tính học thuật và phát triển; (4) Phật giáo Việt Nam phát triển một trường phái riêng biệt của Việt Nam; (5) Phật giáo Trần Nhân Tông như một biểu tượng của tư tưởng ngoại giao, trở thành sức mạnh mềm của Việt Nam trong việc xây dựng các mối quan hệ hợp tác.<br>Phật giáo Việt Nam là Phật giáo hòa nhập</p>



<p>Khi vào Việt Nam và hòa nhập với văn hóa bản địa, Phật giáo đã khẳng định vai trò của mình trong việc nuôi dưỡng niềm tin thông qua những đóng góp tích cực vào đối thoại giữa các tôn giáo, được thể hiện qua khái niệm “Phật giáo hòa nhập”. Các ghi chép lịch sử cho thấy Phật giáo đã vào Việt Nam qua hai con đường: (1) Các con đường biển từ phía Nam; (2) Các con đường bộ từ phía Bắc, dẫn đến hai trường phái tư tưởng khác biệt. Hai trường phái này là Phật giáo Bắc truyền (Mahāyāna hay Đại thừa) và Phật giáo Nam truyền (Theravāda hay Thượng tọa bộ), mỗi trường phái có những đặc điểm riêng. Đặc biệt, Phật giáo Bắc truyền thể hiện tinh thần hòa nhập, được thể hiện qua mối liên hệ chặt chẽ với đời sống hàng ngày so với Phật giáo Nam truyền. Thay vì chỉ tập trung vào khổ hạnh, Phật giáo Bắc truyền nhằm giải thoát con người khỏi khổ đau và xây dựng một cuộc sống hòa bình, hạnh phúc. Tinh thần hòa nhập này được thể hiện qua những điểm nổi bật sau đây:</p>



<p>Thứ nhất, tinh thần nhân văn: Ưu tiên phúc lợi con người, tập trung vào con người thay vì chỉ biệt lập trong các tu viện hay rừng núi. Nhiều vị sư đã trở thành quốc sư, nhà giáo, thầy thuốc, thi sĩ và các nhà tư tưởng có ảnh hưởng, đóng góp vào sự phát triển của xã hội văn minh. Các chùa cũng là nơi tổ chức các hoạt động từ thiện, giúp đỡ người nghèo, người kém may mắn. Do đó, Phật giáo chú trọng đến giá trị đạo đức con người, dạy con người sống thiện lương, làm việc tốt, thể hiện lòng yêu thương, từ bi và giúp đỡ những người kém may mắn, nuôi dưỡng truyền thống nhân ái và đoàn kết của dân tộc Việt Nam.</p>



<p>Thứ hai, việc thực hành các giáo lý Phật giáo: Nhấn mạnh việc áp dụng các giáo lý Phật giáo vào đời sống văn hóa, thể hiện qua những phong tục và truyền thống gắn bó sâu sắc với bản sắc dân tộc như Lễ Vu lan, Tết Nguyên đán, và các lễ hội. Khéo léo kết hợp ba tông phái Thiền, Tịnh Độ và Mật tông trong thực hành, Thiền chú trọng vào việc tu tập tâm, Tịnh Độ tập trung vào sự thanh tịnh và Mật tông nhấn mạnh vào thực hành nghi lễ. Sự hòa nhập này đưa Phật giáo gần gũi với đời sống, đáp ứng những nhu cầu tâm linh đa dạng và góp phần vào sự đoàn kết, hạnh phúc của cộng đồng.</p>



<p>Thứ ba, ưu tiên tinh thần và lợi ích dân tộc: Luôn đồng hành cùng dân tộc qua những thăng trầm, góp phần vào việc hình thành bản sắc văn hóa Việt Nam. Nhiều vị sư đã trải qua khó khăn để phục vụ đất nước, tham gia vào các phong trào bảo vệ Tổ quốc, để lại dấu ấn trong lịch sử Việt Nam. Phật giáo dạy rằng “Pháp không tách rời đời sống”, và khi đối diện với những mối đe dọa và nghịch cảnh, hy sinh vì độc lập của dân tộc không phải là hành động hiếu chiến mà là sự hy sinh vì độc lập của đất nước, thể hiện lòng yêu nước sâu sắc.</p>



<p>Trong thời kỳ nhà Trần, Phật giáo thịnh vượng. Phật giáo trở thành quốc giáo và được coi là một trong những yếu tố quyết định tạo nên một thời kỳ nhà Trần nổi tiếng trong lịch sử Việt Nam – “một thời kỳ đỉnh cao văn hóa và võ thuật, với đời sống tâm linh sâu sắc”. Dưới sự lãnh đạo của Trần Nhân Tông, tinh thần hòa nhập của Phật giáo ở Việt Nam tiếp tục có những đóng góp tích cực vào hướng đi của hòa bình lâu dài. Việc Trần Nhân Tông xây dựng Yên Tử như là một trong những trung tâm Phật giáo của quốc gia, gắn liền với các công trình kiến trúc đặc sắc. Vị trí chiến lược của Yên Tử đã tạo điều kiện thuận lợi để xây dựng một “bức tường văn hóa” mạnh mẽ mang tên Thiền phái Trúc Lâm, thấm đẫm bản sắc dân tộc Việt Nam, đóng vai trò như một thành trì bảo vệ biên giới quốc gia.</p>



<p>Câu chuyện về “Trái tim bất diệt” mà Hòa thượng Thích Quảng Đức để lại đã trở thành biểu tượng khẳng định giá trị của “những nguyên lý sống hòa nhập”. Ngài tự thiêu để phản đối chiến tranh, bảo tồn Phật giáo. Sau khi đạt được hòa bình, Phật giáo Việt Nam đã tập hợp lại lực lượng, không chỉ thúc đẩy Phật giáo mà còn đóng góp đáng kể vào sự phát triển chung của đất nước.</p>



<p>Do đó, Phật giáo không chỉ đóng vai trò trong việc tu dưỡng tâm linh và giáo dục mà còn thể hiện rõ tinh thần hòa nhập, kế thừa và làm đẹp thêm truyền thống lịch sử vẻ vang của dân tộc.<br>Phật giáo Việt Nam luôn nhấn mạnh hòa bình là nguyên tắc cơ bản</p>



<p>Tôn giáo và hệ thống tín ngưỡng từ lâu đã gắn liền với các cấu trúc xã hội xuyên suốt lịch sử, nhằm hướng dẫn con người đến các giá trị của hòa bình. Tư tưởng này được coi là nền tảng cốt lõi của các mục tiêu phát triển bền vững.</p>



<p>Mặc dù gặp phải hai tôn giáo lớn đương đại, Ấn Độ giáo và Bà-la-môn giáo, Phật giáo vẫn kiên định giữ vững hòa bình bền vững như một nguyên tắc cơ bản trong các quan hệ đối tác thông qua việc nuôi dưỡng một tinh thần bất bạo động độc đáo. Đặc tính này được thể hiện rõ nhất qua chính sách ưu tiên hòa bình và khuyến khích hành động không bạo lực trong thời kỳ Lý &#8211; Trần ở Việt Nam, tiếp tục được củng cố và tích cực thúc đẩy. Xuất phát từ bản chất hòa bình này, Phật giáo Việt Nam thể hiện một mức độ bao dung cao, bao gồm sự khoan dung và hòa hợp mà không cần đồng hóa. Ảnh hưởng của giáo lý Phật giáo đối với nền văn hóa hòa bình đã thấm sâu vào bản sắc quốc gia suốt hơn 2.000 năm, hình thành nền tảng tư tưởng cho cả quản lý nội bộ và chính sách đối ngoại của Việt Nam, điển hình trong triều đại nhà Trần đặc biệt không có tư tưởng xâm lược.</p>



<p>Phật giáo Việt Nam thể hiện một mức độ bao dung cao, bao gồm sự khoan dung và hòa hợp mà không cần đồng hóa. Ảnh hưởng của giáo lý Phật giáo đối với nền văn hóa hòa bình đã thấm sâu vào bản sắc quốc gia suốt hơn 2.000 năm, hình thành nền tảng tư tưởng cho cả quản lý nội bộ và chính sách đối ngoại của Việt Nam, điển hình trong triều đại nhà Trần đặc biệt không có tư tưởng xâm lược.</p>



<p>Về mặt nội bộ, khi lên ngôi (1278) trong bối cảnh đe dọa xâm lược từ Đế quốc Mông &#8211; Nguyên (1285, 1288), Trần Nhân Tông đã thực hiện chính sách đoàn kết dân tộc, từ huyết thống đến các bộ lạc ngoài, từ triều đình trung ương đến các địa phương. Nguyên tắc “giữ gìn sức mạnh của nhân dân” và tinh thần dân chủ cơ sở được lan tỏa rộng rãi, thể hiện qua việc tổ chức hai hội nghị nổi tiếng: Diên Hồng và Bình Than. Theo nhiều nhà nghiên cứu, Trần Nhân Tông là một trong những vị vua “lấy dân làm gốc” nhất trong lịch sử chế độ quân chủ Việt Nam.</p>



<p>Về mặt đối ngoại, đối mặt với quân Nguyên, Trần Nhân Tông kiên quyết bảo vệ độc lập quốc gia đồng thời sử dụng chiến lược ngoại giao mềm mỏng, nhượng bộ để tránh hoặc ít nhất hoãn lại mối đe dọa chiến tranh, tạo thời gian chuẩn bị lực lượng quân sự. Với Champa, Đại Việt thực hiện chính sách hòa hợp, tạo đủ thiện chí để ổn định các vùng biên giới phía Tây và phía Nam, giải phóng sức lực để đối phó với mối đe dọa liên tục từ phía Bắc. Đại Việt sử ký ghi nhận: “Mùa hè năm 1306, vua Trần Anh Tông gả công chúa Huyền Trân, cho vua Chiêm Thành, Chế Mân, theo lời hứa của Thượng hoàng Trần Nhân Tông. Vua Chăm tặng 2 châu, Ô và Lý làm sính lễ, sau này được đổi tên thành Thuận Châu và Hóa Châu”, đánh dấu sự mở rộng về phía Nam của Việt Nam bằng các phương tiện hòa bình. Đây là một cuộc hôn nhân chính trị nhưng là một cuộc hôn nhân thực sự, hành động vì quốc gia và nhân dân.</p>



<p>Tư tưởng hòa bình của Phật giáo đã ảnh hưởng sâu sắc đến mối quan hệ đối tác trong các triều đại sau này và trở thành một trong những yếu tố đặc trưng của bản sắc quốc gia Việt Nam, lan tỏa từ Bắc vào Nam suốt chiều dài lịch sử.</p>



<p>Tuy nhiên, quan điểm của Đức Phật về hòa bình chưa bao giờ là một món quà từ trên trời rơi xuống; đó là kết quả của ý chí kiên định, một cuộc đấu tranh dũng cảm qua tự học và tự kỷ luật. Các giáo lý của Đức Phật luôn thúc đẩy năm vấn đề cơ bản trong giáo dục hòa bình bền vững và các giá trị nhân văn: (1) Đấu tranh và hòa giải; (2) Thù hận và lòng từ bi; (3) Tổn hại và không tổn hại; (4) Hận thù và tình bạn; (5) Giết chóc và tôn trọng sự sống. Bên cạnh đó, Phật giáo luôn duy trì một trạng thái hòa hợp, nuôi dưỡng tình bạn, hòa bình và sự tỉnh thức để thoát khỏi xung đột và bất đồng, không chỉ ở quy mô nhỏ giữa các cá nhân mà còn mở rộng ra các quốc gia, khu vực và toàn cầu.<br>Phật giáo Việt Nam: Học thuật và phát triển</p>



<p>Thông qua sự thích nghi và phát triển liên tục, Phật giáo đã bảo tồn được hệ thống triết học sâu sắc của mình, đặc trưng bởi tính nghiêm ngặt học thuật và phương pháp khoa học, tạo ra sức thuyết phục cho việc xây dựng đức tin và các quan hệ đối tác.</p>



<p>Trong bối cảnh Đông Á nói chung, và Việt Nam nói riêng, chúng ta không thể phủ nhận những ảnh hưởng sâu sắc từ văn hóa Trung Quốc và Ấn Độ. Dựa trên nền văn hóa nông nghiệp bản địa, Phật giáo, Nho giáo và Đạo giáo đã được chuyển hóa linh hoạt để phù hợp với bối cảnh văn hóa Việt Nam. Để khẳng định vị trí của mình trong đời sống tinh thần của người dân Việt Nam, ba tôn giáo này có con đường riêng với các hình thức khác nhau, dần hình thành biểu hiện hòa hợp “Tam giáo, nhất lý”, một nét đặc trưng của văn hóa Đại Việt trong thời kỳ Lý &#8211; Trần, đặc biệt dưới triều đại nhà Trần.</p>



<p>Tất nhiên, “Tam giáo, nhất lý” không phải là đặc trưng riêng của Việt Nam; nó cũng xuất hiện ở nhiều quốc gia Đông Á như Trung Quốc, Nhật Bản và Hàn Quốc. Tuy nhiên, ở Việt Nam, nó có những đặc điểm và cách giải thích độc đáo. Với tư duy tổng hợp và phong cách linh hoạt của văn hóa nông nghiệp Việt Nam, nó đã xác định được một thái độ bao dung trong việc chấp nhận linh hoạt và hành vi thanh nhã đặc trưng. Tinh thần “Tam giáo” hội tụ, “sống hòa bình” giữa văn hóa bản địa của người dân và Phật giáo, Nho giáo, Đạo giáo, làm cho mô hình của Việt Nam ít cứng nhắc hơn so với các quốc gia khác, đặc biệt là so với Trung Quốc.</p>



<p>Thông qua hệ thống kinh điển, giáo lý của Phật giáo Việt Nam thể hiện sự hội tụ của tư tưởng Nho giáo và Đạo giáo, không chỉ giúp Phật giáo Việt Nam duy trì một hệ thống triết học sâu sắc mà còn phát triển nó thành một hình thức giáo lý.</p>



<p>Về Đạo giáo, Phật giáo tiếp nhận các tư tưởng về sự tinh khiết, hư vô và tự tu luyện qua lối sống ẩn dật nơi núi rừng. Lối sống hòa hợp với thiên nhiên của người Việt có lẽ gần với phong cách của Trang Tử, trong khi học thuyết “hư vô” của Lão Tử lại phù hợp với khát vọng của những bậc trí giả. Đạo giáo vốn dĩ gần gũi với tín ngưỡng truyền thống, nên khi du nhập vào Việt Nam, nó thường được pha trộn đến mức mà sự tồn tại của nó không phải lúc nào cũng được nhận diện rõ ràng. Trong quá trình tồn tại và phát triển, người Việt cũng tiếp nhận các biến thể của Đạo giáo thể hiện qua việc thờ phụng các nhân vật Việt Nam như Tứ pháp (gồm: Vân, Vũ, Lôi, Điện); cấu trúc các ngôi đền theo kiểu “trước Phật, sau Thánh”. Điều này khiến Phật giáo trở nên sâu sắc, huyền bí và hấp dẫn đối với những ai tìm kiếm cứu rỗi tâm linh.</p>



<p>Về Nho giáo, Phật giáo tiếp nhận các giá trị đạo đức như Tam cương ngũ thường (dành cho nam giới); Tam tòng tứ đức (dành cho nữ giới). Các triều đại Lý &#8211; Trần ở Việt Nam cũng áp dụng các yếu tố hợp lý của Nho giáo, chủ yếu để phục vụ cho việc xây dựng và củng cố hệ thống chính trị của triều đình và tổ chức xã hội. Kết hợp hai yếu tố này, Phật giáo dựa trên tư tưởng Nho giáo đã dạy cho truyền thống Việt Nam đề cao làng xã và đất nước, tinh thần dân chủ, v.v. Điều này khiến Phật giáo gần gũi hơn với người Việt, dễ dàng được chấp nhận và đồng hóa. Thêm vào đó, nhờ ảnh hưởng của Phật giáo từ Trung Quốc, dần dần thay thế sự truyền thụ trực tiếp từ Ấn Độ, các vị Tăng Việt Nam đã rất thành thạo trong Nho giáo và chữ Hán. Nhiều trường hợp tranh biện khéo léo và kiến thức sâu rộng của các vị Tăng Việt Nam đã gây ấn tượng với các sứ thần Trung Quốc, tạo nền tảng cho quan hệ ngoại giao hữu nghị.</p>



<p>Từ quan điểm của Phật giáo Việt Nam, có thể nhận thấy rằng “Tam giáo, nhất lý” có vẻ khác biệt, nhưng khi xem xét kỹ, chúng thường chỉ là những biểu hiện khác nhau của cùng một khái niệm. Những khác biệt này không mâu thuẫn với nhau mà bổ sung và hỗ trợ cho nhau: Nho giáo tổ chức xã hội theo trật tự; Đạo giáo chăm sóc sức khỏe thể chất của cá nhân; Phật giáo chăm sóc sự giải thoát tâm linh của cá nhân. Từ đó, Phật giáo Việt Nam đã tạo ra sức thuyết phục để xây dựng đức tin và các quan hệ đối tác chiến lược, cuối cùng nhằm phục vụ nhân loại, lợi ích của quốc gia và dân tộc, không thể tách rời khỏi đời sống.<br>Phật giáo Việt Nam phát triển thành một tông phái thuần Việt</p>



<p>Phật giáo Việt Nam, với những ảnh hưởng sâu sắc, lấy hòa bình làm nguyên lý chỉ đạo và sở hữu một trình độ học thuật cao, ngày càng khẳng định vai trò và sức sống của mình, đặc biệt thông qua sự ra đời của tông phái Thiền Trúc Lâm Yên Tử.</p>



<p>Điểm đặc biệt của tông phái Thiền Trúc Lâm Yên Tử, do vua Trần Nhân Tông (1258-1308) sáng lập, vị Tổ đầu tiên (còn gọi là Phật giáo Trúc Lâm), nằm ở việc thống nhất ba dòng Thiền: Tỳ Ni Đa Lưu Chi do Thiền sư Tỳ Ni Đa Lưu Chi (?-594) từ Nam Ấn Độ sáng lập; Vô Ngôn Thông do Thiền sư Vô Ngôn Thông (759?-826), một vị sư người Trung Quốc trong triều đại Đường, sáng lập; và Thảo Đường do Thiền sư Thảo Đường (980-1030), một vị sư Trung Quốc thuộc trường phái Luật tông, sáng lập. Tiếp theo vua Trần Nhân Tông là Pháp Loa và sau đó là Huyền Quang.</p>



<p>Sự xuất hiện của tông phái Thiền Trúc Lâm đánh dấu sự kết thúc của thời kỳ các tông phái Phật giáo Việt Nam do người ngoại quốc sáng lập, thể hiện sự chuyển tiếp trong quá trình địa phương hóa Phật giáo. Nói cách khác, Phật giáo trong giai đoạn này không còn là Phật giáo Ấn Độ hay Phật giáo Trung Quốc ở Việt Nam; lần đầu tiên trong lịch sử Phật giáo Việt Nam, nó trở thành một Phật giáo thống nhất, hòa hợp, lan tỏa khắp đất nước.</p>



<p>Chỉ có qua sự đoàn kết và hòa hợp tôn giáo, một nền tảng vững chắc mới có thể được xây dựng cho sự phát triển của con đường dẫn đến đức tin kiên định, thấm đẫm tinh thần Đại Việt. Phật giáo Trúc Lâm chủ trương “gắn bó với thế giới trần tục trong khi tu hành”, “hòa hợp giác ngộ với đời sống trần thế”, và đồng hành cùng dân tộc.</p>



<p>Sự xuất hiện của tông phái Thiền Trúc Lâm đánh dấu sự kết thúc của thời kỳ các tông phái Phật giáo Việt Nam do người ngoại quốc sáng lập, thể hiện sự chuyển tiếp trong quá trình địa phương hóa Phật giáo. Nói cách khác, Phật giáo trong giai đoạn này không còn là Phật giáo Ấn Độ hay Phật giáo Trung Quốc ở Việt Nam; lần đầu tiên trong lịch sử Phật giáo Việt Nam, nó trở thành một Phật giáo thống nhất, hòa hợp, lan tỏa khắp đất nước.</p>



<p>Về mặt thực hành, Phật giáo Trúc Lâm nhấn mạnh việc tu dưỡng đạo đức và tinh thần “tâm sáng suốt, điều kiện công bằng”, với mọi người cùng nhau nỗ lực tu hành vì lợi ích của bản thân và xã hội.</p>



<p>Về mặt ngoại giao, quan điểm bảo vệ chủ quyền quốc gia và mở rộng biên giới triều Trần thông qua việc thiết lập các quan hệ đối tác bằng phương tiện hòa bình là đặc trưng của Phật giáo Trúc Lâm.</p>



<p>Sự thành công không chỉ của triều đại Trần mà còn của các triều đại sau này là nhờ các vị vua kế thừa và vận dụng tinh hoa của truyền thống hòa hợp này để huy động sức mạnh của sự đoàn kết dân tộc. Sức mạnh của quốc gia chủ yếu nằm ở lòng yêu nước của nhân dân trong việc xây dựng Đại Việt trở thành một quốc gia mạnh mẽ nhưng không bạo lực. Vai trò của các thiền sư trong quốc phòng và phúc lợi của người dân là vô cùng to lớn.</p>



<p>Là một truyền thống Phật giáo chính thống trong triều đại nhà Trần, những tư tưởng cao quý và giá trị của Phật giáo Trúc Lâm đã trở thành “dòng suối nguồn”, những giá trị cốt lõi của con người trong xã hội nói chung, được kế thừa và tiếp nối trong các giai đoạn lịch sử sau này.</p>



<p>Phật giáo Trần Nhân Tông là biểu tượng của tư tưởng ngoại giao và trở thành sức mạnh mềm của Việt Nam trong xây dựng quan hệ đối tác</p>



<p>Phật giáo Trần Nhân Tông đứng vững như một biểu tượng của tư tưởng ngoại giao và đã trở thành một sức mạnh mềm của Việt Nam trong việc xây dựng quan hệ đối tác. Điều này thể hiện qua nhiều khía cạnh:</p>



<p>Thứ nhất, giá trị văn hóa: Dòng Thiền thống nhất đã ảnh hưởng mạnh mẽ đến đời sống xã hội trong triều đại nhà Trần và tạo ra một yếu tố văn hóa mới ở Việt Nam.</p>



<p>Thứ hai, nhận thức chính trị: Chủ trương mở cửa, tự do và khoan dung nhất quán, các nhà lãnh đạo quốc gia – bao gồm các vị lãnh đạo tôn giáo – không biến Phật giáo thành tôn giáo thống trị mà khuyến khích sự đồng tồn tại của Phật giáo với các tôn giáo khác, thúc đẩy tinh thần khoan dung tôn giáo.</p>



<p>Thứ ba, góc nhìn đối tác: “Con đường không phân biệt ai cả”. Trong thời kỳ khủng hoảng quốc gia, các thiền sư đã kêu gọi nhân dân bảo vệ đất nước, nhấn mạnh việc phục vụ nhân loại trong thời gian hòa bình, điều này rất quan trọng trong việc tu dưỡng tâm linh.</p>



<p>Tông phái Thiền Trúc Lâm, được sáng lập bởi Trần Nhân Tông, đã thu hút một lượng lớn tín đồ Phật giáo trên toàn quốc, dẫn dắt họ đi theo con đường chính đạo và góp phần vào việc truyền bá Phật giáo. Thông qua các hoạt động của mình, tông phái Thiền Trúc Lâm đã có ảnh hưởng sâu rộng đến lịch sử của đất nước và Phật giáo Việt Nam, được tiếp nối cho đến nay.</p>



<p>Trong thời kỳ khủng hoảng quốc gia, các thiền sư đã kêu gọi nhân dân bảo vệ đất nước, nhấn mạnh việc phục vụ nhân loại trong thời gian hòa bình, điều này rất quan trọng trong việc tu dưỡng tâm linh. Tông phái Thiền Trúc Lâm, được sáng lập bởi Trần Nhân Tông, đã thu hút một lượng lớn tín đồ Phật giáo trên toàn quốc, dẫn dắt họ đi theo con đường chính đạo và góp phần vào việc truyền bá Phật giáo. Thông qua các hoạt động của mình, tông phái Thiền Trúc Lâm đã có ảnh hưởng sâu rộng đến lịch sử của đất nước và Phật giáo Việt Nam, được tiếp nối cho đến nay.</p>



<p>Hơn nữa, Thiền sư Thích Nhất Hạnh, là người đóng góp lớn nhất vào ảnh hưởng toàn cầu của Phật giáo Việt Nam. Ngài là hiện thân của tinh thần dân tộc qua thuật ngữ “con đường Phật giáo”. Thích Nhất Hạnh đã dành cả đời mình để thúc đẩy những giá trị tư tưởng đặc sắc của Trần Nhân Tông, một nhà chính trị tài năng và một nhà tư tưởng văn hóa vĩ đại.</p>



<p>Tư tưởng ngoại giao của Trần Nhân Tông, cả trong nước và ngoài nước, là sự kết hợp hoàn hảo giữa sự kiên định và linh hoạt, theo công thức “dĩ bất biến ứng vạn biến”. Tư tưởng này phù hợp với một quốc gia nhỏ bé và dễ bị tổn thương như Đại Việt, khẳng định uy tín và sức sống của tư tưởng ngoại giao Trần Nhân Tông và triều đại nhà Trần lúc bấy giờ.</p>



<p>Ngoài ra, Trần Nhân Tông còn chủ trương mở rộng các hoạt động truyền bá giáo lý khắp đất nước, dạy dân tu học Thập thiện, và xóa bỏ những điều xấu xa. Điều này đã tạo nền tảng vững chắc cho việc xây dựng lòng tin giữa nhân dân và thiết lập các quan hệ đối tác thực sự có lợi. Nhờ đó, Trần Nhân Tông đã trở thành một vị vua Phật giáo của tông phái Phật giáo thuần Việt &#8211; tông phái Thiền Trúc Lâm Yên Tử.</p>



<p>Tóm lại, Phật giáo Việt Nam không chỉ là nơi lưu giữ đức tin hay là nơi trú ẩn sức mạnh tinh thần trong đời sống. Nó đã được chuyển hóa và phát triển mạnh mẽ hơn nữa. Những tư tưởng tiến bộ của Trần Nhân Tông, người sáng lập tông phái Thiền Trúc Lâm ở Việt Nam, và Phật giáo nói chung, đã tạo ra một nguồn sức mạnh mềm thúc đẩy con đường đến với đức tin và xây dựng quan hệ đối tác.</p>



<p>Hơn nữa, tinh thần hòa hợp “Tam giáo đồng nguyên” mở ra những hướng nghiên cứu mới cho một nền văn hóa bản địa độc đáo của Việt Nam (bao gồm Phật giáo, thờ Mẫu và thờ Tổ tiên) phát sinh từ sự thống nhất của các tín ngưỡng tôn giáo đa dạng.</p>



<ul class="wp-block-list">
<li>Tựa của Giác Ngộ</li>
</ul>



<p>Đại sứ Phạm Sanh Châu</p>
]]></content:encoded>
					
		
		
			</item>
		<item>
		<title>Thông bạch Đại lễ Vu lan &#8211; Báo hiếu Phật lịch 2569 &#8211; Dương lịch 2025</title>
		<link>https://phatgiaovinhphuc.vn/2025/09/06/thong-bach-dai-le-vu-lan-bao-hieu-phat-lich-2569-duong-lich-2025/</link>
		
		<dc:creator><![CDATA[trast1]]></dc:creator>
		<pubDate>Sat, 06 Sep 2025 08:40:17 +0000</pubDate>
				<category><![CDATA[Tin tức]]></category>
		<category><![CDATA[Tự viện]]></category>
		<guid isPermaLink="false">https://phatgiaovinhphuc.vn/?p=4088</guid>

					<description><![CDATA[GNO &#8211; Hôm nay, 15-8, Trưởng lão Hòa thượng Thích Thiện Nhơn, Phó Pháp chủ Hội đồng Chứng minh, Chủ tịch Hội đồng Trị sự GHPGVN ban hành Thông bạch số 374/TB-HĐTS gởi đến các Ban, Viện T.Ư; Ban Trị sự GHPGVN các tỉnh, thành phố; Tăng Ni, Phật tử các chùa, cơ sở tự [...]]]></description>
										<content:encoded><![CDATA[


<p>GNO &#8211; Hôm nay, 15-8, Trưởng lão Hòa thượng Thích Thiện Nhơn, Phó Pháp chủ Hội đồng Chứng minh, Chủ tịch Hội đồng Trị sự GHPGVN ban hành Thông bạch số 374/TB-HĐTS gởi đến các Ban, Viện T.Ư; Ban Trị sự GHPGVN các tỉnh, thành phố; Tăng Ni, Phật tử các chùa, cơ sở tự viện về Đại lễ Vu lan &#8211; Báo hiếu.<br><br>Theo đó, Lễ hội Vu lan của Đạo Phật từ lâu đã hòa quyện với triết lý, truyền thống văn hóa hiếu nghĩa, uống nước nhớ nguồn của dân tộc và tục thờ cúng ngày rằm tháng Bảy âm lịch hình thành mùa Lễ hội Vu lan &#8211; Báo hiếu. Đây là thời gian để mỗi người thực hành và khắc sâu hạnh nguyện báo hiếu với cha mẹ, ông bà và những người thân yêu, đồng thời cũng là thời gian tưởng nhớ, tri ân tổ tiên, anh hùng dân tộc, anh hùng liệt sĩ, cửu huyền thất tổ của người Việt Nam.</p>



<p>Mùa Vu lan &#8211; Báo hiếu 2025 diễn ra đúng vào dịp Tết Độc lập; thời gian cả nước trọng thể Kỷ niệm 80 năm ngày Quốc khánh 2-9, để tổ chức trang nghiêm Đại lễ Vu lan &#8211; Báo hiếu Phật lịch 2569 &#8211; Dương lịch 2025, phục vụ nhu cầu tâm linh, tín ngưỡng cho đồng bào Phật tử và nhân dân, Ban Thường trực Hội đồng Trị sự đề nghị Ban, Viện T.Ư, Ban Trị sự GHPGVN các tỉnh, thành phố; các chùa, cơ sở tự viện; Tăng Ni, tín đồ, cư sĩ Phật tử thực hiện tốt các nội dung như sau:</p>



<p>Đại lễ Vu lan &#8211; Báo hiếu tổ chức các ngày trong tháng Bảy âm lịch năm Ất Tỵ, chính lễ vào ngày rằm tháng Bảy năm Ất Tỵ (6-9-2025).</p>



<p>Tổ chức Đại lễ Vu lan &#8211; Báo hiếu tại các cơ sở tự viện của GHPGVN; tưởng niệm, tri ân, cầu siêu anh linh anh hùng liệt sĩ tại các nghĩa trang liệt sĩ; các địa điểm văn hóa, nơi sinh hoạt cộng đồng khi được sự chấp thuận của chính quyền các cấp.</p>



<p>Giáo hội đề nghị Tăng Ni tích cực tham gia các hoạt động “đền ơn đáp nghĩa”, thăm và tặng quà đối tượng người có công với đất nước, Mẹ Việt Nam anh hùng, các thương bệnh binh, gia đình liệt sĩ trên địa bàn; tổ chức đại lễ cầu siêu, thắp nến tưởng niệm, tri ân các anh hùng liệt sĩ; tụng kinh Vu lan, kinh Báo hiếu phụ mẫu, Mục Liên sám pháp, kinh A Di Đà… cầu siêu tiến anh linh anh hùng liệt sĩ, cửu huyền thất tổ; thuyết giảng ý nghĩa Vu lan &#8211; Báo hiếu; nghi thức Bông hồng cài áo tri ân công đức sinh thành của cha mẹ; chương trình nghệ thuật công cha nghĩa mẹ.</p>



<p>Trung ương Giáo hội yêu cầu Ban Trị sự GHPGVN tỉnh, thành phố có kế hoạch hướng dẫn, giúp đỡ các cơ sở tự viện trong công tác tổ chức Đại lễ Vu lan &#8211; Báo hiếu. Các chùa, cơ sở tự viện đều treo cờ Tổ quốc trong ngày Tết Độc lập và Vu lan &#8211; Báo hiếu năm nay.</p>



<p>Ban Tổ chức Lễ Vu lan &#8211; Báo hiếu đăng ký chương trình, nhân sự thuyết giảng với Ban Trị sự địa phương để nhận được sự giúp đỡ tổ chức.</p>



<p>Ban Hoằng pháp T.Ư chủ động hỗ trợ nhân sự giảng sư thuyết giảng và chủ đề Vu lan &#8211; Báo hiếu Phật lịch 2569.</p>



<p>Thông bạch cũng lưu ý trong khâu tổ chức đảm bảo trang nghiêm, tiết kiệm; không để xảy ra các hình thức dịch vụ và các nghi lễ không phù hợp với chính pháp, nghi lễ truyền thống; thực hiện tốt công tác phòng cháy chữa cháy; kính đề nghị Ban, Viện T.Ư, Ban Trị sự GHPGVN các tỉnh, thành phố triển khai, quán triệt nội dung thông bạch này đến các cơ sở tự viện và toàn thể Tăng Ni, Phật tử thực hiện trang nghiêm.</p>



<p>H.Diệu/Báo Giác Ngộ</p>
]]></content:encoded>
					
		
		
			</item>
		<item>
		<title>Bản chất công đức</title>
		<link>https://phatgiaovinhphuc.vn/2025/06/05/ban-chat-cong-duc/</link>
		
		<dc:creator><![CDATA[trast1]]></dc:creator>
		<pubDate>Thu, 05 Jun 2025 03:56:57 +0000</pubDate>
				<category><![CDATA[Phật học vấn đáp]]></category>
		<category><![CDATA[Tự viện]]></category>
		<guid isPermaLink="false">https://phatgiaovinhphuc.vn/?p=3674</guid>

					<description><![CDATA[NSGN &#8211; Công đức là ý hướng phát sinh trong tâm bạn, bắt đầu từ ý nghĩ đầu tiên khi bạn muốn làm điều gì đó tốt đẹp. Ví dụ bạn quyết định đi chùa ngày hôm nay. Chính ý nghĩ đó là công đức phát khởi trong tâm. Rồi bạn đến chùa, thọ giới [...]]]></description>
										<content:encoded><![CDATA[


<p>NSGN &#8211; Công đức là ý hướng phát sinh trong tâm bạn, bắt đầu từ ý nghĩ đầu tiên khi bạn muốn làm điều gì đó tốt đẹp. Ví dụ bạn quyết định đi chùa ngày hôm nay. Chính ý nghĩ đó là công đức phát khởi trong tâm.<br><br>Rồi bạn đến chùa, thọ giới và nghe thuyết pháp theo ý nguyện ban đầu của mình. Như thế, ý nguyện ban đầu của bạn đã thành công trong việc tạo ra nhiều công đức hơn mục tiêu đã định. Tuy nhiên, nếu ban đầu bạn muốn đến chùa để thọ giới và nghe pháp, nhưng ai đó cản trở hoặc chỉ trích, khiến bạn không còn hứng thú, thì công đức trong tâm bạn &#8211; ý hướng ban đầu &#8211; biến mất. Sau đó, dù có ai mời bạn đi chùa, bạn sẽ miễn cưỡng đi, rồi ngồi như tảng đá, thì không có công đức gì phát sinh trong tâm. Đó là vì bản chất công đức trong tâm bạn đã không còn.</p>



<p>Những điều thiện lành mà bạn làm không phải là bản chất của công đức. Ví dụ, cúng dường, giữ giới, nghe thuyết pháp, hoặc ngồi thiền không phải là bản chất của công đức. Tuy nhiên, chúng ta phải tiếp tục làm những điều này để công đức trước đây của chúng ta có thể phát triển thêm, thay vì tàn lụi. Vì lý do này, khi bạn quyết tâm làm điều tốt, hãy nhanh chóng thực hiện nó. Khi bạn muốn cúng dường, hãy cúng dường. Khi bạn muốn giữ giới, hãy tuân giữ giới luật. Khi bạn muốn nghe pháp, hãy lắng nghe pháp. Khi bạn muốn hành thiền, hãy thiền. Được thế, kết quả hành động của bạn sẽ phát triển mỹ mãn, trọn vẹn, trong cả ba khoảng thời gian. Nói cách khác, tâm trí của bạn sẽ cảm thấy hạnh phúc, vui vẻ và hài lòng về công đức của mình khi đầu tiên bạn nghĩ đến việc làm điều thiện, trong khi bạn đang làm điều thiện và sau khi bạn hoàn thành việc thiện…</p>



<p>Nếu bạn cẩn thận giữ bản chất của công đức trong tâm, thì hãy tiếp tục làm bất cứ điều thiện lành nào bạn muốn. Đừng đến chùa đằng sau xác chết công đức của bạn. Nói cách khác, nếu ban đầu bạn muốn đến chùa nhưng người khác chỉ trích, khiến bạn đến đây với tâm trạng bất ổn, trái với ý muốn ban đầu của bạn, thì loại công đức này không giúp ích gì nhiều cho bạn.</p>



<p>Ý định làm điều tốt &#8211; giai đoạn đầu trong việc làm thiện &#8211; là bản chất của công đức. Giống như khi ta trồng cây. Khi bạn cúng dường, giống như bón phân xung quanh cây. Khi bạn giữ giới, giống như bắt sâu không cho ăn hoa lá. Khi bạn hành thiền, giống như tưới cây bằng nước mát, sạch trong. Như thế, cây của bạn chắc chắn sẽ tiếp tục phát triển cho đến khi nó ra hoa, ra quả mà bạn có thể thưởng thức đúng theo mục tiêu ban đầu của bạn. Nếu đó là cây hoa, những bông hoa sẽ đầy màu sắc rực rỡ, và mùi hương thơm ngát. Nếu đó là cây ăn quả, cây sẽ sai quả, trái to và ngọt. Như thế, sự bố thí, trì giới và thiền định là những phương tiện để phát triển công đức từ ý nghĩ ban đầu của bạn.</p>



<p>Nhưng nếu bạn đang ở trong tâm trạng bất mãn, thì bạn sẽ không nhận được nhiều kết quả từ việc tạo công đức hoặc cúng dường. Giống như khi ta cung cấp phân bón cho cây đã chết. Ngay cả khi bạn chỉ muốn một quả duy nhất từ cây đó, bạn cũng sẽ không thể có được điều bạn muốn, vì phân bạn bón cho cây chỉ nuôi dưỡng cỏ dại mọc dưới chân cây, chứ không ảnh hưởng gì đến thứ quả bạn mong muốn. Tương tự, nếu bạn chỉ lướt qua các giai đoạn tạo công đức, mục tiêu ban đầu của bạn &#8211; từ bỏ tham, sân và si &#8211; sẽ không mang lại kết quả gì. Hành động bố thí chỉ đơn giản là phân bón cho công đức. Khi bản chất của công đức đã chết, nó không thể nào hấp thụ phân bón, vì nó không có gì ngoài sự bẩn thỉu &#8211; phân bò và phân gà. Làm thế nào bạn có thể mong những thứ bẩn thỉu như thế đến để giúp bạn bằng bất kỳ cách nào? Tuy nhiên, bạn vẫn tốt hơn những người không bón phân cho bất cứ thứ gì &#8211; tức là những người chưa phát triển giới, định hoặc trí tuệ &#8211; vì ít nhất bạn có thể thu gom các loại rau và thảo mộc đã hấp thụ phân bón của bạn, để nấu súp hoặc trộn xà-lách.</p>



<p>Vì vậy, mỗi khi bạn làm điều gì, hãy kiểm tra xem liệu bản chất của công đức có ở trong tâm bạn hay không. Một số người làm công đức nhưng lòng họ xấu xa. Họ giống như một loại gạo nếp nướng trong ống tre, cơm ở phía trên chín mềm, nhưng cơm ở phía dưới thì sống hoặc cháy. Trong trường hợp này, không có cách nào bạn có cơm ăn, vì nó sai trong suốt quá trình. Nói chung, con người hành động theo những cách không phù hợp với tâm của họ. Có người cúng dường nhưng tâm họ vẫn tham lam, họ bố thí với ước mong được trở thành triệu phú. Có người cho ra một đô-la nhưng mong muốn nhận lại mười nghìn hoặc một trăm nghìn. Lại có người giữ giới nhưng lòng họ vẫn còn giận dữ, ganh tỵ hoặc thù hận người này hay người kia. Một số người hành thiền để họ có thể xinh đẹp khi tái sinh, hoặc vì họ muốn trở thành chư thiên trên thiên giới. Số khác muốn trở thành thế này hay thế kia &#8211; họ luôn tìm kiếm thứ gì đó để đổi lại. Loại công đức này không tốt.</p>



<p>Đức Phật dạy chúng ta phải bố thí để loại bỏ tánh tham, phải giữ giới luật để loại bỏ sân hận, và thiền định để loại bỏ ảo tưởng, chứ không phải vì mục đích nuôi dưỡng những ô nhiễm này. Có người đến đây để thiền định trong sự tĩnh lặng hoàn toàn &#8211; mắt họ nhắm nghiền, lưng thẳng, bất động, mọi thứ ở bên ngoài bình thường &#8211; nhưng tâm trí của họ đang chạy khắp nơi: đến vườn cây ăn quả, vườn nhà của họ; một số người còn phóng tâm ra nước ngoài để tìm kiếm con cái hoặc bạn bè, suy nghĩ về tất cả mọi thứ. Tâm họ không ngồi cùng với thân. Điều này được gọi là tâm và thân không phù hợp với nhau &#8211; giống như xôi nếp được nấu chín trên bề mặt, nhưng dưới đáy vẫn còn sống.</p>



<p>Nếu bạn cẩn thận giữ bản chất của công đức trong tâm, thì hãy tiếp tục làm bất cứ điều thiện lành nào bạn muốn. Đừng đến chùa đằng sau xác chết công đức của bạn. Nói cách khác, nếu ban đầu bạn muốn đến chùa nhưng người khác chỉ trích, khiến bạn đến đây với tâm trạng bất ổn, trái với ý muốn ban đầu của bạn, thì loại công đức này không giúp ích gì nhiều cho bạn.</p>



<p>Lý do chúng ta cần rèn luyện tâm trí vững chắc và mạnh mẽ trong giáo pháp là vì chúng ta chắc chắn sẽ đối mặt với ba mối nguy hiểm của thế gian: (1) đau khổ, bệnh tật và nghèo đói; (2) tử vong; và (3) kẻ thù và bạn xấu. Chúng ta phải tự chuẩn bị để khi bất cứ điều nào trong số những điều này xảy đến với chúng ta, thì tâm ta sẽ đủ mạnh để chiến đấu với chúng một cách dũng cảm kiên cường. Bất kể chúng tấn công từ phía nào, ta luôn có chiến lược để chống lại bằng mọi cách. Đây là lý do tại sao kinh tụng hàng ngày nói, “Icchitam patthitam tumham khippameva samijjhatu”, có nghĩa là, “Bất cứ điều gì ta muốn và mong ước, có thể nhanh chóng thành công”. Nói cách khác, khi tâm trí mạnh mẽ, đầy năng lực, bất cứ điều gì bạn muốn làm đều nhất định sẽ thành công.</p>



<p>Nếu bạn để những ý nghĩ công đức ban đầu của bạn chết hoặc biến mất khỏi tâm trước khi bạn cúng dường, tuân giữ giới luật hoặc thiền định, kết quả của ý định ban đầu sẽ không phát triển, nhưng ít nhất bạn tốt hơn những người không nghĩ đến chút nào. Ý nghĩ ban đầu về công đức giống như trồng cây. Nếu cây của bạn không chết, thì bạn càng bón phân, nó sẽ càng phát triển lớn hơn và sẽ càng phân nhánh. Nói cách khác, hành động của bạn sẽ đáng quý và bình an. Bất cứ thứ gì bàn tay bạn chạm vào cũng là công đức. Bất cứ nơi nào bước chân bạn đặt đến sẽ là công đức. Bất cứ điều gì miệng bạn nói sẽ là công đức. Bất cứ điều gì tâm trí của bạn nghĩ tới sẽ là công đức. Toàn bộ thân hành của bạn sẽ là công đức. Trong trường hợp này, bạn sẽ luôn được hạnh phúc.</p>



<p>Giới, về mặt từ ngữ, bao gồm việc thực hiện năm, tám, mười hoặc 227 giới. Về ý nghĩa, nó bao gồm suy nghĩ, nói năng và hành động theo những cách không gây hại cho ai. Khi bạn suy nghĩ, bạn làm điều đó với một tâm đầy thiện chí. Khi nói, bạn làm điều đó với một tâm thiện chí. Khi hành động, bạn làm điều đó với một tâm thiện chí. Xét về hương vị, giới là sự mát mẻ. Vì lý do này, hành động thực hiện giới luật không phải là bản chất của công đức; nó chỉ đơn giản là một cách bón phân cho công đức &#8211; ý định ban đầu của chúng ta &#8211; để nó phát triển dồi dào, mạnh mẽ.</p>



<p>Giới trong tiếng Pāli là sīla &#8211; xuất phát từ sela, hoặc đá, vì vậy khi bạn phát triển giới hạnh, bạn phải làm cho trái tim của bạn to lớn như một tảng đá khổng lồ. Tảng đá thì như thế nào? Nó chắc chắn, vững chãi và thanh khiết. Cho dù mặt trời có thể đốt cháy nó cả ngày, hoặc mưa có thể dội xuống nó cả đêm, nó không lung lay hay run rẩy. Ngoài ra, nó giữ sự thanh khiết của nó bên trong. Sự thanh khiết đó là gì? Đó là sự thanh khiết của lòng dũng cảm, của phản xạ nhanh nhạy và thận trọng. Loại thanh khiết này là giới hạnh &#8211; không phải là sự thanh khiết của người chậm chạp và thiếu thận trọng. Nếu bạn thanh khiết, thì bạn phải tươi mát từ giới hạnh bên trong bạn. Có giới hạnh bên trong bạn, giống như có một hồ nước trong nhà của bạn. Khi nhà bạn có hồ nước, làm thế nào lửa có thể đốt cháy nó? Khi bạn có loại tươi mát này chăm sóc tâm bạn, thì làm thế nào sự tức giận, thù hận hoặc bệnh tật có thể chế ngự nó?</p>



<p>Ngoài ra, tảng đá giới hạnh thanh khiết này giữ lửa bên trong nó &#8211; nhưng không phải là ngọn lửa của ô nhiễm. Đó là một ngọn lửa tiện ích mà bạn có thể sử dụng cho nhiều mục đích. Khi bạn đập hai cục đá vào nhau, tia lửa xẹt có thể bắt thành ngọn lửa lớn để bạn dùng nấu ăn hoặc thắp sáng ngôi nhà của mình. Đây là một số lợi ích của giới hạnh.</p>



<p>Khi hành thiền với tâm không thiết lập vững chắc trong công đức chân chánh, Ma vương sẽ đến tìm bạn với nụ cười rạng rỡ trên môi. Có nghĩa là Ma vương của các uẩn có mặt: bạn sẽ cảm giác đau đớn khắp thân, nhận thức của bạn sẽ xáo trộn, các cấu trúc tư tưởng của bạn sẽ nghĩ về 108.000 thứ khác nhau, ý thức của bạn sẽ đi khắp nơi. Khi điều này xảy ra, tâm bạn sẽ bị nghiền nát và công đức bị dập tắt. Giống như gạo nếp không được nấu chín hoàn toàn: nếu bạn ăn thứ đó, bạn sẽ bị khó tiêu.</p>



<p>Khi hành thiền, bạn phải cẩn thận không dồn ép hoặc áp lực tâm quá nhiều, nhưng đồng thời bạn cũng không thể để nó chạy rông. Có khi phải buộc nó lại; có khi phải buông nó ra; hãy để nó đi khi cần. Quan trọng là luôn để cho sự tác ý và đánh giá có mặt. Như thế, tâm trí sẽ đạt được phẩm chất: nó sẽ không lang thang hoặc đi lạc khỏi con đường tốt lành. Bản chất của lòng tốt là luôn có những điều xấu lẻn vào, giống như khi có người giàu, chắc chắn sẽ có những tên trộm nằm chờ để cướp. Khi bạn tạo ra công đức, Ma vương bằng nhiều cách khác nhau chắc chắn sẽ cản trở. Vì vậy, khi bạn hành thiền, hãy cẩn thận để không rơi vào tà niệm hoặc tà định.</p>



<p>Tà niệm xảy ra khi nhận thức của bạn rời khỏi bốn lĩnh vực: sắc, thọ, tưởng và hành. Ở đây, sắc là hơi thở, thọ là cảm giác thoải mái hay khó chịu, tưởng là nhận thức về thân, và hành là các tâm hành trong hiện tại.</p>



<p>Tà định là khi bạn quên hay không ý thức, như khi bạn không ý thức được thân đang ngồi như thế nào, tâm trí đang lang thang đến đâu, làm thế nào kéo nó quay trở lại. Tâm trí lúc ấy thiếu cả chánh niệm và sự tỉnh thức.</p>



<p>Nhưng khi bạn thiết lập được định, tâm sẽ phát triển cao hơn. Và khi tâm ở trên cao, không gì có thể vươn lên để phá hủy sự thiện lành của nó. Giống như các ngôi sao, mặt trăng hoặc mặt trời chiếu sáng trên bầu trời: mặc dù thỉnh thoảng mây có thể đi qua trước mặt chúng, nhưng mây không thể lẻn vào hoặc thấm lên để làm cho độ sáng của các ngôi sao, mặt trăng hoặc mặt trời trở nên âm u hoặc tối.</p>



<p>Công đức là báu vật cao quý. Đó là nguồn gốc của tất cả tài sản nội tại của ta. Khi nó phát sinh trong tâm, đừng để bất cứ ai khác chạm vào nó. Khi bạn có một nguồn tài sản như thế, giống như bạn có một viên kim cương thô, tốt hơn gấp trăm lần so với tài sản như nhà cửa, gia súc hoặc công nhân, vì những thứ đó ở xa và khó kiểm soát.</p>



<p>Trong khi, nếu bạn có một viên kim cương thô, bạn chỉ cần bọc nó trong bông gòn và nó sẽ tiếp tục phát triển. Chỉ cần chắc chắn là bạn không cắt hoặc đánh bóng nó. Nếu bạn biến nó thành một viên kim cương bị cắt xẻ, thì ngay cả khi bạn giữ nó trong 100 năm, nó cũng sẽ không phát triển thêm nữa.</p>



<p>Tương tự, khi thiền định phát sinh trong tâm, bạn phải chăm sóc nó. Đừng để bất kỳ nhãn hiệu hoặc khái niệm nào chạm vào nó. Như thế, định của bạn sẽ phát triển từng bước. Tâm của bạn sẽ phát triển ngày càng cao hơn. Hạnh phúc và sự thanh khiết sẽ đến theo hướng của bạn. Tất cả mọi thứ bạn khao khát sẽ thành công, và cuối cùng bạn sẽ đạt được đạo, quả dẫn đến Niết-bàn.</p>



<hr class="wp-block-separator has-alpha-channel-opacity"/>



<p>(NSGN 340)</p>



<p>Ajahn Thanissaro (Geoffrey DeGraff) dịch từ tiếng Thái sang tiếng Anh</p>



<p>Diệu Liên Lý Thu Linh dịch</p>



<p>Ajahn Lee Dhammadharo/Nguyệt san Giác Ngộ</p>
]]></content:encoded>
					
		
		
			</item>
		<item>
		<title>Làm thế nào để buông?</title>
		<link>https://phatgiaovinhphuc.vn/2025/06/05/lam-the-nao-de-buong/</link>
		
		<dc:creator><![CDATA[trast1]]></dc:creator>
		<pubDate>Thu, 05 Jun 2025 03:50:32 +0000</pubDate>
				<category><![CDATA[Phật học vấn đáp]]></category>
		<category><![CDATA[Tự viện]]></category>
		<guid isPermaLink="false">https://phatgiaovinhphuc.vn/?p=3671</guid>

					<description><![CDATA[NSGN &#8211; Hãy buông xả và cuộc sống của bạn sẽ tốt hơn. Một kỹ năng sống không thể thiếu. Bạn có thể nghĩ rằng “buông bỏ mọi thứ” có ý nghĩa tiêu cực. Từ bỏ một cái gì đó giữa chừng, để lại một cái gì đó chưa hoàn thành, bỏ qua một sự [...]]]></description>
										<content:encoded><![CDATA[


<p>NSGN &#8211; Hãy buông xả và cuộc sống của bạn sẽ tốt hơn. Một kỹ năng sống không thể thiếu.</p>



<p>Bạn có thể nghĩ rằng “buông bỏ mọi thứ” có ý nghĩa tiêu cực.</p>



<p>Từ bỏ một cái gì đó giữa chừng, để lại một cái gì đó chưa hoàn thành, bỏ qua một sự bất công, không theo dõi công việc… Đây chẳng phải là những thứ liên quan đến việc buông bỏ sao? Tất cả dường như hàm chứa một cảm giác vô trách nhiệm.</p>



<p>Chắc chắn điều này cũng đúng phần nào. Trong các ví dụ được liệt kê ở trên, ta phải thừa nhận rằng “việc buông mọi thứ” có vẻ không tích cực.</p>



<p>Nhưng trên thế giới này, có rất nhiều thứ nếu bạn buông bỏ được thì tốt hơn cho bạn. Đặc biệt là ngày nay, khi chúng ta liên tục bị thông tin trấn áp và khi các phương tiện truyền thông xã hội đã khiến các mối quan hệ cá nhân của chúng ta trở nên là những vấn đề suốt ngày đêm, nhưng bạn không thể phản hồi với tất cả mọi thứ.</p>



<p>Đây chính xác là lý do tại sao việc học cách buông bỏ mọi thứ càng quan trọng hơn. Thực sự, chúng ta nên coi nó như một kỹ năng sinh tồn.</p>



<p>Hơn bao giờ hết, chúng ta bắt buộc phải biết phân biệt giữa những gì chúng ta nên giữ và những gì nên buông bỏ, để sống một cuộc sống trọn vẹn nhất.</p>



<p>Đừng đuổi theo người đã ra đi. Tốt hơn hết chỉ nói lời tạm biệt</p>



<p>Những cuộc chia tay với người khác là tùy duyên.</p>



<p>Một đồng nghiệp rời khỏi công ty.</p>



<p>Một đồng đội mà bạn đã gắn bó sau thời gian làm việc với nhau đã rời khỏi nhóm.</p>



<p>Một người bạn thường cùng cà-phê chuyển đi chỗ khác.</p>



<p>Dù điều đó có thể xảy ra như thế nào, việc mất đi một người bạn rất đau lòng. Sự gắn bó của bạn có thể sâu đậm đến mức bạn cảm thấy muốn bám theo họ.</p>



<p>Nhưng theo như một câu nói trong thiền: “Đừng đuổi theo người đã ra đi”. Nói lời từ giã tốt hơn là kéo dài nỗi đau chia ly. Suy cho cùng, khi một mối quan hệ tan vỡ, đó chỉ đơn giản là sự kết thúc mối quan hệ đã gắn kết bạn với ai đó, theo một cách cụ thể nào đó. Đôi khi sự kết nối có thể được khôi phục, hoặc nó có thể biến thành một mối quan hệ tái đi, tái lại.</p>



<p>Cũng quan trọng không kém là phần thứ hai của câu nói Thiền: “Đừng quay lưng với người đến với bạn”. Điều quan trọng là làm thế nào và khi nào bạn gặp ai đó, điều gì đưa bạn đến với nhau. Kết nối giữa con người không thể bị thao túng &#8211; nó là một bước ngoặt tự nhiên của số phận. Vì vậy, trong tinh thần đó, “Đừng đuổi theo kẻ đã ra đi, cũng đừng quay lưng lại với người đến với bạn”.</p>



<p>“Chuyện bình thường mà”. Câu nói đơn giản này sẽ khiến bạn cảm thấy ổn hơn</p>



<p>Những sự kiện không lường trước được khiến cuộc sống trở nên thú vị hơn.</p>



<p>Đủ thứ chuyện có thể xảy ra trong cuộc sống. Bạn có thể nói rằng cuộc sống chỉ là một chuỗi những sự kiện không lường trước được.</p>



<p>Nhưng sau khi bạn đã trải nghiệm điều gì đó một lần, những gì trước đây bất ngờ trở thành một phần trong cuộc sống của bạn.</p>



<p>Với thời gian, bạn sẽ không bị ảnh hưởng nữa: “À, chuyện bình thường mà”.</p>



<p>Người ta thường nói rằng theo tuổi tác, con người trầm lại. Có lẽ đó là kết quả của sự tích lũy kinh nghiệm và khả năng có thể kết luận: “Chuyện bình thường mà”.</p>



<p>Cuộc sống có thể giống như một vở kịch không có kịch bản. Bạn càng có lý do để thích thú với vai trò ngẫu hứng của mình, phải không?</p>



<p>Và vì vậy khi điều bất ngờ xảy ra, chỉ cần nói với bản thân: “Chuyện bình thường mà”. Bạn sẽ thấy rằng những từ đơn giản này khiến bạn cảm thấy ổn hơn.</p>



<p>Thể hiện bản thân một cách thận trọng. Đó là cách của người khôn ngoan</p>



<p>Trở thành một người biết tất cả có thể nguy hiểm.</p>



<p>Bạn không nên nói (hoặc đăng) một cách liều lĩnh, lặp lại thông tin mà bạn chỉ nghe ai đó nói thoáng qua hoặc bạn xem trên truyền hình, hay đó là thứ đang thịnh hành trên mạng xã hội.</p>



<p>Bạn không nên can thiệp vào vấn đề của người khác, loan truyền thông tin chưa được kiểm chứng và nói về cách mọi người nên làm điều này hay điều kia.</p>



<p>Hoặc bạn bắt đầu một lý thuyết cá nhân về điều gì đó mà bạn chỉ hiểu một phần.</p>



<p>Tốt nhất là bạn nên kiềm chế không nói và làm những điều như vậy. Những nhận xét bất cẩn có thể khiến những người xung quanh bạn ngờ vực. Tin đồn và những lời rỉ tai rất dễ lan truyền, châm ngòi cho ngọn lửa thông tin sai lệch.</p>



<p>Đặc biệt là ở nơi làm việc hoặc với gia đình, hãy cẩn thận, không lên tiếng trừ khi bạn biết rằng thông tin đó là chính xác hoặc đó là chủ đề mà bạn thông thạo. Nếu không, bạn có thể gây ra tai hại.</p>



<p>Lời nói rất quan trọng. Hãy thể hiện bản thân một cách thận trọng.</p>



<p>Đó là cách của những người khôn ngoan.</p>



<p>Mỗi ngày thực hiện một thay đổi nhỏ. Một mẹo nhỏ có thể làm cuộc sống thêm phong phú</p>



<p>Nếu bạn cảm thấy như mình đang ở trong lối mòn, hãy thử điều này.</p>



<p>Bạn biết mình đang bị mắc kẹt trong lối mòn cũ khi cuộc sống có vẻ đơn điệu và mỗi ngày đều giống như một sự lặp lại của ngày hôm trước. Không hẳn là xấu khi bạn trải qua thời gian của mình một cách yên tĩnh và bình thường, nhưng khi hầu như không có bất kỳ thay đổi nào từ ngày này sang ngày khác, điều đó có thể khiến bạn thất vọng. Cuộc sống có thể bắt đầu có vẻ trần tục và tẻ nhạt.</p>



<p>Nhưng khi bạn cảm thấy như vậy, tốt hơn hết là nhắc nhở bản thân rằng không có ngày hôm qua nào giống như hôm nay. Và không có ngày hôm nay nào giống như ngày mai.</p>



<p>Nếu bạn suy nghĩ về điều đó, thực sự không thể mỗi ngày đều giống hệt nhau. Các bữa ăn, những cuộc trò chuyện của bạn với gia đình, các chi tiết công việc của bạn &#8211; luôn có điều gì đó khác biệt một chút từ ngày này sang ngày khác. Trong cuộc sống hàng ngày, tất cả chúng ta đều có những trải nghiệm mới mẻ một cách tinh tế, mặc dù có thể ta không nhận thức được điều đó.</p>



<p>Nhưng nếu bạn thấy điều đó chưa đủ, tôi khuyên bạn nên cố gắng làm điều gì đó khác biệt một cách có ý thức mỗi ngày, bất kể việc đó tầm thường đến đâu. Chẳng bao lâu, sự tích lũy của những thay đổi nhỏ này sẽ làm cho bạn cảm thấy hôm nay là hôm nay, ngày mai giống như ngày mai, rồi bạn sẽ được trang bị để sống tốt mỗi ngày một cách trọn vẹn nhất.</p>



<p>Tìm kiếm sứ mệnh cá nhân từ bên trong. Sau đó, hãy cố gắng hoàn thành với tất cả sức mình</p>



<p>Đó là điều cần thiết ở mỗi giai đoạn cuộc đời.</p>



<p>Tất cả chúng ta đều được sinh ra trên thế giới này với sứ mệnh được định sẵn cho riêng mình.</p>



<p>Bạn có thể nghĩ đó là vai trò của bạn trong cuộc sống này.</p>



<p>Bạn có biết sứ mệnh của mình là gì không?</p>



<p>Bạn có thể nghĩ, “Tôi không biết”</p>



<p>Nhưng không biết cũng được.</p>



<p>Tôi tin rằng điều quan trọng hơn là trải qua cuộc sống tự hỏi bản thân câu hỏi “Sứ mệnh của tôi là gì?” hơn là biết chính xác nó là gì.</p>



<p>Khi bạn tự hỏi bản thân, bạn sẽ bắt đầu nhận ra vai trò của mình trong suốt các giai đoạn của cuộc đời, rồi sau đó cố gắng hết sức mình để hoàn thành nó.</p>



<p>Điều mà bạn dốc hết sức mình vào &#8211; điều giúp bạn quên đi chính mình &#8211; là sứ mệnh được định sẵn của bạn.</p>



<hr class="wp-block-separator has-alpha-channel-opacity"/>



<p>(Chuyển ngữ từ Tuyển tập sáu lời khuyên về cuộc sống của sư Shumya Masuno, Tạp chí Tricycle, 8-11-2024).</p>



<p>(NSGN 349)</p>



<p>Shumya Masuno &#8211; Diệu Liên Lý Thu Linh dịch/Nguyệt san Giác Ngộ</p>
]]></content:encoded>
					
		
		
			</item>
		<item>
		<title>Bậc chẳng nhiễm thế gian</title>
		<link>https://phatgiaovinhphuc.vn/2025/06/05/bac-chang-nhiem-the-gian/</link>
		
		<dc:creator><![CDATA[trast1]]></dc:creator>
		<pubDate>Thu, 05 Jun 2025 03:44:19 +0000</pubDate>
				<category><![CDATA[Phật học vấn đáp]]></category>
		<category><![CDATA[Tự viện]]></category>
		<guid isPermaLink="false">https://phatgiaovinhphuc.vn/?p=3662</guid>

					<description><![CDATA[GNO &#8211; Đức Phật hẳn nhiên khác biệt với chúng ta. Ngài đản sinh nơi đời với nhiều điềm lành thị hiện mà trong kinh gọi là “Pháp nhĩ như thị”. Đức Phật có 32 tướng tốt, 80 vẻ đẹp rạng ngời giữa dân gian. Dấu chân Ngài có bánh xe ngàn căm, khi muốn [...]]]></description>
										<content:encoded><![CDATA[


<p>GNO &#8211; Đức Phật hẳn nhiên khác biệt với chúng ta. Ngài đản sinh nơi đời với nhiều điềm lành thị hiện mà trong kinh gọi là “Pháp nhĩ như thị”.<br><br>Đức Phật có 32 tướng tốt, 80 vẻ đẹp rạng ngời giữa dân gian. Dấu chân Ngài có bánh xe ngàn căm, khi muốn gieo duyên giáo hóa cho ai thì hiện ra rõ ràng trên cát. Da của Ngài vàng sáng, khi tĩnh tọa phát ra “ánh sáng rực rỡ, giống như núi vàng”.</p>



<p>Với ngoại hình hảo tướng quang minh thoát tục nên nhiều người cứ nghĩ Phật là trời hay chư vị thánh thần giáng thế. Bình tĩnh một chút thì thấy Phật đang trong hình dạng con người, vậy hẳn Ngài là người? Thế nhưng Đức Phật lại nói rằng Ngài không phải là trời, cũng chẳng phải thần thánh phương nào, lạ lùng nhất là cũng không là người. Vậy Ngài là ai?</p>



<p>“Một thời, Đức Phật ở tại nước Câu-tát-la, du hành trong nhân gian, ngồi nghỉ trưa dưới một bóng cây giữa hai thôn Hữu-tùng-ca-đế và Đọa-cưu-la. Lúc ấy có một Bà-la-môn thuộc dòng họ Đậu-ma đang đi trên con đường kia, đến sau Phật. Ông thấy dấu chân Phật hiện ra như bánh xe ngàn căm, dấu chỉ rõ ràng, chỉ bên trong thì đều, vòng chỉ bên ngoài thì tròn, tất cả đều đẹp đẽ và đầy đặn. Thấy vậy, liền tự nghĩ: ‘Ta chưa từng thấy người thế gian nào mà có dấu chân như vậy. Giờ ta phải theo dấu mà tìm ra người này’.</p>



<p>Ông liền theo dấu chân đưa đến chỗ Phật, thấy Đức Thế Tôn đang ngồi nghỉ trưa dưới một bóng cây, dung mạo đoan nghiêm tuyệt thế, các căn vắng lặng, tâm Ngài an định tịch tĩnh, điều phục đệ nhất, thành tựu chánh quán, ánh sáng rực rỡ, giống như núi vàng.</p>



<p>Sau khi đã thấy vậy rồi, liền bạch:</p>



<ul class="wp-block-list">
<li>Ngài là Trời chăng?</li>
</ul>



<p>Phật bảo Bà-la-môn:</p>



<ul class="wp-block-list">
<li>Ta chẳng phải là Trời.</li>
</ul>



<p>Lại hỏi:</p>



<ul class="wp-block-list">
<li>Là Rồng, Dạ-xoa, Càn-thát-bà, A-tu-la, Ca-lâu-la, Khẩn-na-la, Ma-hầu-la-già, Nhân, Phi nhân chăng?</li>
</ul>



<p>Phật bảo Bà-la-môn:</p>



<ul class="wp-block-list">
<li>Ta chẳng phải Rồng… chẳng phải Nhân, Phi nhân.</li>
</ul>



<p>Bà-la-môn bạch Phật:</p>



<ul class="wp-block-list">
<li>Nếu bảo rằng chẳng phải Trời, chẳng phải Rồng… cho đến chẳng phải Nhân, chẳng phải Phi nhân, vậy thì Ngài là ai?</li>
</ul>



<p>Bấy giờ, Đức Thế Tôn dùng kệ đáp rằng:</p>



<p>Trời, Rồng, Càn-thát-bà</p>



<p>Khẩn-na-la, Dạ-xoa</p>



<p>A-tu-la không lành</p>



<p>Những Ma-hầu-la-già</p>



<p>Nhân cùng chẳng phải Nhân</p>



<p>Đều do phiền não sinh.</p>



<p>Lậu hoặc phiền não này</p>



<p>Tất cả, Ta đã bỏ</p>



<p>Đã phá, đã diệt sạch</p>



<p>Như hoa Phân-đà-lợi</p>



<p>Tuy sinh từ trong nước</p>



<p>Nhưng chưa từng dính nước.</p>



<p>Ta tuy sinh thế gian</p>



<p>Chẳng bị nhiễm thế gian,</p>



<p>Nhiều kiếp thường lựa chọn</p>



<p>Thuần khổ không chút vui.</p>



<p>Tất cả hành hữu vi</p>



<p>Thảy đều bị sinh diệt</p>



<p>Trừ nhơ, không lay động</p>



<p>Đã nhổ sạch gai góc</p>



<p>Cùng tột bờ sinh tử</p>



<p>Cho nên gọi là Phật.</p>



<p>Phật nói kinh này xong, Bà-la-môn Đậu-ma nghe những gì Đức Phật đã dạy, tùy hỷ hoan hỷ, rồi tiếp tục mà đi”.</p>



<p>(Kinh Tạp A-hàm, quyển 4, kinh số 101. Phật)</p>



<p>Dù Ngài có ngoại hình khác biệt với mọi người nhưng đó chưa phải là điều quan trọng. Điều khác biệt duy nhất của Đức Phật là “Ta tuy sinh thế gian/Chẳng bị nhiễm thế gian” như hoa sen “Tuy sinh từ trong nước/Nhưng chưa từng dính nước”. Thế gian ở đây là còn lậu hoặc, phiền não; còn tham, sân và vô minh. Cho dù là trời, a-tu-la hay thần cũng đều bị thế gian chi phối, còn trong luân hồi sinh tử.</p>



<p>Vô minh là phiền não lớn nhất. Mọi nhận thức và tư duy hữu ngã là nhân tố chính yếu chướng ngăn tuệ giác. Giống như con tằm kéo kén rồi tự cột trói chính mình. Phàm phu chỉ loay hoay trong tổ kén nghiệp lực ấy. Ai tháo tung tổ kén vô minh là Bậc Giác ngộ. Ngài là con người, sống trong nhân gian nhưng đã thoát ra khỏi vòng sinh tử nên gọi là Phật.</p>



<p>Đức Phật ra đời như hoa sen nở trên mặt hồ. Ở trong thế gian mà chẳng nhiễm thế gian. Mới hay, Ta-bà cũng là Tịnh độ, vấn đề là không bị uế nhiễm và dính mắc, điều này chính Đức Phật và chư vị A-la-hán đã thân chứng khi phiền não hết, tuệ giác vô ngã rạng ngời.</p>



<p>Quảng Tánh/Báo Giác Ngộ</p>
]]></content:encoded>
					
		
		
			</item>
		<item>
		<title>Nghe nhiều chưa hẳn đã đa văn</title>
		<link>https://phatgiaovinhphuc.vn/2025/06/05/nghe-nhieu-chua-han-da-da-van/</link>
		
		<dc:creator><![CDATA[trast1]]></dc:creator>
		<pubDate>Thu, 05 Jun 2025 03:41:13 +0000</pubDate>
				<category><![CDATA[Phật học vấn đáp]]></category>
		<category><![CDATA[Tự viện]]></category>
		<guid isPermaLink="false">https://phatgiaovinhphuc.vn/?p=3656</guid>

					<description><![CDATA[GNO &#8211; Người học Phật ai cũng biết đa văn là hạnh nghe nhiều, hiểu biết Phật pháp sâu rộng, thông tỏ nghĩa lý. Ngày xưa chỉ có nghe thuyết pháp và hỏi đạo trực tiếp nơi các bậc thầy mà thôi, không có các phương tiện khác. Ngày nay, đa văn còn có nghĩa [...]]]></description>
										<content:encoded><![CDATA[


<p>GNO &#8211; Người học Phật ai cũng biết đa văn là hạnh nghe nhiều, hiểu biết Phật pháp sâu rộng, thông tỏ nghĩa lý.<br><br>Ngày xưa chỉ có nghe thuyết pháp và hỏi đạo trực tiếp nơi các bậc thầy mà thôi, không có các phương tiện khác. Ngày nay, đa văn còn có nghĩa là đọc kinh sách nhiều, học tập và nghiên cứu sâu, nghe pháp gián tiếp qua băng đĩa thuyết giảng.</p>



<p>Người học Phật thời nay, nếu đủ duyên lành thì có thể học đến tiến sĩ Phật học hay hậu tiến sĩ. Có thể xem chư vị là đội ngũ Tăng tài, là giáo sư giáo thọ, là những nhà nghiên cứu, trước tác hay dịch thuật, có cống hiến to lớn trong sự nghiệp hoằng pháp.</p>



<p>Vấn đề đặt ra là tuy học rộng, nghe nhiều, bằng cấp cao nhưng chưa hẳn đã đa văn. Đức Phật khuyên hàng đệ tử nên lập hạnh nghe nhiều, nhưng đa văn theo bản ý của Ngài thì không chỉ học cao hiểu rộng về giáo pháp mà phải thân chứng, thấy ra sự thật.</p>



<p>“Một thời, Phật ở tại vườn Cấp Cô Độc, rừng cây Kỳ-đà, nước Xá-vệ. Bấy giờ, có một Tỳ-kheo kia, đi đến chỗ Phật, làm lễ Phật, rồi đứng qua một bên, bạch Phật rằng:</p>



<ul class="wp-block-list">
<li>Như Thế Tôn nói đa văn. Vậy thế nào là đa văn?</li>
</ul>



<p>Phật bảo Tỳ-kheo:</p>



<ul class="wp-block-list">
<li>Lành thay! Lành thay! Nay ngươi muốn hỏi Ta về nghĩa của đa văn phải không?</li>
</ul>



<p>Tỳ-kheo bạch Phật rằng:</p>



<ul class="wp-block-list">
<li>Thưa vâng, bạch Thế Tôn.</li>
</ul>



<p>Phật bảo Tỳ-kheo:</p>



<ul class="wp-block-list">
<li>Hãy lắng nghe và suy nghĩ kỹ, Ta sẽ vì ngươi mà nói.</li>



<li>Tỳ-kheo, nên biết, nếu nghe pháp mà đối với sắc phát sanh yểm ly, ly dục, diệt tận, tịch tĩnh, thì đó gọi là đa văn. Cũng vậy nếu nghe pháp mà đối với thọ, tưởng, hành, thức phát sanh yểm ly, ly dục, diệt tận, tịch tĩnh, thì gọi đó là đa văn. Này Tỳ-kheo, đó gọi là đa văn mà Như Lai nói.</li>
</ul>



<p>Tỳ-kheo kia sau khi nghe những lời Phật dạy, phấn khởi vui mừng, làm lễ mà lui”.</p>



<p>(Kinh Tạp A-hàm, quyển 1, kinh số 25. Đa văn)</p>



<p>Rõ ràng, học Phật pháp giỏi, có bằng cấp cao chỉ mới thành tựu về thức tri, nên không gọi là đa văn. Đặc điểm của thức tri là hiểu biết nhưng cạn cợt (còn những cấp độ nhận thức cao hơn như thắng tri, tuệ tri, liễu tri). Thức tri có thể phân biệt được thiện ác nhưng không thể vượt thắng phiền não của tự thân. Nên quá tự mãn và dừng lại nơi thức tri là một sai lầm lớn của người học Phật.</p>



<p>Theo lời dạy của Thế Tôn thì học Phật bên ngoài nơi kinh sách và các học đường (kể cả các phân khoa Phật học của các đại học trứ danh trên thế giới) chỉ là bước đầu. Ngôi trường cao nhất của người học Phật là chính mình. Học ngay nơi tứ đại, ngũ uẩn của chính thân tâm này. Học làm sao mà đối với năm uẩn “phát sanh yểm ly, ly dục, diệt tận, tịch tĩnh”. Chỉ có tuệ tri và liễu tri mới thấy đúng về năm uẩn như nó đang là; là khổ, duyên sinh, vô thường, vô ngã.</p>



<p>Thấy rõ thân tâm này rồi mới có thể nhàm chán, ly tham, diệt tận tham si phiền não. Cái thấy này là tuệ chứ không phải thức. Cho nên, học Phật pháp sao cho phát tuệ mới thành tựu đa văn. Còn học Phật pháp mà chỉ thành tựu hiểu biết thông thường, tham sân si không bị tiêu diệt (có thể tăng thêm do tự mãn, ngã mạn) thì chỉ là bậc nghe ít, thiểu văn mà thôi.</p>



<p>Quảng Tánh/Báo Giác Ngộ</p>
]]></content:encoded>
					
		
		
			</item>
		<item>
		<title>Người tu và vấn đề kinh doanh</title>
		<link>https://phatgiaovinhphuc.vn/2025/05/29/nguoi-tu-va-van-de-kinh-doanh/</link>
		
		<dc:creator><![CDATA[trast1]]></dc:creator>
		<pubDate>Thu, 29 May 2025 08:54:10 +0000</pubDate>
				<category><![CDATA[Phật học vấn đáp]]></category>
		<category><![CDATA[Tự viện]]></category>
		<guid isPermaLink="false">https://phatgiaovinhphuc.vn/?p=3650</guid>

					<description><![CDATA[GNO &#8211; Thời gian gần đây ta thấy hiện tượng một số người tu cũng có những hoạt động kinh doanh, buôn bán trực tuyến trên các nền tảng mạng xã hội. Điều này tạo ra những ý kiến khác nhau, có người đồng tình, có người không. Bài viết nhỏ này, chúng tôi xin [...]]]></description>
										<content:encoded><![CDATA[


<p>GNO &#8211; Thời gian gần đây ta thấy hiện tượng một số người tu cũng có những hoạt động kinh doanh, buôn bán trực tuyến trên các nền tảng mạng xã hội. Điều này tạo ra những ý kiến khác nhau, có người đồng tình, có người không.<br><br>Bài viết nhỏ này, chúng tôi xin có đôi điều bày tỏ, hy vọng có thể góp phần đem lại cái nhìn hợp tình, hợp lý hơn về vấn đề này.</p>



<p>Nếu căn cứ vào Giới luật do Đức Phật chế định thì người tu không được nắm giữ tiền bạc, vật báu và kinh doanh buôn bán. Cụ thể: Trong mười giới của Sa-di, giới thứ 10, Đức Phật dạy không được nắm giữ vàng, bạc, vật quý giá. Trong 250 giới của Tỳ-kheo, thiên Xả đọa (giới thứ 18/19/20), Đức Phật cấm không cất giữ vàng bạc; không đổi chác, mua bán vật báu; không mua bán các thứ.</p>



<p>Trong Phật giáo, có những loại giới trọng khi đã phạm thì không thể sám hối nhưng những loại giới nhẹ thì có thể sám hối cho trong sạch. Hơn nữa, Đức Phật cũng có dạy, đối với những giới nhẹ, nhỏ nhặt thì tùy theo địa phương hay thời đại mà có thể bỏ bớt hoặc linh động uyển chuyển cho phù hợp. Và giới liên quan đến tiền bạc hay kinh doanh, mua bán thì thuộc loại giới nhẹ. Trong thời hiện đại, việc người tu giữ tiền hay kinh doanh mua bán, trong một số hoàn cảnh nào đó, có thể chấp nhận được. Tuy nhiên, theo tôi, việc người tu mà tham gia kinh doanh mua bán sẽ có những bất cập như sau:</p>



<ul class="wp-block-list">
<li>Việc chính của người tu là tu học và hoằng pháp. Tu để giác ngộ, giải thoát và hoằng pháp để đem lại lợi lạc cho chúng sinh ở phương diện tinh thần, tâm linh. Ta phải dành hết thời gian và tâm sức để làm những việc đó thì ta mới giỏi trong lãnh vực của mình, mới làm tròn bổn phận của mình. Còn nếu ta chạy theo kinh doanh mua bán thì đâu còn thời gian và tâm sức để làm cái công việc chính của mình nữa.</li>



<li>Một số vị thầy vì không giỏi ở lãnh vực của mình, tức không thông thạo Kinh, Luật, Luận cho nên trong khi thuyết pháp đã giảng sai với Phật pháp. Điều này không chỉ làm cho bản thân họ mất uy tín, mắc quả báo mà còn làm cho người nghe hiểu sai, làm sai. Hơn nữa tạo ra sự mâu thuẫn giữa các giảng sư với nhau, gây hoang mang trong hàng Phật tử và công chúng, rằng họ không biết phải tin ai.</li>



<li>Nói đến kinh doanh mua bán là nói đến hàng hóa, tiền bạc, lời lỗ. Người tu giữ cái tâm của mình như người chăn trâu lúc nào cũng phải dòm ngó con trâu không rời mắt. Nhưng nếu ta suốt ngày chỉ nghĩ đến chuyện tiền bạc, lời lỗ thì làm sao chăn con trâu tâm của mình?</li>



<li>Một số người nghĩ rằng mình kinh doanh mua bán để có nhiều tiền có thể giúp người khác được nhiều hơn. Có cái tâm như vậy là tốt nhưng không đúng với Phật pháp. Xuất gia thí pháp, tại gia thí tài. Mà Đức Phật cũng dạy rằng “trong tất cả các loại bố thí thì thí Pháp là hơn hết”. Người xuất gia có thể bố thí tài vật, nhưng chỉ là tùy duyên. Có nghĩa là nếu có thí chủ đóng góp, hỗ trợ thì mình thay mặt họ để chuyển vật phẩm đến người cần. Chứ mình là người xuất gia mà mình làm việc của người tại gia, trong khi bỏ phế bổn phận xuất gia của mình thì không đúng.</li>



<li>Hình ảnh người xuất gia đầu tròn áo vuông rất khác với người thế gian. Người thế gian lên mạng bán hàng là bình thường, nhưng khi thấy một vị thầy hay sư cô mà lên mạng rao bán hàng, hãy khoan nói đến đúng sai, ta thấy có gì đó không hợp rồi.</li>
</ul>



<p>Trên đây là một số bất cập hay tác hại của người tu khi họ hoạt động kinh doanh mua bán. Bản chất của con người là tham lam và dính mắc. Sở dĩ người tu phải ở chùa, ở trong môi trường của kinh kệ, giáo lý, tránh xa những hoàn cảnh lợi danh cũng là vì muốn gột rửa cái bản chất ấy. Nếu ta kinh doanh mua bán là ta đã sống trong cái môi trường của danh lợi rồi. Thật lòng mà nói, trên đời này có mấy người được “gần bùn mà chẳng hôi tanh mùi bùn”. Có mấy ai mua bán mà không tính đến lợi nhuận. Trong kinh Đức Phật cũng dạy rằng, việc nắm giữ tiền bạc, vật báu có thể làm cho hàng Sa-môn không sáng suốt, không thanh tịnh, cho đến mất hết oai thần. Cho nên hàng Sa-môn phải lánh xa tiền bạc, vật báu. Nếu còn dính dấp đến tiền bạc, vật báu thì bị ngũ dục sai khiến. Nếu bị ngũ dục sai khiến thì chẳng phải pháp của Sa-môn Thích tử vậy.</p>



<p>Thật ra, người viết bài này cũng hiểu rằng, cuộc sống rất đa dạng và phức tạp mà cuộc đời người tu cũng lắm nhiêu khê chứ không phải chỉ một bề yên ả. Có những người có phước, vào chùa tu được thầy thương bạn mến và vật chất khá đầy đủ. Nhưng cũng có những người không được như vậy, trái lại gặp nhiều gian nan, trắc trở, thiếu thốn đủ điều nhưng vẫn quyết tâm tu hành. Bản thân tôi cũng từng có ý nghĩ rằng mình cần tự kiếm tiền để sống và tu chứ không muốn nhận sự cúng dường của thí chủ. Đó là vì, một là mình không muốn lệ thuộc, hai là không muốn mắc nợ. Rất có thể một số Tăng, Ni tham gia kinh doanh mua bán cũng có cùng những suy nghĩ như vậy, muốn sống bằng chính đồng tiền do mình làm ra.</p>



<p>Về phương diện xã hội, việc người tu kinh doanh mua bán hợp pháp thì không có gì sai, chỉ là bị trái nghề. Chúng ta phải biết rằng xã hội có sự phân công lao động. Thầy thuốc là để trị bệnh, thầy giáo là để dạy học, công nhân và nông dân là để sản xuất… Nếu thầy thuốc mà cũng lo việc sản xuất thì ai trị bệnh. Đối với người tu cũng vậy. Người tu không phải là người trốn đời mà cũng có trách nhiệm với xã hội, theo cái cách của mình. Không cần nói đến những việc làm to tát, những cống hiến lớn lao hay phải tu hành đắc đạo, một người tu giữ chùa bình thường, hàng ngày lo việc hương khói quét dọn chùa để cho bá tánh có nơi đến thể hiện nhu cầu tâm linh của họ, vị đó cũng đã thực hiện phần nào bổn phận của một người tu rồi. Và họ có quyền hưởng những quyền lợi do ngôi chùa mang lại, như các cụ xưa đã nói “thờ Phật thì được ăn oản” vậy.</p>



<p>Trên đời này mỗi người làm mỗi việc, có trách nhiệm và quyền lợi tương xứng. Người ta cúng chùa là vì họ thấy được chùa đã đáp ứng được nhu cầu nào đó của họ, dù đó chỉ là phút giây thanh thản nơi cửa thiền. Nếu tôn giáo nói chung và Phật giáo nói riêng chỉ là một kiểu mị dân thì làm sao nó có thể tồn tại hàng ngàn năm một cách bền bỉ và uy nghiêm như thế? Cho nên những người phục vụ tôn giáo, cụ thể ở đây là chư Tăng, Ni cũng là những người đang làm trách nhiệm của mình, đang đóng góp khả năng của mình cho sự hoàn thiện và phát triển của xã hội, như bao nhiêu con người và ngành nghề khác nhau trong xã hội.</p>



<p>Nói như vậy không có nghĩa là đi tu là một cái nghề. Ở đây người viết chỉ muốn nhìn Phật giáo ở một khía cạnh xã hội để muốn nói rằng, chúng ta, những người tu ở chùa, không phải là những người chỉ có thọ nhận sự cúng dường mà thực sự cũng đã đóng góp phần mình trong việc xây dựng xã hội. Cho nên chúng ta không có gì phải hổ thẹn khi nhận bát cơm của đàn-na tín thí. Chúng ta làm tròn bổn phận của mình theo cách của người tu là chúng ta đã sống bằng chính sức lao động của mình rồi.</p>



<p>Có lần, một người nói với tôi rằng các nữ tu bên tôn giáo bạn mở trường mầm non, dạy trẻ để sống và phụng sự, còn bên Phật giáo không làm gì cả. Tôi liền hỏi vị ấy rằng, bạn nghĩ với số tiền dạy trẻ đó các nữ tu có thể phụng sự Giáo hội, có thể xây được những cơ sở tôn giáo hàng triệu đô sao? Các nữ tu ấy dạy trẻ không phải để kiếm sống mà là để truyền đạo, để giáo dục. Từ xưa đến nay, tôn giáo nào cũng thế, cũng nhận sự quyên góp của những người có thiện tâm và tín tâm. Ngược lại, tôn giáo cũng đền đáp lại sự quyên góp ấy theo cái cách riêng của mình.</p>



<p>Tôi xem trên mạng có người nói một cách mỉa mai rằng từ khi có đoàn người ôm nồi cơm điện khất thực thì chùa chiền không ai đi, không ai cúng. Họ nói như vậy là không hiểu gì về người tu cả. Không bàn họ nói đúng hay sai, chỉ xin thưa rằng, đối với người tu chỉ cần có cơm ăn, áo mặc, chỗ ở, thuốc thang và một số vật dụng thiết yếu, thế là đủ. Người tu có nhận thêm tiền bạc hay phẩm vật thì cũng không phải nhận cho riêng mình mà là để làm Phật sự, phục vụ cộng đồng. Có nhiều thì làm nhiều, có ít thì làm ít, không có thì không làm, vậy thôi! Đối với người tu, việc tu là chính, còn phụng sự chúng sinh chỉ là tùy duyên.</p>



<p>Và cũng trên tinh thần như thế, vậy những người tu có cần kinh doanh mua bán để có tiền làm Phật sự không?</p>



<p>Thích Trung Hữu/Báo Giác Ngộ</p>
]]></content:encoded>
					
		
		
			</item>
		<item>
		<title>Ba điểm cơ bản thiết yếu của Phật giáo</title>
		<link>https://phatgiaovinhphuc.vn/2025/05/29/ba-diem-co-ban-thiet-yeu-cua-phat-giao-2/</link>
		
		<dc:creator><![CDATA[trast1]]></dc:creator>
		<pubDate>Thu, 29 May 2025 08:52:39 +0000</pubDate>
				<category><![CDATA[Phật học vấn đáp]]></category>
		<category><![CDATA[Tự viện]]></category>
		<guid isPermaLink="false">https://phatgiaovinhphuc.vn/?p=3647</guid>

					<description><![CDATA[GNO &#8211; Sau đây là ba điểm cơ bản thiết yếu giúp Phật tử hiểu và thực tập những lời Phật dạy một cách rõ ràng và có hệ thống. Mục tiêu của Phật giáo hay mục tiêu của lời Phật dạy là chỉ hướng hay phương pháp thực tập, giúp con người thành Phật [...]]]></description>
										<content:encoded><![CDATA[


<p>GNO &#8211; Sau đây là ba điểm cơ bản thiết yếu giúp Phật tử hiểu và thực tập những lời Phật dạy một cách rõ ràng và có hệ thống.</p>



<p>Mục tiêu của Phật giáo hay mục tiêu của lời Phật dạy là chỉ hướng hay phương pháp thực tập, giúp con người thành Phật hay giác ngộ. Từ “Phật” hay Buddha trong ngôn ngữ Sanskrit nghĩa là “Người thức tỉnh” hay “bậc Giác ngộ hoàn toàn”.</p>



<p>Thức tỉnh hay giác ngộ hoàn toàn nghĩa là không còn bị tác động hay chi phối bởi tham ái (S.Tṛṣṇā, P.Taṇhā), sân (S.Dveṣa, P.Dosa) và vô minh (S.Avidyā, P.Avijjā). Tham lam, sân hận và si mê là nguyên nhân dẫn đến khổ đau cho đời sống của con người. Trong ý nghĩa này, chúng ta có thể nói mục tiêu của Phật giáo là giúp hướng dẫn cho con người đoạn trừ tận gốc tham sân si và giải phóng triệt để bản thân khỏi khổ đau. Tham ái khiến cho con người bám víu (Upādāna) vào hiện hữu, bao gồm bản thân, những sở hữu yêu quý của bản thân và mong những gì mình yêu thích luôn vĩnh cửu; nhưng cuộc đời là vô thường và trái ngược với ước mong vĩnh cửu của con người; vì vậy, kết quả tất yếu là sự sinh khởi của nỗi sợ hãi, lo âu, buồn rầu và thất vọng.</p>



<p>Thông qua việc đoạn trừ lòng tham ái, con người sẽ dập tắt được nỗi sợ hãi, lo âu, buồn rầu, thất vọng và đạt được sự an lạc hạnh phúc tối thượng.</p>



<p>Thông qua việc đoạn trừ lòng tham ái, con người sẽ dập tắt được nỗi sợ hãi, lo âu, buồn rầu, thất vọng và đạt được sự an lạc hạnh phúc tối thượng.</p>



<p>Nói tóm lại, mục đích tối hậu của Phật giáo là sự giác ngộ trọn vẹn hay thành Phật. Người nào giác ngộ, người đó sẽ đoạn tận khổ đau; hay nói cách khác, người đó sẽ đoạn trừ sợ hãi, lo âu, buồn rầu và thất vọng.</p>



<p>Việc nhận thức mục tiêu của Phật giáo như trên giúp chúng ta nhận định được rằng, Phật giáo, trong ý nghĩa đích thực nhất, không còn là một tôn giáo theo ý nghĩa thông thường như là một Giáo hội hoạt động qua hệ thống tín điều, nghi lễ và cấp bậc, mà là “con đường” hay hướng đi đích thực, được nhận thức và nỗ lực thực hiện bởi con người nhằm đoạn tận khổ đau và đạt được hạnh phúc thật sự. Ngoài ra, từ điểm này giúp chúng ta thấy được sự khác biệt giữa Phật giáo và các tôn giáo khác, đặc biệt là nhất thần giáo (monotheism) vốn đặt sự giải thoát tối hậu của con người vào niềm tin tưởng cứu vớt của Chúa (God).</p>



<p>Ảnh: iStock<br>Ảnh: iStock</p>



<p>Những nguyên lý hay giáo lý cơ bản trong Phật giáo</p>



<p>Giáo lý Phật giáo căn bản là những lời Phật giảng dạy trong 49 năm khi Ngài còn tại thế. Những lời dạy đó được kết tập trong Kinh tạng và Luật tạng. Qua lịch sử truyền bá giáo lý, những lời dạy của Đức Phật được hiểu và thực hành tùy theo căn cơ và trình độ của mỗi cá nhân. Đây là cơ sở để giải thích lý do tại sao sau khi Đức Phật diệt độ, có nhiều bộ phái xuất hiện, họ lý giải những lời Phật dạy theo sở kiến của mình, như Thượng tọa bộ (Theravāda), Nhất thiết hữu bộ (Sarvāstivāda) và Đại chúng bộ (Mahāsāṃghika), v.v.; đồng thời, có những tông phái thực hành lời Phật dạy theo pháp môn của mình, ví dụ Thiền tông, Tịnh Độ tông, Mật tông, v.v…</p>



<p>Mặc dầu xảy ra vấn đề bất đồng nhận thức về những lời Phật dạy giữa các bộ phái, và sự khác biệt trong hình thức tu tập trong các tông phái, nhưng tất cả đều phải dựa trên nội dung hay nền tảng của Tứ Pháp ấn (Four Dharma seals) &#8211; bốn đặc tính hay dấu hiệu của các pháp được giác ngộ và chứng thực bởi Đức Phật &#8211; đó là Vô thường (S.Anitya, P.Anicca), Vô ngã (S.Anātma, P.Anattā), Khổ (S.Duḥkha, P.Dukkha) và Niết-bàn (S.Nirvāṇa, P.Nibbāna) trong đường lối nhận thức và thực hành các pháp môn.</p>



<p>Theo Phật dạy, tất cả các Pháp(i) tồn tại hay sinh khởi đều do duyên sinh (S.Pratītyasamutpāda, P.Paṭiccasamuppāda, Dependent Origination). Do duyên sinh hay tập hợp, nên các pháp luôn luôn ở trong trạng thái biến chuyển hay vô thường, và do luôn luôn biến chuyển, nên bản chất của các pháp là vô ngã, nghĩa là không có một cái “Tôi” hay hiện hữu trường tồn bất biến (No-self or the absence of an abiding self).</p>



<p>Trong Phật giáo có nhiều pháp môn tu như Thiền tông, Mật tông và Tịnh Độ tông, v.v., tùy theo căn cơ và sở thích của mỗi cá nhân. Tuy nhiên, bất cứ pháp môn tu nào trong Phật giáo cũng phải lấy Giới (S.Śīla, P.Sīla), Định (Samādhi) và Tuệ (S.Prajñā, P.Pañña) làm nền tảng cho sự tu tập.</p>



<p>Các pháp là vô thường tự thân của chúng không có một bản thể thường hằng, nhưng con người muốn những gì mình yêu thích nhất, tức là bản thân và những sở hữu yêu quý của bản thân, nói chung là Ngũ uẩn(ii) (S.Pañca Skandha, P.Pañca Khandha), thường hằng. Thực tại là vô thường, không có một bản thể vĩnh cửu, nhưng con người lại ước muốn chúng trường tồn và vĩnh cửu. Đây là điều đi ngược lại với thực tại, và kết quả là đưa con người vào buồn rầu, lo âu, thất vọng và sợ hãi. Và đây chính là cái khổ sâu sắc nhất được mô tả trong Tứ diệu đế (S.Catvāriāryasatyāni, P.Cattāri Ariyasaccāni): “Ngũ thủ uẩn là khổ”, nghĩa là sự bám víu và chấp chặt vào bản thân và sở hữu của bản thân, hay thực tại hiện hữu là khổ. Để đoạn trừ cái khổ sâu sắc này, theo Đức Phật, con người phải ly tham và lìa bỏ sự bám víu vào Ngũ uẩn, hay thực tại hiện hữu, ước mong vĩnh cửu. Trong ý nghĩa này, Niết-bàn chính là sự ly tham và đoạn trừ sự bám víu vào thực tại hiện hữu hay Ngũ uẩn.</p>



<p>Ý nghĩa của Tứ Pháp ấn, như đã được giải thích, chính là nội dung của giáo lý Duyên sinh, một chân lý được Đức Phật chứng ngộ, được thể hiện qua 12 chi phần Duyên khởi(iii) và giáo lý Tứ đế(iv). Trên hình thức, có sự khác nhau về cách diễn đạt giữa hai giáo lý này. Thập nhị nhân duyên là quy luật được Đức Phật tư duy sau khi Ngài thành đạo, và giáo lý Tứ đế là kết quả chuyển thể từ tư duy qua ngôn từ, tức là bài thuyết pháp đầu tiên của Đức Phật cho năm anh em Kiều Trần Như tại vườn Lộc Uyển &#8211; nhưng nội dung chỉ là một: khổ, nguyên nhân của khổ, sự đoạn tận khổ đau và phương pháp để đoạn tận khổ đau.</p>



<p>Hiểu đúng và rõ ràng Tứ Pháp ấn giúp chúng ta hiểu được bản chất thực tại của con người và cuộc đời, và giá trị tối thượng mục tiêu của Phật giáo, đó là giác ngộ và giải thoát khổ đau. Ngoài ra, Tứ Pháp ấn giúp chúng ta khẳng định rằng bất cứ kinh nào chuyển tải ý nghĩa của Tứ Pháp ấn, thì kinh đó là kinh Phật thuyết; và ngược lại.</p>



<p>Phương pháp hay con đường tu tập</p>



<p>Trong Phật giáo có nhiều pháp môn tu như Thiền tông, Mật tông và Tịnh Độ tông, v.v., tùy theo căn cơ và sở thích của mỗi cá nhân. Tuy nhiên, bất cứ pháp môn tu nào trong Phật giáo cũng phải lấy Giới (S.Śīla, P.Sīla), Định (Samādhi) và Tuệ (S.Prajñā, P.Pañña) làm nền tảng cho sự tu tập.</p>



<p>Giới là kỷ luật giúp ngăn ngừa tội lỗi của thân và khẩu. Định là thiền định (S.Dhyāna, P.Jhāna) bao gồm hai yếu tố tương quan: a) Chánh định (S.Samyak-samādhi, P.Sammā-samādhi): tập trung tâm lại trên các đối tượng, không để tán loạn và b) Chánh niệm (S.Samyak-smṛti, P.Sammā-sati): chú tâm theo dõi và ghi nhận rõ ràng những gì xảy ra trên đối tượng thân và tâm (hay các pháp). Tuệ (S.Prajñā, P. Paññā) là năng lực của tâm trực nghiệm được tính vô thường, khổ và vô ngã qua sự tinh tấn thực tập định và niệm trên các đối tượng. Trong Tứ diệu đế, Giới, Định và Tuệ là nền tảng thực hành của Bát chánh đạo (S.Āryāṣṭāṅga-mārga, P.Ariya-aṭṭhaṅgika-magga); trong đó, Giới bao gồm Chánh ngữ, Chánh nghiệp và Chánh mạng; Định gồm Chánh tinh tấn, Chánh định và Chánh niệm; và Tuệ gồm Chánh kiến và Chánh tư duy.</p>



<p>Trong các kinh điển Đại thừa, Lục độ Ba-la-mật (Ṣaṭ Pāramitā) là sáu hạnh tu rốt ráo mà các Bồ-tát phải thực hiện để mang lại lợi ích cho chúng sinh, và đồng thời để giúp bản thân mình được giác ngộ: 1) Bố thí Ba-la-mật, 2) Trì giới Ba-la-mật, 3) Nhẫn nhục Ba-la-mật, 4) Tinh tấn Ba-la-mật, 5) Thiền định Ba-la-mật, và 6) Trí tuệ Ba-la-mật. Vì lợi ích chúng sinh, Bồ-tát thực hành Bố thí Ba-la-mật, và để đạt được quả vị giải thoát giác ngộ, Bồ-tát thực hành Trì giới và Nhẫn nhục Ba-la-mật (tức Giới), Tinh tấn và Thiền định Ba-la-mật (Định), Trí tuệ Ba-la-mật (Tuệ).</p>



<p>Nói tóm lại, Giới, Định, Tuệ là nền tảng căn bản cho sự tu tập trong Phật giáo. Từ điểm này giúp chúng ta khẳng định rằng bất cứ pháp môn nào nếu không có Giới, Định và Tuệ làm nền tảng cho sự thực tập thì đó không phải là pháp môn trong Phật giáo.</p>



<p>Ba điểm căn bản thiết yếu như được trình bày ở trên liên hệ mật thiết với nhau: Không biết mục tiêu của Phật giáo là gì thì con người không bao giờ đoạn trừ được gốc rễ khổ đau; không hiểu được những nguyên lý hay giáo lý cơ bản trong Phật giáo thì con người sẽ không thấy giá trị tối thượng của loại trừ tham sân hay vô minh; và cuối cùng là nếu không thực hành Giới, Định, Tuệ thì con người sẽ không bao giờ đạt được giác ngộ, hay hạnh phúc thật sự qua sự đoạn trừ lo âu, sợ hãi, buồn phiền và thất vọng.</p>



<p>Chú thích:</p>



<p>(i) Pháp (S.Dharma, P.Dhamma): Từ “pháp” trong Phật giáo có 3 nghĩa chính: (1) Giáo pháp được thuyết giảng bởi Đức Phật; (2) Chỉ cho tất cả hiện hữu tâm lý, vật lý, hữu hình và vô hình và (3) Chân lý được chứng ngộ bởi Đức Phật, đó là pháp Duyên sinh (S.Pratītyasamutpāda, P.Paṭiccasamuppāda) – hay nói cách khác, đó là Tứ Pháp ấn: Vô thường, Khổ, Vô ngã và Niết-bàn.</p>



<p>(ii) Ngũ uẩn (S.Pãnca-skandha, P.Pãnca khandha) là tập hợp của năm nhóm tạo hành con người và môi trường; nói cách khác, năm uẩn là tập hợp của hiện hữu:</p>



<p>(1) Sắc (Rūpa, form): Sắc thân và môi trường;</p>



<p>(2) Thọ (Vedanā, feelings, sensations): Cảm thọ;</p>



<p>(3) Tưởng (Saññā, conception): Ý tưởng hay khái niệm;</p>



<p>(4) Hành (Saṅkhāra, volition): Ý muốn hay ý chí và (5) Thức (Viññāṇa, consciousness): Tâm hay ý thức.</p>



<p>(iii) Thập nhị nhân duyên (S.Pratītya-samutpāda, P.Paṭicca-samuppāda) hay còn được gọi là 12 Duyên khởi, nói về tương quan sinh khởi của 12 thành phần tạo thành đời sống con người trong ba thời gian quá khứ, hiện tại và vị lai: Nhân Vô minh dẫn đến Hành → Thức → Danh sắc → Lục nhập → Xúc → Thọ → Ái → Thủ → Hữu → Sinh → Lão tử.</p>



<p>(iv) Tứ đế (S.Catvāri ārya-satyāni, P.Cattāri ariya-saccāni, The Four Noble Truths): Bốn chân lý hay sự thật về đời sống con người và cuộc đời:</p>



<p>(1) Khổ (S.Duḥkha, P.Dukkha): Bao gồm kinh nghiệm khổ đau hiển nhiên trong đời sống, như sinh, lão, bệnh, tử, thương nhau mà phải tách lìa, ghét nhau mà phải sống chung, những điều mong cầu không được toại ý, cuối cùng là kinh nghiệm khổ căn bản và sâu sắc nhất: Tham và bám víu mong mình và sở hữu yêu quý của mình được vĩnh cửu.</p>



<p>(2) Nguyên nhân của khổ (S.Duḥkha samudāya, P.Dukkha samudaya): Đó là sự tham ái mong cầu hiện hữu của mình và sở hữu yêu quý của mình.</p>



<p>(3) Sự đoạn tận khổ đau (Dukkha-nirodha-sacca): Ly tham và ý niệm bám víu vào hiện hữu. Niết-bàn trong ý nghĩa căn bản nhất là ly tham và bám víu.</p>



<p>(4) Phương pháp đoạn tận khổ đau (S.Mārga-satya, P.Magga-satya): Thực hành Giới, Định, Tuệ hay Bát chánh đạo:</p>



<p>(4.1) Chánh kiến (S.Samyak-dṛṣṭi, P: Sammā-diṭṭhi, Right views): Nhận thức được cuộc đời là Vô thường, Khổ và Vô ngã.</p>



<p>(4.2) Chánh tư duy (S.Samyak-saṃkalpa; P.Sammā-saṅkappa, Right thoughts): Tư tưởng không bị tham, sân tác động.</p>



<p>(4.3) Chánh ngữ (S.Samyag-vāc, P.Sammā vācā, Right speech): Không nói láo, lời độc ác và xuyên tạc danh dự người khác.</p>



<p>(4.4) Chánh nghiệp (S.Samyak-karmānta; P.Sammā-kammanta, Right conduct): Không giết hại, trộm cắp và tà hạnh.</p>



<p>(4.5) Chánh mạng (S.Samyag-ājīva, P.Sammā-ājīva, Right livelihoods): Không làm những ngành nghề gây nên ác nghiệp, như lò giết mổ súc sinh, chủ sòng bạc, buôn bán thuốc phiện và những chất gây nghiện, v.v.</p>



<p>(4.6) Chánh tinh tấn (S.Samyag-vyāyāma, P.Sammā-vāyama, Right efforts): Siêng năng loại trừ các việc ác và tinh tấn thực hành các việc thiện.</p>



<p>(4.7) Chánh niệm (S.Samyak-smṛti; P.Sammā-sati, Right mindfulness): Tâm luôn quán chiếu rõ ràng những gì xảy ra trong thân, tâm và môi trường.</p>



<p>(4.8) Chánh định (S.Samyak-samādhi, P.Sammā-samādhi, Right concentratrion): Tâm luôn trong định, không bị tán loạn.</p>



<p>Hòa thượng Thích Giác Như/Báo Giác Ngộ</p>
]]></content:encoded>
					
		
		
			</item>
	</channel>
</rss>
